ĐẶT VẤN ĐỀ Kiểm soát chất lượng thuốc lưu hành ngoài thị trường là một nhu cầu cấp thiết vì nó cho phép nâng cao hiệu quả điều trị cho người bệnh đồng thời giảm thiểu hậu quả của việc người bệnh sử dụng thuốc giả, thuốc kém chất lượng. Đặc biệt, với công nghệ ngày càng phát triển, thuốc giả, thuốc kém chất lượng đang là một mối nguy hiểm thường trực ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng cũng như đe dọa đến lợi ích và uy tín của các công ty sản xuất dược phẩm. Phương pháp thường qui được sử dụng đang được sử dụng để kiểm soát chất lượng thuốc như sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC), sắc ký lỏng khối phổ (LC – MS)… cho kết quả với độ chính xác cao. Tuy nhiên các phương pháp trên có nhược điểm tốn nhiều thời gian, dung môi hóa chất và nhân lực.
Để kiểm soát được chất lượng tất cả các thuốc đang lưu hành trên thị trường cũng như kiểm soát được thuốc ở các khâu trong quá trình sản xuất là vấn đề rất khó khăn. Khoảng 10 năm gần đây, các phương pháp quang phổ như quang phổ cận hồng ngoại, phổ Raman, phổ hồng ngoại đo phản xạ toàn phần suy giảm (IR-ATR) đang được khai thác nhiều nhờ khả năng phân tích nhanh, ít phải chuẩn bị mẫu, ít tốn kém và ít nguy hại đến con người cũng như môi trường. Các phương pháp này hiện tại đang được ứng dụng chủ yếu để định tính và bán định lượng các dược chất trong mẫu thuốc hoặc kiểm soát nguyên liệu đầu vào trong sản xuất [3, 4, 5, 6]. Phương pháp quang phổ hồng ngoại với kiểu đo phản xạ toàn phần suy giảm đảm bảo được độ chọn lọc, sự đặc trưng tín hiệu của mẫu phân tích như phổ hồng ngoại với kiểu đo truyền qua, nhưng nhờ cách đo phản xạ, việc chuẩn bị mẫu trở nên đơn giản, gọn nhẹ hơn nhiều so với kiểu đo truyền qua.
Để vừa tận dụng được ưu thế của phương pháp quang phổ này, vừa nâng cao được độ chính xác trong các ứng dụng định lượng, cần phải có những cải thiện về phương pháp chuẩn bị mẫu cũng như trong phương pháp xử lý dữ liệu phân tích. Đề tài luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu xây dựng quy trình định lượng Azithromycin bằng phương pháp quang phổ hồng ngoại với kỹ thuật đo phản xạ toàn phần suy giảm (ATR)” được triển khai nhằm minh chứng cho khả năng áp dụng phương pháp quang phổ hồng ngoại với kỹ thuật đo phản xạ toàn phần suy giảm, so sánh với phương pháp 1 định lượng Azithromycin truyền thống bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC), vừa cho thấy những cải tiến nhằm nâng cao độ chính xác của phương pháp này trong định lượng Azithromycin ở một số chế phẩm viên nén đang lưu hành trên thị trường. Đề tài được thực hiện với các mục tiêu sau: 1. Xây dựng và thẩm định quy trình định lượng Azithromycin bằng phương pháp quang phổ hồng ngoại với kỹ thuật đo phản xạ toàn phần suy giảm (ATR) trên một số nền chế phẩm viên nén.
So sánh kết quả định lượng Azithromycin trong một số chế phẩm viên nén thương mại bằng phương pháp quang phổ hồng ngoại với kỹ thuật đo phản xạ toàn phần suy giảm (ATR) và phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC). Tổng quan về Azithromycin 1. Công thức cấu tạo Công thức cấu tạo của Azithromycin [41] Công thức cấu phân tử: C38H72N2O12. x H2O Tên khoa học: (2R,3S,4R,5R,8R,10R,11R,12S,13S,14R)-13-[(2,6-Dideoxy-3-C- methyl-3-O-methyl- -L-ribo-hexopyranosyl)oxy]-2-ethyl-3,4,10-trihydroxy-3,5,6,8, 10,12,14-heptamethyl-11-[[3,4,6-trideoxy-3-(dimethylamino)-β-D-xylohexopyranosyl ]oxy]-1-oxa-6-azacyclopentadecan-15-one.
Tính chất * Tính chất vật lý: AZI tinh khiết có dạng bột, màu trắng (hoặc trắng ngà), không mùi, vị đắng. AZI không tan trong nước, dễ tan trong dung môi hữu cơ như ethanol, methanol, aceton, diethyl ether, chloroform và dung dịch acid hydrochloric loãng [10]. * Tính chất hóa học: AZI có tính base yếu (pKa khoảng 8,7), tạo muối dễ tan trong nước với các acid vô cơ và hữu cơ, có khả năng tạo phản ứng màu với các acid như HCl, H2SO4 [10]. Dược động học AZI hấp thu nhanh và sinh khả dụng đường uống đạt khoảng 40%, thức ăn làm giảm hấp thu thuốc.
Phân bố: Phân bố rộng khắp cơ thể. Chuyển hóa – thải trừ: Một lượng nhỏ AZI bị khử methyl trong gan, được đào thải qua mật ở dạng không biến đổi và một phần ở dạng chuyển hóa [2]. Cơ chế và tác dụng dược lý AZI tác động bằng cách gắn vào tiểu đơn vị 50S của ribosom và qua đó ức chế sự tổng hợp protein của vi khuẩn. AZI có phổ kháng khuẩn rộng và sau khi uống nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt sau 2-3 giờ.
AZI là một kháng sinh có phổ rộng, có tác dụng tốt trên các vi khuẩn Gram (+) như Streptococcus, Pneumococcus, Staphylococcus aureus, v. và Gram (-) như Haemophilus influenza, Neissria gonorrhoreae, v. Tác dụng không mong muốn AZI được dung nạp tốt, tỷ lệ gặp tác dụng không mong muốn thấp, hay gặp nhất là chứng rối loạn tiêu hóa với các triệu chứng như đau bụng, buồn nôn… Ảnh hưởng tới thính giác: AZI sử dụng liều cao, lâu dài có thể ảnh hưởng giảm sức nghe có phục hồi ở một số người bệnh [2]. Chỉ định AZI được chỉ định trong các trường hợp nhiễm khuẩn như nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới (viêm phổi, viêm phế quản, các nhiễm khuẩn da và mô mềm, viêm tai giữa), nhiễm khuẩn đường hô hấp trên (viêm xoang, viêm họng, viêm amidan), nhiễm khuẩn đường hô hấp trên (viêm xoang, viêm họng, viêm amidan), nhiễm khuẩn đường sinh dục chưa biến chứng do các chủng vi khuẩn nhạy cảm.
Dạng bào chế Viên nang AZI dihydrat tương đương AZI 250 mg và 500 mg. Bột pha hỗn dịch uống AZI dihydrat tương đương 200 mg AZI/ 5 ml, lọ bột đông khô pha tiêm 500 mg. Viên nén và viên nén bao phim tương đương AZI 125 mg, 250 mg, 500 mg [2]. Các phương pháp định lượng Azithromycin 1.
Phương pháp vi sinh vật Khuếch tán trên đĩa thạch, nuôi cấy và chế tạo nhũ dịch, đo đường kính vòng vô khuẩn. Có thể định lượng dùng chủng vi khuẩn sau [8, 36]: - Bacillus pumilus CMCC (B) 63202 - Bacillus pumilus NCTC 8241 - Micrococcus luteus ATCC 9341 1. Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao với detector điện hóa Định lượng theo chương trình sau [40]: - Cột L29 (5mm x 4,6cm x 5µm). - Tốc độ dòng: 1,5 ml/ phút.
- Thể tích tiêm: 50 µl. - Pha động: 5,8g kalidihydrophosphat trong 2130 ml nước và 870 ml acetonitril. Dùng khoảng 6 ml dung dịch kali hydroxyd 10N điều chỉnh đến pH 11,0 ± 0,1. Lọc qua giấy lọc có kích thước lỗ 0,5 µm.
- Pha dung dịch chuẩn và dung dịch thử ở nồng độ 0,0033 mg/ml trong pha động. Lọc qua giấy lọc có kích thước lỗ 0,5 µm. Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao với detector UV Bảng 1. Điều kiện sắc ký lỏng hiệu năng cao định lượng Azithromycin TLTK [18] [6] [41] Cột: Octadecylsilyl vinyl Cột Inertsil ODS-3 (150 Cột C18 (250 x 4,6 mm x polymer (250 x 4,6 mm x 5 x 4,6 mm x 5 µm) 5 µm) Điều µm), nhiệt độ 40°C kiện sắc Detector UV 215 nm Detector UV: 215 nm Detector UV: 210 nm ký Tốc độ dòng: 1,0 ml/phút Tốc độ dòng: 1,0 ml/phút Tốc độ dòng: 2,0 ml/phút Thể tích tiêm mẫu: 10 µl Thể tích tiêm mẫu: 20 µl Thể tích tiêm: 100 µl 5 TLTK [18] [6] [41] Pha động: Acetonitril - Pha động: Đệm Pha động: Acetonitril – dung dịch dikalihydro phosphate – acetonitril – Đệm (65:35).
Đệm: hòa phosphat 6,7 g/l điều chỉnh methanol (35:45:20), tan 4,6g kali phosphat tới pH 11,0 bằng kali điều chỉnh pH=8 bằng trong 900 ml nước, điều hydroxid (60 : 40) amoniac hay acid chỉnh pH=7,5 bằng natri phosphoric. Điều chỉnh hydroxyd và pha loãng với tỷ lệ nếu cần nước tới thể tích 1L Nồng Dung dịch thử và dung Dung dịch chuẩn và dung Dung dịch chuẩn và dung độ làm dịch chuẩn được pha ở dịch thử được pha ở nồng dịch thử được pha ở nồng việc nồng độ 1 mg/ml trong hỗn độ 2 mg/ml bằng pha độ 1 mg/ml bằng pha hợp dung môi acetonitril – động. Lắc đều và lọc qua động. Lắc đều và lọc qua dung dịch dikalihydro màng lọc 0,5 µm màng lọc 0,45 µm phosphat 6,7 g/l điều chỉnh tới pH 11,0 bằng acid phosphoric (40:60) Định lượng Azithromycin bằng các phương pháp thường qui như sắc ký lỏng hiệu năng cao đều phải sử dụng dung môi hữu cơ như acetonitril gây độc hại cho con người và môi trường, tốn nhiều thời gian chuẩn bị mẫu chuẩn và mẫu thử.
Quang phổ hồng ngoại và khả năng ứng dụng trong phân tích thuốc 1. Nguyên lý của phổ quang phổ hồng ngoại Phổ hồng ngoại (Infrared – IR) là phổ dao động phân tử, trong phân tích nó được chia thành ba vùng, hồng ngoại gần (Near-Infrared - NIR), hồng ngoại giữa (Mid- Intrared - MIR) và hồng ngoại xa (Far-Infrared – FIR). Trong đó, phổ hồng ngoại giữa là được sử dụng nhiều nhất, nhắc đến phổ hồng ngoại thường người ta sẽ nghĩ đến phổ hồng ngoại giữa, tiếp đến là hồng ngoại gần mới được phát triển khoảng cuối thế kỉ XX, vùng hồng ngoại xa ít được ứng dụng trong phân tích [4]. Trong phân tử, các liên kết và các nhóm chức có các kiểu dao động như sau: 6 - Dao động duỗi: Dao động duỗi làm thay đổi khoảng cách giữa các nguyên tử trong phân tử.
Gồm dao động duỗi đối xứng và không đối xứng (Hình 3. Dao động này còn được gọi là dao động hóa trị. Mô hình các kiểu dao động hóa trị của phân tử - Dao động uốn: Dao động uốn làm thay đổi góc liên kết giữa các nguyên tử trong phân tử. Có dao động uốn trong mặt phẳng và ngoài mặt phẳng (Hình 1.
Trong phân tử, dao động của các nguyên tử cũng tồn tại ở các trạng thái khác nhau, được xếp theo bậc dựa vào các mức năng lượng của chúng. Ở điều kiện thường, chúng dao động ở trạng thái cơ bản (bậc 0) và càng lên bậc cao, năng lượng dao động của phân tử càng lớn. Khi hai nguyên tử có khối lượng lần lượt m1 và m2 thì tần số dao động của liên kết được xác định bởi công thức: 7 Trong đó: k là hệ số đàn hồi của liên kết và m được xác định từ m1 và m2 theo công thức. Mô hình các kiểu dao động uốn của phân tử Năng lượng dao động thực tế của phân tử được ngoại suy từ phép tính gần đúng của phương trình Schrodinger, còn được gọi là phương trình thế năng Morse.