Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu chung về tre trúc Tre trúc là một nguồn lâm sản ngoài gỗ chiếm vị trí quan trọng trong tài nguyên rừng ở nhiều nước trên thế giới. Nhiều loài tre trúc là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành thủ công mỹ nghệ, công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghiệp giấy sợi, công nghiệp chế biến ván nhân tạo, vật liệu trong xây dựng, kiến trúc, giao thông vận tải,. Một số loài tre trúc cho măng ăn ngon, đã trở thành nguồn cung cấp thực phẩm có giá trị.
Các sản phẩm từ tre trúc không còn bó hẹp trong biên giới của một số quốc gia mà đã có mặt ngày càng nhiều trên thị trường quốc tế và được nhiều nước châu Âu, châu Mỹ ưa chuộng. Chính vì vị trí quan trọng của tài nguyên tre trúc, nhiều nước trên thế giới có tre trúc và kể cả những nước sử dụng tre trúc, đã tiến hành nhiều nghiên cứu về tre trúc. * Những nghiên cứu về phân loại, phân bố Các loài tre trúc phân bố tự nhiên ở các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới, từ vùng thấp tới độ cao 4000 m (so với mực nước biển), song tập trung chủ yếu ở vùng thấp tới đai cao trung bình (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005). Các loài tre trúc có thể mọc hoang dại hoặc được gây trồng và có một đặc điểm nổi bật là có mặt ở rất nhiều các môi trường sống khác nhau (Dransfield and Widjaja, 1995).
Theo Rao AN and Rao VR (1995, 1999), cả thế giới có khoảng 1250 loài tre trúc của 75 chi, phân bố ở khắp các châu lục, trừ châu Âu. Châu Á đặc biệt phong phú về số lượng và chủng loại tre trúc với khoảng 900 loài của khoảng 65 chi. Tre trên thế giới có phân bố ở 3 khu vực lớn: Châu Á Thái Bình Dương, Châu Phi và Châu Mỹ. Các loài tre lớn thuộc chi Bambusa và Dendrocalamus phân bố ở khu vực Châu á Thái Bình dương.
Trên thế giới có 36.77 triệu ha rừng tre. Diện tích tre của châu Á là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.6 triệu ha, trong đó Ấn độ 11.36 triệu ha, Trung Quốc 5.44 triệu ha, Indonesia 2.08 triệu ha, Lào 1.61 triệu ha, Myanmar 0.85 triệu ha, Việt Nam 0. Năm 2002, Bystriakova và cộng sự khi nghiên cứu về bảo tổn và đa dạng sinh học của tre trúc khu vực châu Á đã cho rằng có hơn 6,3 triệu km rừng châu Á chứa tre, với mật độ cao nhất được xác định từ phía đông bắc Ấn Độ qua Miến Điện đến miền nam Trung Quốc, và thông qua Sumatra đến Borneo. Những con số cao nhất về sự phong phú của các loài tiềm năng (144 spp mỗi km vuông) đã được ghi nhận trong các khu rừng ở phía nam Trung Quốc, bao gồm đảo Hải Nam.
Theo FAO (2007), mười sáu quốc gia ở châu Á có khoảng 24 triệu ha tài nguyên tre trúc, năm quốc gia châu Phi có 2,8 triệu ha. Ước tính rằng mười quốc gia Mỹ Latinh có thể có hơn 10 triệu ha tài nguyên tre, chiếm tổng số thế giới khoảng 37 triệu ha hoặc khoảng 1% diện tích rừng toàn cầu. Tuy nhiên, các số liệu chỉ đại diện cho ước tính sơ bộ và bao gồm rừng tre thuần loài, tre hỗn loài với các loài khác (trong đó tre không nhất thiết phải chiếm ưu thế) và tre trên đất khác. * Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống và gây trồng Nhân giống tre được nhiều tác giả quan tâm và đề cập đến như Banik (1979, 1985), Hassan (1977), R.
Gambhir (2008), Nautiyal et al (2008) bằng nhiều phương pháp khác như bằng hạt, chiết, nuôi cấy mô, chồi gốc. Theo Banik (1979) hạt B.tulda có tỷ lệ nảy mầm chỉ 24.78% và 5% cây con tồn tại ở vườn ươm. Nhưng nhân giống bằng gốc đạt tỷ lệ cao hơn, chẳng hạn đạt 5% ở Melocana baccifera, 9% ở B.tulda, 33% ở Oxytanentheranigrociliata, 40% ở Dendrocalamus longispathus và 100% ở Bambusa vulgaris (Hassan 1977). Bernard (2007) cho rằng có thể nhân giống tre trúc bằng thân và gốc: Dùng đoạn ngắn trên thân của tre trúc, đoạn trên thân cây có độ tuổi từ 2-3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 năm để tạo ra cây con.
Với yêu cầu kỹ thuật là cắt một đoạn có 2 đến 3 mắt, đục lỗ cách các mắt từ 5-7 cm và vùi sâu 6 - 10 cm theo hướng nằm ngang vào đất trộn cát. Kích thích ra rễ có thể dùng axít 1-Naphthalene acetic (NAA) đổ vào lỗ đã đục. Dùng gốc để làm vật liệu nhân giống với yêu cầu chọn cây có độ tuổi 1-2 năm, sau đó đào sâu 30 - 60 cm và cắt toàn bộ gốc mang đi trồng ngay. Ngoài việc nhân giống bằng thân và gốc thì có thể nhân giống các loài tre trúc bằng phương pháp nuôi cây mô.
Tác giả đã nhân giống thành công cho loài Yushania alpina và Oxytenanthera abyssinica tại Kenya (Bernard, 2007). Ngoài phương pháp nhân giống sinh dưỡng, ở một số nơi trên thế giới, các loài tre trúc cũng đã được nhân giống bằng hạt. Tại Thái Lan và Ấn Độ, đã thực hiện thành công việc nhân giống bằng hạt cho các loài cây như Dendrocalamus brandisii, Dendrocalamus membranaceus,Dendrocalamus strictus và Dendrocalamus (Bernard, 2007 và Dai Qihui, 1998). Tuy nhiên lại vấp phải một số khó khăn không như mong muốn đó là cây con được tạo bằng hạt không đạt được những ưu điểm vượt trội so với cây con được tạo bằng thân, gốc hoặc cành.
Do vậy, đến nay phần lớn cây con của các loài tre, luồng đều được tạo bằng phương pháp nhân giống sinh dưỡng. Phương pháp chiết tỷ lệ ra rễ ở các loài tre vách dày được áp dụng ở Băng-la- đét đạt 45-56% ở các loài Bambusa vulgaris, B. Benton et al (2011) nghiên cứu về phương pháp chiết (air-layering method) đối với tre cho rằng: đảm bảo ra rễ tốt ở trên cây trước khi cắt xuống. Nhưng phương pháp này chỉ áp dụng ở những vùng có độ ẩm cao và bị hạn chế ở phần dưới của cây và thường phần này không dùng làm vật liệu nhân giống.
Chồi gốc (cành chét) của các loài Bambusa balcooa, B.vulgaris, Dendrocalamus longispathus, Melocana baccifera, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Neohouzeaua dulloa và Oxytenathera nigrociliata đã được sử dụngđể trồng rừng ở ấn độ tỷ lệ thành công đạt 44-76% khi trồng vào tháng 4, 3-38% vào tháng 6 và chồi mầm một tuổi đạt tỷ lệ sống cao hơn cây 2-3 tuổi. Nhân giống bằng phương pháp chiết thân đối với loài Bambusa longispiculata đạt tỷ lệ ra rễ 25% nhưng tỷ lệ ra rễ tăng lên 54% khi có xử lý với hóc môn tăng trưởng IBA 200 ppm. Sử dụng hóc môn IBA và NAA khi giâm hom thân (mỗi hom 1 đốt, gồm 2 mấu) đạt tỷ lệ ra rễ 80% ở Bambusa arundinacea, 70% ở Dendrocalamus strictus (S. Nautiyal et al 2008).
Có 607 ha rừng tre của 9 loài (Dendrocalamus strictus, D.hamiltonii, Bambusa bambos, B.balcooa,Pseudooxytanthera, Guadua angustifolia) được trồng bằng giống nuôi cấy mô.Điều này rất có lợi ích về mặt kinh tế và có thể trồng rừng qui mô lớn. Công nghệ này đạt chất lượng tốt có thể triển khai trồng rừng trên toàn quốc Ấn Độ (R. Thaiutsa (1988) khi nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng và năng suất của các loài tre ở Thái Lan cho rằng : sử dụng hỗn hợp phân NPK 15-15-15 có hiệu quả rõ rệt đến năng suất của các loài Thyrsostachys siumensis, Dendrocalamus asper, Bambusa sp. Bón 100kg NPK/ha sẽ đủ để tăng năng suất và bón 200 kg NPK/ha là thích hợp.
Công trình “Bamboo rediscovered” của Victor Cusack (1997) đề cập đến biện pháp bón phân làm cho nhiều loài tre trúc phát triển tốt, măng to, nhưng phải bón một cách hợp lý tuỳ thuộc vào loài nhất định. Alipon et al (2009) khi nghiên cứu xử lý lâm sinh cho rừng tre Bambusa blumeana và Dendrocalamus asper 9 và 11 tuổi cho rằng tiến hành làm sạch gốc phủ chất hữu cơ, bón phân và duy trì 4 cây 1 tuổi + 4 cây 2 tuổi + 4 cây 3 tuổi + 4 cây 4 tuổi/búi (4-4-4-4, tổng số 16 cây/búi) ở rừng Bambusa blumeana sẽ cho sản lượng thân khí ổn định và chất lượng cao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Còn đối với rừng D.asper sẽ đạt điều này khi được bón phân nhưng không phủ gốc và duy trì 6 cây 1 tuổi + 6 cây 2 tuổi/búi. Fu Maoyi, Xiao Jianghua (1996) với “Cultivation & Utilization on Bamboos” đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh măng, sinh trưởng và phát triển của thân khí sinh là: độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh.
Đây là những nhân tố cần phải được quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng xuất măng và thân khí sinh. Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2001, 2008) trong công trình “Cultivation and Integrated Utilization on Bamboo in China” bằng các thí nghiệm với loài Dendrocalamus latiflorus và Dendrocalamus oldhamii cho thấy phân bón làm tăng nhiệt độ trong đất giúp không khí và nước lưu thông tốt hơn, kích thích măng ra sớm hơn, sản lượng măng và thân khí sinh tăng cao hơn. Năm 1998 trong công trình “Bamboo Research and Deverlopment in Thailand” Rungnapar Pattanavibool đã đề cập đến một số loài tre trúc lấy măng được gây trồng ở Thái Lan như: Dendrocalamus asper (Pai Tong), Dendrocalamus brandissi (Pai Bongyai), Dendrocalamus strictus (Pai Sangdoi),. trong đó có Dendrocalamus asper là loài tre trúc đã được nhập vào trồng ở Miền Nam từ thời kỳ chế độ cũ.
Yang Yuming, và các cộng sự (2000) đã sử dụng những đặc điểm sinh thái và năng suất, để làm tiêu chí lựa chọn loài tre trồng rừng công nghiệp. Koichiro Ueda (1976) khi nghiên cứu về đặc tính sinh lý của tre trúc cho rằng hàng năm có 60-80% số măng bị thui ở rừng Phyllostachys edulis và 30 - 50% số măng bị thui ở rừng Phyllostachys reticulata. Bên cạnh đó tác giả còn đề cập đến vấn đề khai thác và tận dụng măng cũng như các biện pháp bón phân để tăng số lượng, kích thước của măng, của thân khí sinh. Xiao Jianghua (1996) cho rằng yếu tố như: độ ẩm, nhiệt độ, dinh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh là những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh măng, sinh trưởng và phát triển của thân khí sinh.
Do đó có thể thấy đây là những nhân tố mũi nhọn cần được quan tâm trong quá trình thâm canh tăng năng suất măng và thân khí sinh. Victor Cusack (1997) cũng đề cập đến các biện pháp bón phân hợp lý tùy thuộc vào các loài nhất định để làm cho nhiều loài tre trúc phát triển tốt cho măng to.