ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, nó giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển và sinh tồn của loài ngƣời, là nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú, rừng điều hoà khí hậu, cân bằng hệ sinh thái, bảo vệ môi trƣờng sống, rừng còn là nhà máy lọc khổng lồ. Ngoài giá trị về kinh tế, môi trƣờng, rừng còn có ý nghĩa quan trọng về cảnh quan thiên nhiên, du lịch văn hoá , danh lam thắng cảnh, an ninh quốc phòng. Mỗi năm có hàng triệu ha rừng bị tàn phá nghiêm trọng, nhiều loài động thực vật quý hiếm đang ngày càng cạn kiệt. RĐD là loại rừng đƣợc thành lập với mục đích chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh phục vụ nghỉ ngơi du lịch kết hợp với phòng hộ bảo vệ môi trƣờng sinh thái.
Hiện nay, vai trò của rừng nói riêng hay ngành Lâm nghiệp nói chung không những đƣợc đánh giá ở khía cạnh kinh tế thông qua những sản phẩm trƣớc mắt thu đƣợc từ rừng mà còn tính đến những lợi ích to lớn về xã hội, môi trƣờng mà rừng và nghề rừng mang lại. Sự tác động đến rừng và đất rừng không chỉ ảnh hƣởng trực tiếp đến nghề rừng và sự phát triển KTXH tại khu vực có rừng mà còn tác động nhiều mặt đến các khu vực phụ cận cũng nhƣ nhiều ngành sản xuất khác. Do vậy, để sử dụng tài nguyên rừng một cách bền vững và lâu dài, việc xây dựng và tổ chức thực hiện phƣơng án quy hoạch hợp lý là yêu cầu cấp thiết đối với các nhà quản lý. Khu RQG Yên Tử có tổng diện tích tự nhiên là 2.783,0 ha, thuộc địa phận xã Thƣợng Yên Công, phƣờng Phƣơng Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, cách thành phố Hạ Long 40 km, cách thủ đô Hà Nội 150 km.
Bảy trăm năm về trƣớc, Hoàng Đế Trần Nhân Tông đã chọn nơi đây để tu hành, khai sinh ra dòng thiền Việt Nam. Ngày nay, Yên Tử nổi tiếng cả nƣớc bởi nơi đây còn lƣu lại nhiều dấu tích của mọi nền văn hóa Phật giáo Việt c 2 Nam “Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử”. Đến Yên Tử, miền địa linh của Tổ Quốc, du khách sẽ đƣợc chiêm ngƣỡng và thƣởng ngoạn một cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ tuyệt vời, với đỉnh cao nhất là đỉnh Yên Tử (1068 m) cùng hệ thống thác nƣớc, sông suối, chùa chiền, am tháp. Yên Tử đã thu hút hàng triệu lƣợt du khách từ trong nƣớc đến ngoài nƣớc, đến thăm viếng, tham quan, học tập và nghiên cứu khoa học.
Để bảo vệ, phục hồi và phát triển tài nguyên rừng và cảnh quan thiên nhiên ổn định và bền vững, gắn liền với khu Di tích Quốc gia Yên Tử, việc Thủ tƣớng Chính phủ cho phép chuyển hạng khu rừng đặc dụng Yên Tử, thành phố Uông Bí thành Rừng quốc gia Yên tử là cần thiết và quan trọng nhằm: bảo vệ các giá trị cảnh quan môi trƣờng có giá trị thẩm mỹ đặc biệt: bảo vệ, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học và môi trƣờng. Đặc biệt là bảo vệ, tôn tạo các di tích lịch sử văn hoá có giá trị cấp quốc gia và quốc tế; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho phục vụ lễ hội truyền thống, thăm quan du lịch tạo thêm việc làm và giải quyết sinh kế cho ngƣời dân đồng thời thúc đẩy phát triển KTXH của thành phố là hết sức cần thiết. Xuất phát từ nhận thức và thực tiễn trên, với mục tiêu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, áp dụng những kiến thức đã đƣợc học vào thực tiễn, góp phần bảo vệ và phát huy giá trị của khu Rừng quốc gia Yên tử, tôi thực hiện đề tài: : "Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch giai đoạn 2013- 2016, đề xuất kế hoạch giai đoạn 2017 - 2020 và định hƣớng phát triển tới năm 2030 Rừng quốc gia Yên tử, tỉnh Quảng ninh" c 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1.
Quy hoạch lâm nghiệp Sự phát triển của QHLN gắn liền với sự phát triển kinh tế Tƣ bản chủ nghĩa. Do công nghiệp và giao thông vận tải phát triển, nên nhu cầu khối lƣợng gỗ ngày càng tăng. Sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa phƣơng của chế độ phong kiến và bƣớc vào thời đại kinh tế hàng hoá TBCN. Thực tế sản xuất lâm nghiệp đã không còn bó hẹp trong việc sản xuất gỗ đơn thuần mà cần phải có ngay những lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo thu hoạch lợi nhuận lâu dài cho các chủ rừng.
Chính hệ thống hoàn chỉnh về lý luận quy hoạch lâm nghiệp đã đƣợc hình thành trong hoàn cảnh nhƣ vậy. Đầu thế kỷ 18, phạm vi quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ giải quyết việc “ Khoanh khu chặt luân chuyển” , có nghĩa đem trữ lƣợng hoặc diện tích tài nguyên rừng chia đều cho từng năm của chu kỳ khai thác và tiến hành khoanh khu chặt luân chuyển theo trữ lƣợng hoặc diện tích. Phƣơng thức này phục vụ cho phƣơng thức kinh doanh rừng chồi, chu kỳ khai thác ngắn. Sau cách mạng công nghiệp, vào thế kỷ 19 phƣơng thức kinh doanh rừng chồi đƣợc thay bằng phƣơng thức kinh doanh rừng hạt với chu kỳ khai thác dài.
Và phƣơng thức “ Khoanh khu chặt luân chuyển” nhƣờng chỗ cho phƣơng thức “ Chia đều” của Hartig. Hartig đã chia đều chu kỳ khai thác thành nhiều thời kỳ lợi dụng và trên cơ sở đó khống chế lƣợng chặt hàng năm. Đến năm 1816, xuất hiện phƣơng thức luân kỳ lợi dụng của H. Cotta, Cotta chia chu kỳ khai thác thành 20 thời kỳ lợi dụng và cũng lấy đó để khống chế lƣợng chặt hàng năm.
Sau đó phƣơng pháp “ Bình quân thu hoạch’’ ra đời, quan điểm phƣơng pháp này là giữ đều mức thu hoạch trong chu kỳ khai thác hiện tại, đồng thời c 4 vẫn đảm bảo thu hoạch đƣợc liên tục trong chu kỳ sau. Và đến cuối thế kỷ 19, xuất hiện phƣơng pháp “ Lâm phần kinh tế” của Judeich. Phƣơng pháp này khác với phƣơng pháp “ Bình quân thu hoạch” về căn bản, Judeich cho rằng những lâm phần nào đảm bảo thu hoạch đƣợc nhiều tiền nhất sẽ đƣợc đƣac vào diện khai thác. Hai phƣơng pháp “ Bình quân thu hoạch” và “ Lâm phần kinh tế” chính là tiền đề của hai phƣơng pháp tổ chức kinh doanh và tổ chức rừng khác nhau.
Phƣơng pháp “ Bình quân thu hoạch” và sau này là phƣơng pháp “ Cấp tuổi” chịu ảnh hƣởng của “ Lý luận rừng tiêu chuẩn”, có nghĩa là rừng phải có kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng nhƣ về diện tích, trữ lƣợng, vị trí và đƣa các cấp tuổi cao vào diện tích khai thác. Hiện nay, phƣơng pháp kinh doanh rừng này đƣợc dùng phổ biến ở các nƣớc có tài nguyên rừng phong phú. Còn phƣơng pháp “ Lâm phần kinh tế” và hiện nay là phƣơng pháp “ Lâm phần” không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần tiến hành phân tích, xác định sản lƣợng và biện pháp kinh doanh. Cũng từ phƣơng pháp này, còn phát triển thành “ phƣơng pháp kinh doanh lô ” và “ phƣơng pháp kiểm tra” 1.
Ở Việt Nam QHLN là tiến hành phân chia, sắp xếp hợp lý về mặt không gian tài nguyên rừng và bố trí cân đối các hạng mục sản xuất kinh doanh theo các cấp quản lý lãnh thổ và các cấp quản lý sản xuất khác nhau làm cơ sở cho việc lập kế hoạch cho sản xuất kinh doanh lâm nghiệp đáp ứng nhu cầu lâm sản cho nền kinh tế quốc dân, cho kinh tế địa phƣơng, đồng thời phát huy những tác dụng có lợi khác của rừng. Theo Chiến lƣợc Phát triển Lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006 -2020 một trong những tồn tại mà Bộ Nông nghiệp & PTNT đánh giá là: “Công tác quy hoạch nhất là quy hoạch dài hạn còn yếu và chậm đổi mới chƣa kết hợp c 5 chặt chẽ với quy hoạch của các ngành khác, còn mang nặng tính bao cấp và thiếu tính khả thi. Chƣa quy hoạch 3 loại rừng hợp lý và chƣa thiết lập đƣợc lâm phần ổn định trên thực địa’’[13 ]. Đây cũng là nhiệm vụ nặng nề và cấp bách đối với ngành lâm nghiệp của nƣớc ta hiện nay.
Năm 1997, ngành Lâm nghiệp thực hiện tổng kiểm kê toàn quốc theo chỉ thị 286/TTg ngày 02/05/1997 của Thủ tƣớng chính phủ nhằm chuẩn bị thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và phát triển kinh tế lâm nghiệp, nhiều địa phƣơng đã tiến hành lập dự án quy hoạch lâm nghiệp, kể từ đó công tác QHLN đƣợc các địa phƣơng hết sức quan tâm. Tính đặc thù của quy hoạch lâm nghiệp - Địa bàn QHLN rất đa dạng, phức tạp ( bao gồm cả vùng ven biển, trung du, núi cao và biên giới, hải đảo), thƣờng có địa hình cao, dốc, chia cắt phức tạp, giao thông đi lại khó khăn và có nhiều ngành kinh tế hoạt động. - Là địa bàn cƣ trú của đồng bào các dân tộc ít ngƣời, trình độ dân trí còn hạn chế, kinh tế xã hội chậm phát triển, đời sống vật chất và tinh thần còn gặp nhiều khó khăn. Đối tƣợng của công tác QHLN là rừng và đất lâm nghiệp, từ bao đời nay là “ của chung” của đồng bào các dân tộc, nhƣng thực chất là vô chủ.
- Cây lâm nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài ( ngắn 8 - 10 năm, dài 40 - 100 năm). Ngƣời dân chỉ tự giác bỏ vốn tham gia trồng rừng nếu biết chắc chắn sẽ có lợi. - Mục tiêu của QHLN cũng rất đa dạng: Quy hoạch rừng phòng hộ ( phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng hộ môi trƣờng); Quy hoạch rừng đặc dụng ( các vƣờn Quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu di tích văn hoá – lịch sử - danh thắng) và quy hoạch phát triển các loại rừng sản xuất. c 6 - Quy mô của công tác QHLN bao gồm cả tầm vĩ mô và vi mô: Quy hoạch toàn quốc, từng vùng lãnh thổ, từng tỉnh, huyện, xí nghiệp, lâm trƣờng, quy hoạch phát triển lâm nghiệp xã và làng lâm nghiệp.
- Lực lƣợng tham gia làm công tác quy hoạch lâm nghiệp thƣờng luôn phải lƣu động, điều kiện sinh hoạt khó khăn, cơ sở vật chất thiếu thốn về mọi mặt.