CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN TRỊ TINH GỌN 1. Nghiên cứu về hiệu quả áp dụng QTTG Các nghiên cứu về kết quả thực tiễn áp dụng QTTG trên thế giới và trong nước đã chỉ ra QTTG mang lại nhiều hiệu quả cho DN và có thể tổng hợp thành 7 nhóm hiệu quả chính như sau: 1. QTTG giúp cắt giảm lãng phí Theo Taiichi Ohno., (1988) áp dụng QTTG giúp DN nhận diện lãng phí và từ đó đưa ra các giải pháp, công cụ nhằm cắt giảm lãnh phí đó. Lãng phí được phân thành 7 loại: lãng phí về SX dư thừa, lãng phí chờ đợi, lãng phí vận chuyển, lãng phí xử lý, lãng phí lưu kho, lãng phí di động tác, lãng phí hàng hỏng., (2002) định nghĩa lãng phí là toàn bộ những gì làm tăng chi phí SX mà không tăng thêm giá trị gia tăng.
Tác giả cũng chứng minh áp dụng QTTG giúp nhận diện lãng phí, và phân lãng phí thành bảy loại tương tự Taiichi Ohno và khẳng định áp dụng QTTG giúp DN cắt giảm lãng phí không cần thiết này. MacDuffie et al., (1996), McKone et al., (2001) cho rằng áp dụng QTTG thông qua việc nhận diện các lãng phí và đưa ra các công cụ để cắt giảm những lãng phí đó. Các nghiên cứu này tập trung vào các loại lãng phí cơ bản về hàng tồn kho, lãng phí vận chuyển và lãng phí do SX dư thừa thông qua các công cụ như Just - In - Time hay hệ thống Kanban., (2004) bằng việc thực hiện QTTG sẽ làm giảm thời gian từ khi nhận đơn hàng đến khi giao hàng bằng cách cắt giảm lãng phí liên quan đến SXKD. Ông cũng định nghĩa lãng phí bao gồm 7 như định nghĩa lãng phí của lý thuyết QTTG của Taiichi Ohno.
Ngoài ra sau khi tìm hiểu hệ thống của Toyota ông đề xuất thêm lãng phí thứ tám: Khai thác không triệt để sức sáng tạo của người lao động. 7 Rahani AR, Muhammad al-Ashraf (2012) nghiên cứu phân tích trường hợp của sản phẩm Front DISC D54T của 1 DN thuộc dự án Hợp tác về SX ô tô giữa Malaysia và Nhật Bản (MAJAICO) khi áp dụng QTTG. Nhóm tác giả đã chỉ ra nhưng lãng phí tồn tại trong DN và đưa ra những công cụ QTTG có thể áp dụng để cắt giảm các lãng phí đó. Ma Ga (Mark) Yang, Paul Hong, Sachin B.
Modi (2011) trong nghiên cứu khảo sát 309 mẫu huộc nhiều lĩnh vực SX khác nhau đã kết luận rằng QTTG giúp cải thiện việc thực hành quản lý môi trường thông qua việc cắt giảm lãng phí từ các hoạt động SXKD. Nguyễn Thị Đông (2014) nghiên cứu điều tra khảo sát 39 tổ chức khác nhau trên địa bàn Hà Nội đã nhận dạng được 7 loại lãng phí cơ bản có sự khác nhau đôi chút với khái niệm lãng phí trong QTTG của Toyota. Đó là lãng phí về lao động, lãng phí về cơ sở vật chất và trang thiết bị, lãng phí về thời gian, lãng phí về SX dư thừa và dư thừa các yếu tố đầu vào, lãng phí về tạo ra lỗi, lãng phí hoạt động, lãng phí về vận chuyển. QTTG giúp giảm thiểu sai sót về lỗi Lỗi theo Taiichi Ohno (1988) đó là việc sửa sai hay gia công lại bởi vì nó không được làm đúng trong lần đầu tiên.
Theo hệ thống SX của Toyota, trong mô hình ngôi nhà TPS của ông có hai trụ cột đó là J-I-T và Jidoka. Jidoka là phương pháp giảm thiểu lỗi sai trong SX bằng việc tự đặt ra các quy trình kiểm tra để không để phế phẩm hay sản phẩm lỗi có thể qua giai đoạn tiếp theo. Galsworth (1997) trong nghiên cứu của mình chỉ ra rằng QTTG giúp hiển thị thông tin tín hiệu trực quan hóa, sử dụng các thiết bị kiểm soát trực quan để chống sai lỗi trong SX. 8 Koskela (1992), Grief (1991) ủng hộ quan điểm của Galsworth cho rằng QTTG có thể được sử dụng như một công cụ giúp giảm sản phẩm lỗi bằng việc tăng hiển thị các lỗi thông qua trực quan hóa.
Các tác giả Cua (2001), Holweg (2007), Tezel (2009) cho rằng sử dụng một số các công cụ của QTTG có thể làm giảm lỗi trong quá trình SX của sản phẩm như: Đèn tín hiệu bảng biểu. QTTG giúp giảm giá thành sản phẩm QTTG giúp nhận diện và cắt giảm lãng phí và sai sót trong SX chính là một phần đóng góp làm giảm chi phí giá thành SX của DN. Trong nghiên cứu của Salah (2013) nhằm xem hệ thống QTTG linh hoạt và đề xuất đây như là một phương pháp để cắt giảm chi phí trong SX. Để áp dụng kỹ thuật QTTG linh hoạt, DN cần có chiến lược cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn.
Trong ngắn hạn, DN cần đánh giá hiện trạng của hệ thống SX hiện hành đối với hệ thống QTTG linh hoạt, tiếp theo là xây dựng kế hoạch thay đổi hệ thống SX sang QTTG linh hoạt và áp dụng phương pháp 5S cho toàn bộ chuỗi giá trị của DN. Trong dài hạn, kế hoạch thay đổi ở trên sẽ được thực hiện toàn bộ trên toàn DN. Thông qua việc áp dụng QTTG linh hoạt đặc biệt là 5S sẽ làm cân bằng và cắt giảm chi phí SX trong DN. QTTG giúp nâng cao chất lượng sản phẩm Salah (2003) cho rằng việc áp dụng QTTG linh hoạt giúp DN cân bằng và dần cắt giảm được chi phí SX định mức mà không làm ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm.
Anand (2011) bằng việc sử dụng phương pháp mô phỏng để để thể hiện chuỗi giá trị của một trường hợp nghiên cứu, từ đó nêu bật được lợi ích của việc áp dụng các công cụ, phương pháp của SXTG. Nghiên cứu khẳng định rằng tại DN này, chỉ có một số công cụ phương pháp như cân bằng dòng sản phẩm, cải tiến quá trình, 5S,. được áp dụng và các công cụ, phương pháp này 9 có tác động tích cực đến việc cắt giảm chi phí và nâng cao chất lượng sản phẩm của DN. Standards và Davis (1999), Cua (2001), Holweg (2007), MacDuffie (1995) trong nghiên cứu của mình cũng ủng hộ quan điểm QTTG giúp cải thiện mạnh mẽ chất lượng sản phẩm.
(1997) trong nghiên cứu về các nhà máy SX tại Mỹ cho rằng QTTG nhằm tăng lợi nhuận thông qua việc cắt giảm chi phí SX nhưng vẫn giữ nguyên chất lượng sản phẩm thậm chí cải tiến tăng chất lượng sản phẩm. QTTG giúp nâng cao năng suất lao động Theo một nghiên cứu của Engineering Employers’s Federation (EEF) của Anh tiến hành năm 2001 trên 352 công ty ở Anh và Mỹ chỉ ra hơn 70% Công ty cho rằng QTTG có tác dụng cải thiện hiệu quả KD thông qua các khía cạnh năng suất và hiệu quả lao động, và giảm chi phí SX. Theo Sheehan (2002), 60% DN hoạt động trong lĩnh vực dược phẩm và thiết bị y tế được điều tra tại Ireland cho rằng lợi ích của QTTG nhằm cắt giảm chi phí SX, nâng cao năng suất lao động. Lợi ích của QTTG nhằm tăng năng suất lao động được chỉ ra ở rất nhiều nghiên cứu trên thế giới.
Điều này cũng được một lần nữa nhấn mạnh trong Womack và Jones (1990), việc áp dụng dòng công việc liên tục với hệ thống “pull” theo yêu cầu của khách hàng sẽ tăng gấp đôi năng suất lao động của cả hệ thống. Standard và Davis (1999) cũng cho rằng áp dụng QTTG sẽ tăng năng suất lao động của doanh nghiệp. Liker (2003) khi nghiên cứu về TPS-Toyota Production System cũng cho rằng khi DN chuyển sang sử dụng mô hình TPS, họ có thể cải thiện hiệu quả lao động 100%. QTTG giúp DN nâng cao lợi thế cạnh tranh Salah A.
Elmoselhy (2013) cho rằng việc áp dụng QTTG trong SXKD sẽ làm tăng 30% lợi thế cạnh tranh của DN.Lewis (2000) cho rằng SXTG góp phần nâng cao lợi thế cạnh tranh bền vững của DN. Nitin Upadhye và cộng sự (2010) bằng việc nghiên cứu chuỗi giá trị hiện tại, áp dụng QTTG xác định các loại lãng phí và áp dụng các công cụ thích hợp để cải tiến, DN sẽ nâng cao được năng lực cạnh tranh của mình. Các tác giả như Anand Gurumurthy (2011), Nguyễn Đăng Minh (2013)…cũng ủng hộ của quan điểm của các tác giả nghiên cứu trước áp dụng QTTG giúp DN nâng cao lợi thế cạnh tranh. QTTG giúp DN phát triển bền vững Michael A.Lewis (2000) trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa việc áp dụng QTTG trong SX và phát triển bền vững trong 3 nhà máy tại Anh.
Tác giả đã kết luận rằng QTTG có thể giúp DN phát triển bền vững. Cũng ủng hộ quản điểm này Herron và Hicks (2008) trong nghiên cứu mô hình chuyển giao QTTG tại Anh và Martinez Jurado (2013) trong các nghiên cứu cứu tổng hợp về mối quan hệ của QTTG với phát triển bền vững và hoạt động của chuỗi cung ứng tới phát triển bền vững đều cho rằng QTTG giúp DN phát triển trong dài hạn. Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả áp dụng QTTG Hiệu quả khi áp dụng QTTG phụ thuộc nhiều yếu tố, mỗi yếu tố có thể là nguyên nhân tạo nên sự thành công hay thúc đẩy hiệu quả theo chiều hướng tốt nhưng cũng có thể là rào cản hay hạn chế sự thành công của dự án áp dụng QTTG trong DN. Các nghiên cứu đã chỉ ra 17 yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả khi áp dụng QTTG.
Dựa trên các yếu tố này với mức độ tương đồng và ảnh hưởng có thể chia thành 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng như sau: 11 1. Nhóm nhân tố “Lãnh đạo” 1. Cam kết áp dụng QTTG của lãnh đạo Sự cam kết áp dụng QTTG của lãnh đạo được đánh giá là một trong những nhân tố có ảnh hưởng tích cực tới hiệu quả áp dụng QTTG tại nhiều nghiên cứu. Worley và Doolen (2006) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa sự cam kết, ủng hộ của nhân sự cấp cao, truyền thông nội bộ và việc áp dụng QTTG tại một công ty hoạt động trong lĩnh vực SX điện tử ở Hoa kỳ.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự cam kết ủng hộ của ban lãnh đạo cấp cao và truyền thông nội bộ đóng vai trò là hai nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc áp dụng thành công QTTG. Cụ thể, nhân tố cam kết của lãnh đạo không những đóng vai trò quan trọng trong việc áp dụng QTTG mà còn trong việc quản trị sự thay đổi của doanh nghiệp. Jeffrey (2013) cũng đưa ra kết luận tương tự trong nghiên cứu về mô hình thành công của Toyota. Ông cho rằng không phải ngẫu nhiên mà Toyota đạt đến thành công như ngày nay.
Toyota là một tổ chức liên tục cải tiến trong sản phẩm cũng như văn hóa tổ chức và quản lý.