Tổng quan nghiên cứu

Sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam hiện đang là ngành tiêu thụ tài nguyên nước lớn nhất cả nước, chiếm khoảng 93 tỷ m3 nước mỗi năm. Trong tổng nhu cầu nước dùng cho nông nghiệp, diện tích đất canh tác lúa nước trên 7,8 triệu hécta tiêu tốn hơn 46,8 tỷ m3 nước hàng năm. Tập quán canh tác tưới ngập truyền thống đang tiêu hao từ 5.500 đến 6.500 m3/ha trong vụ chiêm xuân và 4.500 đến 5.500 m3/ha trong vụ mùa. Thói quen này không chỉ gây thất thoát lãng phí nghiêm trọng nguồn nước mặt mà còn tạo môi trường kỵ khí yếm khí kéo dài, biến ruộng lúa thành nguồn phát thải khí nhà kính hàng đầu. Báo cáo kiểm kê khí nhà kính quốc gia ghi nhận ngành nông nghiệp phát thải 88,3 triệu tấn CO2 tương đương, trong đó canh tác lúa nước chiếm 50,49% tổng lượng phát thải của ngành. Đáng chú ý, lượng khí mêtan (CH4) phát sinh từ các ruộng lúa ngập nước chiếm tới 77,1% tổng lượng phát thải CH4 trong nông nghiệp.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là làm thế nào để vừa duy trì an ninh lương thực, bảo đảm năng suất mùa vụ, vừa tối ưu hóa lượng nước tưới và giảm thiểu phát thải khí nhà kính. Luận văn thạc sĩ tập trung giải quyết bài toán này thông qua mục tiêu xác định chế độ quản lý nước tiết kiệm tối ưu, đánh giá định lượng mức độ giảm phát thải khí CH4 và xây dựng quy trình kỹ thuật tưới mặt ruộng phù hợp cho vùng Đồng bằng sông Hồng. Phạm vi nghiên cứu bao quát 10 tỉnh thành khu vực Đồng bằng sông Hồng, trong đó địa bàn thực nghiệm trọng điểm được triển khai tại xã Phú Thịnh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2019. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn khi chứng minh khả năng tiết kiệm từ 20% đến 28,6% lượng nước tưới mặt ruộng, cắt giảm 28% đến 35% lượng phát thải CH4, đồng thời duy trì năng suất lúa ổn định ở mức 12,8 tấn/ha/năm cho cả hai vụ canh tác.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng thuyết cân bằng nước trong hệ thống nông nghiệp và sinh lý cây trồng. Nước đóng vai trò cấu trúc sống, chiếm hơn 90% trọng lượng chất nguyên sinh tế bào và là dung môi vận chuyển chất dinh dưỡng. Để tạo ra 1 kg chất khô, cây lúa cần hấp thụ hơn 300 kg nước. Tuy nhiên, phần lớn lượng nước này bị thất thoát qua quá trình thoát hơi nước mặt lá và thẩm lậu thẳng đứng nếu duy trì lớp nước mặt ruộng quá sâu.

Bên cạnh đó, nghiên cứu ứng dụng lý thuyết phân giải kỵ khí chất hữu cơ trong đất ngập nước. Trong môi trường yếm khí ngập nước liên tục với điện thế oxy hóa khử (Eh) giảm sâu xuống mức từ -176 mV đến -287 mV, các hợp chất hữu cơ cao phân tử như xenlulozơ và protein bị phân giải bởi quần thể vi sinh vật kỵ khí thuộc họ Methanobacteriaceae (điển hình như Methanosarcina và Methanococcus) sinh ra khí CH4. Khi áp dụng kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ (AWD), không khí giàu oxy thâm nhập vào tầng đất mặt, nâng cao điện thế Eh và ức chế quá trình sinh tổng hợp mêtan. Các khái niệm trung tâm bao gồm: kỹ thuật tưới nông - lộ - phơi, hệ số phát thải khí mêtan, điện thế oxy hóa khử Eh, và cường độ tiêu hao nước mặt ruộng.

Phương pháp nghiên cứu

Mô hình thí nghiệm đồng ruộng được thiết kế với tổng diện tích 50 hécta tại 4 đội sản xuất (đội 8, 9, 10 và 11) thuộc xã Phú Thịnh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Cỡ mẫu nghiên cứu chuyên sâu bao gồm 6 ô ruộng điển hình được giám sát liên tục: 2 ô công thức khô kiệt S1 và S2 (tổng diện tích 1.690,3 m2), 2 ô công thức khô vừa W1 và W2 (tổng diện tích 1.591,3 m2), cùng 2 ô đối chứng tưới ngập truyền thống C1 và C2 (tổng diện tích 2.304,0 m2). Phương pháp chọn mẫu áp dụng theo nguyên tắc đại diện không gian trên nền đất phù sa trung tính ít chua đặc trưng của Đồng bằng sông Hồng với tầng đất canh tác dày từ 0 đến 0,25 m loại sét pha thịt.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua hệ thống trạm khí tượng tự động ghi nhận lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm không khí và bốc hơi mặt thoáng. Mực nước mặt ruộng và độ ẩm đất được theo dõi qua ống quan sát PVC đục lỗ chôn sâu -5 cm và -15 cm. Mẫu khí phát thải được lấy định kỳ bằng thiết bị buồng kín Chamber chuyên dụng trong suốt chu kỳ sinh trưởng của lúa và được phân tích nồng độ CH4 bằng phương pháp sắc ký khí trong phòng thí nghiệm. Việc lựa chọn phương pháp này đảm bảo tính chuẩn hóa cao theo đúng tiêu chuẩn hướng dẫn của Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) và Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI), phản ánh chính xác tương quan giữa chế độ thủy văn mặt ruộng và cường độ phát thải khí nhà kính trong hai vụ mùa năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc áp dụng chế độ tưới tiết kiệm giúp cắt giảm mạnh mẽ lượng phát thải khí mêtan. Kết quả đo đạc thực nghiệm chỉ ra rằng công thức tưới khô kiệt (rút nước mặt ruộng xuống ngưỡng -15 cm mới tưới lại) giúp giảm từ 28% đến 35% tổng lượng phát thải CH4 so với công thức tưới ngập truyền thống. Cụ thể, lượng CH4 phát thải trung bình vụ mùa giảm từ 414,97 kg CH4/ha ở ô truyền thống xuống còn dưới 290 kg CH4/ha ở ô khô kiệt. Công thức tưới khô vừa (rút nước xuống ngưỡng -5 cm) cũng ghi nhận mức giảm phát thải từ 18% đến 22%.

Thứ hai, mô hình mang lại hiệu quả tiết kiệm tài nguyên nước vượt trội. Trong vụ xuân kéo dài 110 ngày, lượng nước bơm tưới thực tế tại ô thí nghiệm giảm từ 6.200 m3/ha xuống còn 4.650 m3/ha, tiết kiệm 25% lượng nước tiêu thụ. Trong vụ mùa kéo dài 95 ngày, lượng nước bơm giảm từ 5.100 m3/ha xuống 3.750 m3/ha, tiết kiệm 26,5% lượng nước tưới. Tổng hợp cả hai vụ, mức tiết kiệm nước trung bình đạt 20,4% đến 28,6% so với tập quán tưới thông thường.

Thứ ba, kỹ thuật tưới rút nước định kỳ không làm suy giảm mà còn nâng cao chất lượng cấu thành năng suất lúa. Năng suất lúa vụ xuân ở công thức khô kiệt đạt 6,4 tấn/ha và vụ mùa đạt 5,8 tấn/ha, tăng từ 2,5% đến 4,8% so với ô đối chứng tưới ngập liên tục. Hiện tượng này bắt nguồn từ việc đất được thoáng khí, kích thích rễ lúa ăn sâu hơn 15 cm vào lòng đất, gia tăng số dảnh hữu hiệu và giảm thiểu tỷ lệ lép hạt xuống dưới 15%.

Thứ tư, hiệu quả kinh tế của nông hộ được cải thiện rõ rệt. Nhờ giảm bớt từ 2 đến 3 đợt vận hành máy bơm điện công suất 980 m3/giờ tại trạm bơm nội đồng, chi phí dịch vụ thủy nông và công lao động dẫn nước giảm đáng kể, giúp tăng thêm thu nhập thuần từ 2,8 đến 4,2 triệu đồng/ha cho mỗi vụ sản xuất.

Thảo luận kết quả

Cơ chế sinh học lý giải cho việc cắt giảm khí mêtan là do quá trình tháo cạn và phơi ruộng ở giai đoạn cuối đẻ nhánh và chín sáp đã đưa oxy từ khí quyển vào các khe nứt chân chim của đất. Sự gia tăng nồng độ oxy hòa tan làm đảo chiều phản ứng sinh hóa, ức chế vi khuẩn yếm khí sinh mêtan và tạo điều kiện cho vi khuẩn oxy hóa mêtan hoạt động mạnh. Điều này giải quyết dứt điểm tình trạng ngộ độc hữu cơ và thối rễ lúa thường gặp khi ngập úng lâu ngày.

So sánh với các nghiên cứu trước đây của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế IRRI tại Trung Quốc (giảm 23% CH4 khi tháo nước giữa vụ) hay nghiên cứu tại Đan Phượng - Hà Nội (giảm 19,09% đến 31,06% CH4), kết quả tại Hưng Yên cho thấy tính nhất quán cao về mặt khoa học, đồng thời khẳng định tiềm năng ứng dụng thực tế rộng khắp tại đồng bằng Bắc Bộ.

Về phương thức trực quan hóa, toàn bộ quy luật biến thiên được thể hiện rõ qua biểu đồ đường kết hợp cột mô tả diễn biến mực nước mặt ruộng và xung lượng phát thải CH4 qua từng thời kỳ sinh trưởng. Đồng thời, bảng cân bằng nước chi tiết chứng minh chỉ số sản xuất hạt lúa trên một đơn vị nước tăng từ 0,96 kg thóc/m3 nước ở ô tưới ngập lên 1,28 kg thóc/m3 nước ở ô tưới tiết kiệm.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cấp và hoàn thiện hạ tầng thủy lợi nội đồng. Ủy ban nhân dân các địa phương và Hợp tác xã nông nghiệp cần ưu tiên nguồn vốn kiên cố hóa 14,6 km kênh mương đất còn lại tại xã Phú Thịnh và nhân rộng ra các trạm bơm vùng Đồng bằng sông Hồng. Lắp đặt đồng bộ hệ thống cống điều tiết và van đóng mở cục bộ tại từng phân khu thí nghiệm trong giai đoạn 2024 - 2026 nhằm kiểm soát chủ động dòng chảy và triệt tiêu tình trạng thừa nước ở đầu kênh nhưng thiếu nước ở cuối kênh.

Thứ hai, chuẩn hóa và chuyển giao quy trình tưới nông - lộ - phơi. Cục Trồng trọt kết hợp với Trung tâm Khuyến nông Quốc gia ban hành sổ tay hướng dẫn quản lý nước theo 5 giai đoạn sinh trưởng cho giống lúa vụ xuân (110 ngày) và vụ mùa (95 ngày). Đặt mục tiêu tổ chức tập huấn kỹ thuật cho trên 85% hộ nông dân trồng lúa tại 10 tỉnh Đồng bằng sông Hồng trước năm 2026, hướng dẫn nông dân sử dụng ống nhựa quan sát mực nước chôn sâu -15 cm làm mốc bơm tưới.

Thứ ba, xây dựng cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái và tín chỉ carbon. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần sớm thiết lập hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) đối với các mô hình canh tác lúa giảm phát thải. Đưa lượng giảm phát thải từ 28% đến 35% CH4 vào thị trường giao dịch tín chỉ carbon tự nguyện hoặc cơ chế phát triển sạch (CDM) giai đoạn 2025 - 2030 để tạo nguồn thu bổ sung cho người trồng lúa.

Thứ tư, số hóa công tác quản lý và giám sát vận hành trạm bơm. Các Công ty Khai thác Công trình Thủy lợi phối hợp cùng Hợp tác xã nông nghiệp ứng dụng cảm biến mực nước tự động và phần mềm điều hành tưới thông minh, phấn đấu đạt mục tiêu giảm 25% tổng lượng nước tiêu thụ toàn lưu vực sông Hồng vào năm 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm các nhà quản lý thủy nông và cơ quan hoạch định chính sách tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng Sở Nông nghiệp các tỉnh đồng bằng. Luận văn cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng quy hoạch cấp nước liên vùng và phê duyệt các chương trình hành động giảm phát thải khí nhà kính quy mô cấp tỉnh.

Nhóm thứ hai là các nhà khoa học, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kỹ thuật Tài nguyên nước, Thủy văn và Biến đổi khí hậu. Công trình cung cấp bộ số liệu đo đạc thực địa chi tiết về khí tượng, thủy văn mặt ruộng và phương pháp luận đo đạc khí buồng kín đạt chuẩn quốc tế.

Nhóm thứ ba là Ban giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp, tổ dịch vụ thủy nông và cán bộ khuyến nông cơ sở. Nhóm đối tượng này có thể áp dụng trực tiếp quy trình kỹ thuật vận hành trạm bơm 2 máy công suất 980 m3/giờ kết hợp ống nhựa đo mực nước để giảm chi phí tiền điện bơm nước từ 20% đến 28,6%.

Nhóm thứ tư là các tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp phát triển dự án môi trường và chuyên gia tư vấn thị trường carbon. Dữ liệu thực nghiệm 50 hécta là nguồn tham chiếu chuẩn xác để xây dựng tài liệu thiết kế dự án (PDD) giảm phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

Chế độ tưới khô kiệt có làm sụt giảm năng suất lúa không? Không làm giảm năng suất. Kết quả khảo nghiệm thực tế trên 50 hécta tại Phú Thịnh cho thấy năng suất lúa ở công thức tưới khô kiệt đạt 6,4 tấn/ha vụ xuân và 5,8 tấn/ha vụ mùa, tăng từ 2,5% đến 4,8% so với tưới ngập liên tục nhờ bộ rễ ăn sâu và tăng khả năng quang hợp.

Thời điểm nào trong vụ lúa là quan trọng nhất để rút nước phơi ruộng? Thời điểm quan trọng nhất là giai đoạn cuối đẻ nhánh (kéo dài 7 đến 12 ngày) và giai đoạn chắc xanh đến trước thu hoạch 10 ngày. Việc rút cạn nước ở hai giai đoạn này giúp cây lúa ngừng đẻ nhánh vô hiệu, cứng cây chống đổ và giảm thiểu tới 35% lượng khí CH4 phát sinh.

Nông dân có cần đầu tư thiết bị quan trắc đắt tiền để thực hiện quy trình không? Nông dân không cần đầu tư tốn kém. Chỉ cần sử dụng ống nhựa PVC đường kính 10 đến 15 cm dài 30 cm, đục các lỗ nhỏ quanh thân và cắm sâu 20 cm xuống mặt ruộng. Khi quan sát thấy mực nước trong ống hạ xuống cách mặt ruộng -15 cm thì mới tiến hành dẫn nước vào.

Mô hình tưới tiết kiệm giúp giảm bao nhiêu chi phí vận hành cho hợp tác xã? Mô hình giúp cắt giảm từ 2 đến 3 đợt bơm tưới cho mỗi vụ, tiết kiệm từ 20,4% đến 28,6% điện năng tiêu thụ tại các trạm bơm công suất 980 m3/giờ, mang lại mức gia tăng lợi nhuận kinh tế trực tiếp từ 2,8 đến 4,2 triệu đồng/ha/vụ cho các xã nông nghiệp.

Tại sao phơi ruộng ngắt quãng lại ngăn chặn được khí nhà kính hình thành? Khí mêtan CH4 chỉ được tạo ra khi đất ngập nước hoàn toàn gây yếm khí sâu dưới tác động của vi khuẩn kỵ khí. Khi rút nước phơi ruộng, không khí thâm nhập nâng cao điện thế oxy hóa khử Eh từ -287 mV lên giá trị dương, làm triệt tiêu điều kiện sống của vi khuẩn sinh mêtan.

Kết luận

  • Luận văn chứng minh kỹ thuật tưới tiết kiệm giúp giảm từ 20,4% đến 28,6% lượng nước tưới mặt ruộng hàng năm.
  • Cắt giảm hiệu quả từ 28% đến 35% tổng lượng phát thải khí mêtan CH4 độc hại gây hiệu ứng nhà kính.
  • Duy trì và tăng trưởng năng suất lúa thêm 2,5% đến 4,8%, đạt mức thu hoạch 12,8 tấn/ha/năm cho cả hai vụ.
  • Tối ưu hóa chi phí bơm tưới điện, mang lại thặng dư lợi nhuận kinh tế từ 2,8 đến 4,2 triệu đồng/ha mỗi vụ cho nông dân.
  • Xây dựng thành công quy trình quản lý nước mặt ruộng 5 giai đoạn chuẩn hóa cho 10 tỉnh thành Đồng bằng sông Hồng.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp luận cứ khoa học thực nghiệm vững chắc, kết hợp hài hòa giữa mục tiêu kinh tế thủy nông và bảo vệ môi trường sinh thái. Lộ trình tiếp theo trong giai đoạn 2024 - 2030 là mở rộng diện tích áp dụng quy trình tưới nông - lộ - phơi lên 500.000 hécta lúa toàn vùng đồng bằng Bắc Bộ gắn liền với cơ chế cấp chứng chỉ tín chỉ carbon quốc tế. Các cơ quan quản lý nông nghiệp, hợp tác xã và bà con nông dân hãy chủ động triển khai chuyển đổi phương thức tưới thông minh ngay trong vụ mùa tới để kiến tạo nền nông nghiệp xanh, phát thải thấp và phát triển bền vững.