Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thực trạng sử dụng và quản lý thuốc bảo vệ thực vật tại xã đào thịnh huyện trấn yên tỉnh yên bái

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nghiên cứu thực trạng sử dụng và quản lý thuốc bảo vệ thực vật tại xã đào thịnh huyện trấn yên tỉnh, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2019

95
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Nghiên Cứu Quản Lý Thuốc Bảo Vệ Thực Vật Tại Yên Bái

Nghiên cứu về quản lý thuốc bảo vệ thực vật tại xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái là một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) ngày càng gia tăng nhằm bảo vệ cây trồng khỏi sâu bệnh. Tuy nhiên, việc quản lý và sử dụng thuốc BVTV còn nhiều bất cập, ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người.

1.1. Khái niệm và vai trò của thuốc BVTV trong nông nghiệp

Thuốc BVTV là các hợp chất hóa học hoặc chế phẩm sinh học được sử dụng để bảo vệ cây trồng khỏi sâu bệnh. Chúng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất nông sản và bảo vệ môi trường sống.

1.2. Tình hình sử dụng thuốc BVTV tại xã Đào Thịnh

Tại xã Đào Thịnh, việc sử dụng thuốc BVTV diễn ra phổ biến. Tuy nhiên, nhiều người dân chưa nắm rõ cách sử dụng an toàn, dẫn đến tình trạng lạm dụng và ô nhiễm môi trường.

II. Vấn đề và Thách thức trong Quản Lý Thuốc Bảo Vệ Thực Vật

Quản lý thuốc BVTV tại xã Đào Thịnh đang đối mặt với nhiều thách thức. Việc lạm dụng thuốc BVTV không chỉ gây hại cho môi trường mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Cần có các biện pháp quản lý chặt chẽ hơn để giảm thiểu tác động tiêu cực.

2.1. Tác động của thuốc BVTV đến môi trường

Sử dụng thuốc BVTV không đúng cách có thể dẫn đến ô nhiễm đất và nước. Dư lượng thuốc tồn tại trong môi trường có thể gây hại cho hệ sinh thái và sức khỏe con người.

2.2. Thách thức trong việc giáo dục cộng đồng

Việc nâng cao nhận thức của người dân về an toàn thực phẩm và quản lý thuốc BVTV là một thách thức lớn. Cần có các chương trình giáo dục và tuyên truyền hiệu quả để thay đổi thói quen sử dụng thuốc.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Quản Lý Thuốc Bảo Vệ Thực Vật

Nghiên cứu này áp dụng các phương pháp khảo sát và phân tích để đánh giá hiện trạng sử dụng thuốc BVTV tại xã Đào Thịnh. Các dữ liệu thu thập sẽ giúp đưa ra các giải pháp quản lý hiệu quả hơn.

3.1. Phương pháp khảo sát hiện trạng sử dụng thuốc BVTV

Khảo sát được thực hiện thông qua phỏng vấn người dân và thu thập mẫu đất, nước để phân tích dư lượng thuốc BVTV. Điều này giúp đánh giá mức độ ô nhiễm và tác động đến sức khỏe.

3.2. Phân tích dữ liệu và đánh giá hiệu quả

Dữ liệu thu thập sẽ được phân tích để đánh giá hiệu quả của các biện pháp quản lý hiện tại. Từ đó, đề xuất các giải pháp cải thiện quản lý thuốc BVTV.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn và Kết Quả Nghiên Cứu

Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin quan trọng về tình hình sử dụng thuốc BVTV tại xã Đào Thịnh. Các giải pháp đề xuất sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ môi trường.

4.1. Đánh giá hiện trạng sử dụng thuốc BVTV

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhiều loại thuốc BVTV được sử dụng phổ biến tại địa phương, nhưng việc quản lý và giám sát còn hạn chế. Cần có các biện pháp kiểm soát chặt chẽ hơn.

4.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuốc BVTV

Đề xuất các giải pháp như tăng cường giáo dục cộng đồng, áp dụng công nghệ mới trong quản lý thuốc BVTV và xây dựng các quy định chặt chẽ hơn về sử dụng thuốc.

V. Kết Luận và Tương Lai của Nghiên Cứu Quản Lý Thuốc Bảo Vệ Thực Vật

Nghiên cứu về quản lý thuốc BVTV tại xã Đào Thịnh là bước đầu quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng. Cần tiếp tục nghiên cứu và áp dụng các giải pháp hiệu quả để nâng cao chất lượng quản lý.

5.1. Tương lai của quản lý thuốc BVTV tại Yên Bái

Với sự phát triển của công nghệ và nhận thức của cộng đồng, việc quản lý thuốc BVTV có thể được cải thiện đáng kể trong tương lai. Cần có sự hợp tác giữa các cơ quan chức năng và người dân.

5.2. Đề xuất nghiên cứu tiếp theo

Cần thực hiện các nghiên cứu sâu hơn về tác động lâu dài của thuốc BVTV đến môi trường và sức khỏe con người. Điều này sẽ giúp xây dựng các chính sách quản lý hiệu quả hơn.

01/07/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thực trạng sử dụng và quản lý thuốc bảo vệ thực vật tại xã đào thịnh huyện trấn yên tỉnh yên bái

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một nước sản xuất nông nghiệp, khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm của Việt Nam thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng nhưng cũng rất thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, các loài cây cỏ dại gây hại và làm giảm năng suất cũng như chất lượng các loại cây trồng. Do vậy việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) để phòng trừ sâu bệnh hại, dịch bệnh bảo vệ cây trồng, tăng năng suất là một biện pháp quan trọng và chủ yếu. Từ xưa nhân dân các dân tộc nước ta đã nhận biết được lợi ích của cây quế và sử dụng quế vào nhiều mục đích. Trước hết quế được sử dụng làm thuốc chữa bệnh, vỏ quế được mài ra trong nước đun sôi để nguội để uống, hoặc trong các bài thuốc có quế để chữa một số bệnh đường tiêu hoá, đường hô hấp, kích thích sự tuần hoàn của máu, lưu thông huyết mạch, làm cho cơ thể ấm lên.

Chống lại giá lạnh và có tính chất sát trùng. Quế được nhân dân coi như một trong bốn vị thuốc rất có giá trị: Sâm, nhung, quế, phụ. Quế Giao chỉ (quế Việt Nam) trước đây được coi là sản vật quý giá, có giá trị như ngà voi, chim công… sử dụng để làm quà ngoại giao, biếu tặng trong và ngoài nước. Quế được sử dụng một khối lượng lớn để làm gia vị vì quế có vị thơm, cay và ngọt có thể khử bớt được mùi tanh, gây của cá, thịt, làm cho các món ăn hấp dẫn hơn, kích thích được tiêu hoá.

Quế còn được sử dụng trong các loại bánh kẹo, rượu: như bánh quế, kẹo quế, rượu quế được sản xuất và bán rất rộng rãi. Hiện nay, tình hình sâu bệnh hại các giống cây sản xuất lâm nghiệp ngày càng gia tăng, việc sử dụng thuốc BVTV để bảo vệ cây trồng ngày càng được chú ý và quan tâm hơn. Việc sử dụng TBVTV để bảo vệ cây trồng đã hạn chế được nhiều thiệt hại cho người dân. Nhưng việc sử dụng hóa chất, thuốc BVTV chưa được quản lý chặt chẽ, các biện pháp quản lý chất thải từ 2 việc sử dụng thuốc BVTV còn chưa cao nên đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng môi trường và hệ sinh thái, đặc biệt là môi trường đất và nước.

Bên cạnh đó, việc sử dụng tùy tiện, lạm dụng thuốc BVTV dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng gây ngộ độc cho con người, gia súc, để lại lưu lượng trong cây Quế làm giảm chất lượng của vỏ quế cũng như gây tác hại lâu dài cho người sử dụng, làm ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm môi trường,tăng tính chống thuốc của các loài sinh vật gây hại. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu thực trạng sử dụng và quản lý thuốc bảo vệ thực vật tại xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái” 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về thuốc BVTV Trong nông nghiệp, có rất nhiều mối nguy cơ có thể ảnh hưởng xấu đến năng suất, chất lượng của nông sản như sâu bệnh, cỏ dại, chuột, mối, mọt, thiên tai, bão, lũ, nấm,. Các nguồn thực phẩm như rau, quả, dược liệu,.là những sản phẩm nông nghiệp đặc biệt, cũng có nguy cơ mắc phải các dịch bệnh.

Thuốc BVTV là những hợp chất hóa học (vô cơ, hữu cơ), những chế phẩm sinh học (chất kháng sinh, vi khuẩn, nấm, siêu vi trùng, tuyến trùng.), những chất có nguồn gốc thực vật, động vật, được sử dụng để bảo vệ cây trồng, nông sản, chống lại sự phá hoại của những loài sinh vật gây hại (côn trùng, nhện, tuyến trùng, chuột, chim, thú rừng, nấm, rong rêu, cỏ dại. Thuốc BVTV là những loại hóa chất bảo vệ cây trồng hoặc những sản phẩm bảo vệ mùa màng, là những chất được tạo ra để chống lại và tiêu diệt loài gây hại hoặc các vật mang mầm bệnh. Chúng cũng gồm các chất để đấu tranh với các loại sống cạnh tranh với cây trồng cũng như nấm bệnh cây. Ngoài ra, các loại thuốc kích thích sinh trưởng, giúp cây trồng đạt năng suất cao cũng là một dạng của thuốc BVTV.

Thuốc BVTV là những hóa chất độc, có khả năng phá hủy tế bào, tác động đến cơ chế sinh trưởng, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại và cả cây trồng, vì thế khi các hợp chất này đi vào môi trường, chúng cũng có những tác động nguy hiểm đến môi trường, đến những đối tượng tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp. Và đây cũng là lý do mà thuốc BVTV nằm trong số những hóa chất đầu tiên được kiểm tra triệt để về bản chất, về tác dụng cũng như tác hại. 4 Những sinh vật gây hại cây trồng và nông sản được gọi chung là dịch hại, do vậy những thuốc dùng để diệt trừ dịch hại được gọi là thuốc trừ dịch hại hoặc thuốc BVTV. Ngoài tác dụng phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật, thuốc BVTV còn bao gồm cả những chế phẩm có tác dụng điều hòa sinh trưởng thực vật, các chất làm rụng lá, khô cây giúp cho việc thu hoạch mùa màng bằng cơ giới được thuận tiện; những chế phẩm có tác dụng xua đuổi hoặc thu hút các loại sinh vật gây hại tài nguyên thực vật đến để tiêu diệt.

Theo từ điển bách khoa bảo vệ thực vật (NXB Nông nghiệp – 1996, Đường Hồng Dật chủ biên) “Thuốc bảo vệ thực vật hay còn gọi là thuốc trừ dịch hại là tất cả các chất hay hỗn hợp các chất dùng để ngăn ngừa, tiêu diệt các loại dịch bệnh gây hại của cây trồng, nông lâm sản,… hoặc các loài dịch bệnh cản trở quá trình chế biến, bảo quản nông sản. Thuốc trừ hại còn bao gồm các chất có tác dụng điều hòa, kích thích sinh trưởng cây trồng, bảo quản nông sản”. Dư lượng thuốc BVTV: Dư lượng thuốc BVTV là phần còn lại của các hoạt chất, chất mang, các phụ trợ khác cũng như các chất chuyển hoá của chúng và tạp chất, tồn tại trên cây trồng, nông sản, đất, nước sau khi sử dụng chúng. Các phần này có khả năng gây độc; còn lưu trữ một thời gian trên bề mặt của vật phun và trong môi trường.

Thành phần cấu tạo và mức độ độc hại của thuốc BVTV Thuốc BVTV đóng một vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, tùy theo từng loại thuốc BVTV mà cấu tạo thành phần thuốc khác nhau từ đó dẫn đến những đặc trưng về tính chất hóa học mức độ độc hại riêng của từng loại thuốc, cụ thể như sau:  Thuốc trừ sâu nhóm Clo hữu cơ - Đặc điểm chung: + Công thức có chứa: Cl, C, H, O, S., luôn có chứa nguyên tử Clo và các vòng bezen hay dị vòng. 5 + Ít tan trong nước, tan trong nhiều dung môi hữu cơ + Có độ bền hóa học lớn, thời gian phân hủy chậm từ vài năm đến vài chục năm + Có độc tính cao. - Công thức cấu tạo + DDT: C14H9Cl5 + BHC (666): C6H6Cl6 - Độc tính: LD50 = 113 mg/kg (DDT) và 125 mg/kg (BHC) Tích lỹ trong cơ thể đặc biệt ở mô mỡ và mô sữa, gây ung thư, sinh quái thai, dị tật. - Triệu chứng ngộ độc cấp tính: + Nôn mửa, ỉa chảy.

+ Run cơ bắt đầu ở mặt rồi đến các đầu chi, sau đó co giật rung, co giật toàn thân rồi đi vào hôn mê. + Thở nhanh sau đó rối loạn hô hấp, dần dần liệt hô hấp, chú ý liệt cơ hô hấp có thể xuất hiện nhiều giờ sau nhiễm độc - Điều trị ngộ độc. + Nếu chất độc thấm qua da, cần rửa sạch da, thay quần áo nhiễm. + Nếu do uống thì rửa dạ dày càng sớm càng tốt, với nhiều nước sau đó cho dầu Paraffin 200ml.

+ Tăng đào thải thuốc qua nước tiểu: Lasix 20 mg tiêm tĩnh mạch, nhắc lại 6 giờ 1 lần Truyền tĩnh mạch dung dịch Natriclorua 9%0 hoặc glucose 5% ngày 3 – 4 lít + Chống co giật: gardenal 0,10g hoặc Seduxen 10mg tiêm bắt thịt. + Hồi sức hô hấp là cơ bản: hô hấp nhân tạo + Trợ tim mạch. + Truyền dịch, chống sốc nếu có. - Xét nghiệm: 6 + Mẫu thử: Mẫu thử là phủ tạng,dịch dạ dày, chất nôn của nạn nhân hoặc tang vật như cốc nước, thức ăn, chai lọ.

+ Xử lý mẫu: Xử lý chiết mẫu trong môi trường Acid (cắn A). + Xác định Phản ứng cắt Clo hữu cơ; Sắc ký lớp mỏng; Sắc ký khí và sắc ký khí khối phổ; Quang phổ UV - VIS.  Thuốc trừ sâu nhóm lân hữu cơ: - Đặc điểm chung: + Công thức hóa học có chứa: P, C, H, O, S. + Tác động rất nhanh.

+ Ít tan trong nước nhưng tan tốt trong dung môi hữu cơ, thời gian bán hủy nhanh. + Rất độc và gây ngộ độc cấp tính cao. + Thải ra ngoài theo đường nước tiểu. - Công thức cấu tạo: + Methyl parathion (Wofatox): C8H10NO5PS.

+ Parathion: C10H14NO5PS. + Dipterex (Trichlorfon ): C4H8Cl3O4P - Độc tính: + Methyl parathion: LD50 (chuột) = 25 -50mg/kg + DDVP: LD50 = 80 mg/kg + Dipterex: LD50 = 630 mg/kg - Triệu chứng ngộ độc. Các triệu chứng xuất hiện vài giờ sau khi bị ngộ độc: 7 + Cường phế vị: nôn, đau bụng, vã mồ hôi, tăng tiết nước bọt, co đồng tử, ỉa đái không chủ động, mạch chậm, huyết áp hạ, co thắt phế quản, tăng tiết dịch phế quản, ho, đôi khi phù phổi, ngừng thở. + Về thần kinh vận động: co giật mí mắt, cơ mặt, rụt lưỡi, co cơ cổ và lưng có khi cứng toàn thân.

+ Về thần kinh trung ương: hoa mắt, chóng mặt, run, vật vã, cơn co giật, nói khó, lẫn lộn, có khi bị hôn mê. + Nếu bị nhẹ, các triệu chứng giảm dần sau 2 – 3 ngày, đến khi tới 2 – 3 tuần lễ. Những trường hợp rất nặng chết rất nhanh, có trường hợp trong vòng 30 phút đến 1 – 2 giờ do tăng tiết phế quản, liệt cơ hô hấp. + Test atropin: tiêm tĩnh mạch 2 mg Atropin: Đồng tử ít thay đổi, không giãn to, mạch không nhanh lên hoặc nhanh ít: nghĩ đến ngộ độc do phospho hữu cơ.

Đồng tử giãn to ngay, mạch nhanh ngay, da đỏ nóng, nếu bệnh nhân tỉnh sẽ vật vã, kích thích: không nghĩ đến ngộ độc do phospho hữu cơ. - Điều trị ngộ độc. + Nếu chất độc vào qua đường tiêu hoá, phải rửa dạ dày bằng dung dịch Natri bicarbonat. Rửa nhiều nước cho đến khi hết chất độc trong nước rửa dạ dày (có khi tới 40 – 60 lít), nước ấm.

Uống than hoạt, lòng trắng trứng. + Nếu chất độc ở da, phải rửa da bằng nước xà phòng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Quản Lý Thuốc Bảo Vệ Thực Vật Tại Xã Đào Thịnh, Huyện Trấn Yên, Tỉnh Yên Bái" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình quản lý thuốc bảo vệ thực vật tại địa phương này. Nghiên cứu không chỉ phân tích các phương pháp quản lý hiện tại mà còn đề xuất các giải pháp cải thiện nhằm bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng. Những thông tin trong tài liệu sẽ giúp người đọc hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật một cách bền vững, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Nghiên cứu quản lý và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại Quảng Ngãi, nơi cung cấp thông tin về thực trạng và các biện pháp quản lý thuốc bảo vệ thực vật tại một tỉnh khác. Bên cạnh đó, tài liệu Giải pháp quản lý môi trường tại các khu vực đặt kho thuốc bảo vệ thực vật tỉnh Hòa Bình sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các giải pháp bảo vệ môi trường liên quan đến việc lưu trữ thuốc bảo vệ thực vật. Cuối cùng, tài liệu Đánh giá hiện trạng quản lý và sử dụng phân bón thuốc bảo vệ thực vật tại xã Cao Xá, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ sẽ cung cấp thêm thông tin về mối liên hệ giữa phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quản lý nông nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực này.