MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong những năm qua, kinh tế nước ta đã có nhiều khởi sắc. Các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ ở các đô thị; các KCN ngày càng được mở rộng và phát triển đã thúc đẩy quá trình tăng trưởng về các mặt KT-XH, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, đời sống người dân ngày một nâng cao. Tăng trưởng KT-XH một mặt góp phần tích cực cho sự phát triển của đất nước, mặt khác đã làm phát sinh lượng CTR ngày càng lớn (CTR sinh hoạt, CTR công nghiệp, CTR y tế.
Theo nghiên cứu của Dương Xuân Diệp [32], mỗi năm, ở nước ta thải ra khoảng 28 triệu tấn CTR thông thường, trong đó CTRCN là 6,88 triệu tấn, CTRSH ≈ 19 triệu tấn, CTR y tế ≈ 2,12 triệu tấn. Khối lượng CTR ngày càng gia tăng theo tốc độ gia tăng dân số và phát triển kinh tế xã hội. Dự kiến, đến năm 2015, tổng lượng CTR phát sinh lên đến 44 triệu tấn [113]. Trừ các đô thị lớn, CTR chưa được thu gom và xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường.
Việc thải bỏ một cách bừa bãi và quản lý không hiệu quả CTR đã và đang gây ra ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ người dân, nhiều ngành kinh tế và gây ra các vấn đề xã hội. Hàng năm, trên địa bàn nông thôn đã phát sinh hàng ngàn tấn CTR từ sinh hoạt, sản xuất (nông nghiệp, công nghiệp, làng nghề), y tế, dịch vụ… nhưng chưa được quản lý chặt chẽ; việc thu gom và xử lý CTR chưa đáp ứng được yêu cầu. Rất nhiều nơi, CTR thải trực tiếp xuống ao hồ, sông ngòi và các khu đất trống hoặc xử lý đơn giản không bảo đảm điều kiện vệ sinh, làm cho chất lượng môi trường ngày càng giảm, nguồn nước mặt ngày càng bị ô nhiễm, ảnh hưởng đến đời sống, sức khoẻ của người dân. Công tác QLCTR còn nhiều yếu kém: việc lựa chọn các bãi chôn lấp, khu trung chuyển, thu gom chưa đủ căn cứ khoa học và thực tiễn, công nghệ xử lý chất thải chưa đảm bảo kỹ thuật… nên chưa thu hút sự ủng hộ của người dân địa phương.
Để hạn chế ô nhiễm môi trường, giảm chi phí thải bỏ, cần phải quản lý một cách chặt chẽ, hợp lý các CTR từ nguồn phát sinh đến nơi thải bỏ cuối cùng. Triển khai thực hiện Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Thủ tướng chính phủ về QLCTR, giải quyết các vấn đề bức xúc do CTR gây ra, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 2149/2009/QĐ-TTg ngày 17/12/2009 ban hành Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR. Theo đó, đến năm 2025, 100% các đô thị có công trình tái chế chất thải rắn thực hiện phân loại tại hộ gia đình; 100% tổng lượng CTRSH đô thị, 100% tổng lượng CTRCN không nguy hại và nguy hại, 90% tổng lượng CTR xây dựng đô thị và 90% lượng CTR phát sinh tại các điểm dân cư nông thôn và 100% tại các làng nghề được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường. Thủ tướng cũng yêu cầu các cơ quan chức năng, địa phương nhanh chóng xây dựng quy hoạch QLCTR của địa phương mình, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn về chất thải rắn và khuyến khích 100% xã hội hóa công tác quản lý, xử lý CTR bằng nhiều hình thức.
Cho đến nay, nhiều tỉnh thành trong cả nước đã ban hành quyết định phê duyệt quy hoạch QLCTR, định hướng cho công tác QLCTR, bảo vệ môi trường theo hướng phát triển bền vững. Ở cấp huyện, quy hoạch quản lý CTR không chỉ nhằm định hướng x giải quyết các vấn đề cấp bách về môi trường nông thôn, hạn chế phát sinh chất thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường mà còn ngăn ngừa các tác động tiêu cực đến kinh tế - xã hội góp phần phát triển bền vững các vùng nông thôn. Tuy nhiên, ở quy mô cấp huyện, việc quy hoạch QLCTR đang còn bỏ ngỏ, chưa được đi sâu nghiên cứu và triển khai thực hiện. Vì vậy, việc xây dựng các luận cứ khoa học phục vụ quy hoạch QLCTR cấp huyện là một trong những yêu cầu cấp thiết đối với công tác QLCTR, góp phần tháo gỡ những khó khăn bất cập và bị động trong việc thực thi Chiến lược Quốc gia về quản lý tổng hợp CTR.
Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết của thực tiễn, đề tài nghiên cứu của luận án được chọn là:“Nghiên cứu xây dựng quy hoạch quản lý chất thải rắn ở quy mô cấp huyện, áp dụng cho huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng đến năm 2025” 2. Mục tiêu của đề tài - Nghiên cứu xây dựng cơ sở khoa học, đề xuất giải pháp quy hoạch quản lý CTR cho lãnh thổ cấp huyện ở nông thôn Việt Nam theo hướng quản lý tổng hợp CTR, phát triển bền vững. - Áp dụng đề xuất quy hoạch quản lý CTR cho huyện Thủy Nguyên - tp Hải Phòng sát với điều kiện thực tiễn của Huyện, có tính khả thi, góp phần thực thi Chiến lược Quốc gia về quản lý tổng hợp CTR theo Quyết định 2149/2009/QĐ-TTg ngày 17/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn Huyện. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Các thành phần của hệ thống quản lý chất thải rắn và các huyện nông thôn Việt Nam, cụ thể là huyện Thuỷ Nguyên - thành phố Hải Phòng.
- Phạm vi nghiên cứu: Các loại CTR phát sinh trên địa bàn huyện nông thôn Việt Nam: CTR sinh hoạt, CTR nông nghiệp, CTR làng nghề, CTR công nghiệp và CTR y tế; có xem xét đến tính liên vùng trong QLCTR. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Ý nghĩa khoa học: Cung cấp cơ sở lý luận, phương pháp khoa học, hệ thống các tiêu chí quy hoạch QLCTR ở quy mô cấp huyện nông thôn Việt Nam; thiết lập các tiêu chí cho từng bước lựa chọn các giải pháp quy hoạch phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương. - Ý nghĩa thực tiễn: Áp dụng các giải pháp quản lý tổng hợp bao gồm các công cụ quản lý, các giải pháp kỹ thuật then chốt để xây dựng hệ thống các tiêu chí quy hoạch QLCTR quy mô cấp huyện; xây dựng quy hoạch QLCTR phù hợp với điều kiện cụ thể của huyện Thuỷ Nguyên - thành phố Hải Phòng. Từ đó, có thể áp dụng mô hình đề xuất vào quy hoạch quản lý chất thải rắn cho các huyện nông thôn khác ở Việt Nam.
Những đóng góp mới của luận án 1. Hoàn thiện cơ sở khoa học quy hoạch quản lý CTR ở quy mô cấp huyện trong điều kiện thực tiễn ở Việt Nam. + Làm rõ hơn các căn cứ pháp lý cho việc lập quy hoạch quản lý CTR; + Xây dựng các luận cứ phục vụ quy hoạch quản lý CTR quy mô cấp huyện có tính ứng dụng cao. 2 + Đề xuất quy trình và nội dung cơ bản của quy hoạch QLCTR cấp huyện.
Đã đề xuất giải pháp quy hoạch quản lý CTR cho nhóm lãnh thổ cấp huyện ở nông thôn Việt Nam. Áp dụng mô hình giải pháp quy hoạch quản lý CTR cho huyện Thuỷ Nguyên - thành phố Hải Phòng dựa trên các cơ sở áp dụng kết quả nghiên cứu của Luận án. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN 1. Một số khái niệm cơ bản Quản lý chất thải rắn (QLCTR) là sự kết hợp kiểm soát nguồn thải, phát sinh, giảm thiểu, thu gom, lưu giữ, phân loại, trung chuyển, vận chuyển, xử lý, tái chế, tiêu huỷ và thải bỏ CTR theo phương thức tốt nhất nhằm đảm bảo không ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, thỏa mãn các yếu tố về kinh tế, kỹ thuật, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn cảnh quan đô thị và hạn chế tất cả các vấn đề môi trường liên quan [3].
Phương pháp QLCTR phải tuân theo các nguyên tắc hợp lý, giải quyết tốt nhất các vấn đề kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, thẩm mỹ, phản ứng cộng đồng và các vấn đề liên quan. QLCTR bao gồm tất cả các vấn đề về hành chính, tài chính, pháp luật, kinh tế - xã hội (KT-XH), y tế, chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, quy hoạch xây dựng và khoa học kỹ thuật (KHKT), công nghệ để giải quyết tất cả các vấn đề liên quan đến CTR. Hoạt động QLCTR gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở QLCTR, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng và tái chế, xử lý CTR nhằm ngăn ngừa giảm thiểu những tác động có hại với môi trường và sức khoẻ con người. Mục đích của QLCTR là bảo vệ sức khoẻ của cộng đồng, bảo vệ môi trường, sử dụng tối đa vật liệu, tiết kiệm tài nguyên và năng lượng; tái chế và sử dụng tối đa chất thải hữu cơ, giảm thiểu CTR.
Thu gom CTR là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời CTR tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý. Lưu giữ CTR: là việc lưu giữ CTR trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý. Vận chuyển CTR là quá trình chuyên chở CTR từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng. Xử lý CTR là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu huỷ các thành phần có hại hoặc không có ích trong CTR, thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong CTR.
Chôn lấp CTR hợp vệ sinh là hoạt động chôn lấp phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp CTR hợp vệ sinh. Khu liên hợp xử lý CTR là tổ hợp của một hoặc nhiều hạng mục công trình xử lý, tái chế, tái sử dụng CTR và bãi chôn lấp CTR. Quy hoạch QLCTR là quy hoạch chuyên ngành xây dựng, bao gồm các hoạt động điều tra, khảo sát, dự báo chi tiết nguồn và tổng lượng phát thải các loại CTR thông thường và nguy hại; xác định vị trí, quy mô các trạm trung chuyển, phạm vi thu gom, vận chuyển; xác định vị trí, quy mô cơ sở xử lý CTR trên cơ sở đề xuất công nghệ xử lý thích hợp, xây dựng kế hoạch và nguồn lực nhằm thu gom và xử lý triệt để CTR. Quy hoạch QLCTR bao gồm quy hoạch vùng liên tỉnh, vùng tỉnh… được lập cho giai đoạn 10 năm, 20 năm hoặc dài hơn tuỳ theo giai đoạn lập quy hoạch xây dựng [27].