Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. MỘT SÓ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Quản lý KH-CN Quản lý là hoạt động có chủ đích, được tiễn hành bởi một chủ thê quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý [16, tr. Theo đó, quan lý KH-CN là quản lý các hoạt động KH-CN, nó bao gồm nội dung rộng và đa dạng hơn nhiều so với quản lý R-D với nghĩa hẹp.
Theo Unesco, hoạt động KH-CN bao gồm tat cả các hoạt động liên quan tới sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các kiến thức KH-CN trong thực tiễn và đời sống. Theo Luật KH-CN, hoạt động KH-CN bao gồm: NCKH, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ KH-CN, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển KH-CN [23]. Cũng theo Luật KH-CN, mục tiêu của hoạt động KH-CN của nước ta là : xây dựng nền KH-CN tiên tiến, hiện đại để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường; đây mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người mới Việt Nam; góp phần phát triển nhanh, bền vững kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sông của nhân dân, đảm bảo quốc phòng an ninh. Quản lý KH-CN bao gồm : Hoạch định chiến lược phát triển KH-CN; lập kế hoạch và quy hoạch dài hạn; cải cách thể chế hoạt động KH-CN; ban hành các văn bản pháp luật KH-CN; sắp xếp, tổ chức mạng lưới cơ quan khoa học; thực hiện các chương trình NCKH; quan lý và áp dung rộng rãi các thành quả thu được; chuyển giao công nghệ, quản lý kinh phí cho KH-CN; quản lý nhân lực KH-CN; quản lý vật tư phục vụ NCKH; thông tin KH-CN; thanh tra KH-CN và nhiều nội dung khác nữa [16, tr.28] 17 Do tính không chắc chan của công cuộc tìm tòi, khám pha cái mới, không giống các hoạt động 6n định, lặp đi lặp lại trong sản xuất thông thường nên quản lý KH-CN cũng là một lĩnh vực quản lý đặc thù.
Đó chính là tính linh hoạt, tính mềm, hay tính cơ động của quản lý [16, tr. Như vậy quản lý KH-CN là một hoạt động đặc thù. Đó cũng chính là một nghề nghiệp riêng, có những tiêu chí và chuẩn mực hành động đặc thù so với nhiều lĩnh vực hoạt động khác trong xã hội [17]. Quản lý KH-CN là một nghé, thì những người làm quản lý trong lĩnh vực này cũng phải được đào tạo bồi dưỡng thường xuyên dé đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của công việc quan lý.
Nghiên cứu khoa học Nghiên cứu Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới về tự nhiên và xã hội. Những kiến thức hay học thuyết này tốt hơn có thê thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp. Như vậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy. Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội.
Phân biệt ra 2 hệ thống tri thức: Tri thức kinh nghiệm và Tri thức khoa học. - Tri thức kinh nghiệm: là những hiéu biết được tích luỹ qua hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên. Quá trình này giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa con người trong xã hội. Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế.
Tuy nhiên tri thức kinh nghiệm chưa thật sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy hết được các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con người. Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học. 18 - Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích luỹ một cách có hệ thong nhờ hoạt động NCKH, các hoạt động nay có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học. Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên.
Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học (disclipline) như: triết hoc, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học, tâm lý hoc. Vậy NCKH là gì ? NCKH là hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra hoặc thử nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức, kết quả thí nghiệm. dé phát hiện ra những cai mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn.
Con người muốn NCKH phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu và cái chính phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trường. Dinh nghĩa động cơ Nhiều nhà tâm lý học định nghĩa động cơ theo nghĩa rộng như, P.Young coi “động cơ là cái quy định hành vi nói chung”; J.Guiford định nghĩa “Động cơ là một trạng thái bat kì nào đó quy định, điều khiển và duy trì tính tích cực”; L.Bozovic coi động cơ là “nguyên nhân tâm lý của hoạt động [25. Với cách hiểu như vậy sẽ gặp khó khăn đó là quy tat cả mọi yếu tố thúc đây quy định hành vi vào lĩnh vực động cơ, động cơ không có sự phân biệt rõ ràng với các yêu tố tâm lý khác. Một số nhà tâm lý học lại thu hẹp khái niệm động cơ, ví dụ như S.Frued coi động cơ như bản năng sống, chết, ham muốn khoái lạc nhục duc.Adler cho rằng : động cơ là ham muốn dành vị trí thống tri và địa vi siêu đăng.Lewin cho răng : động cơ là môi tương quan giữa trường lực bên ngoài và nội 19 lực tâm lý bên trong.
Medofin coi động cơ là sự thay đôi hoocmon và khoái cảm, được kích thích bằng dòng điện.với các định nghĩa như vậy đã quy động cơ vào những yếu tố sinh vật, bản năng và hiểu máy móc động cơ con người: J.Piegie cho răng tính định hướng tích cực có chọn lọc của hành vi tạo thành bản chất của hiện tượng được xác định là động co; Rubinstein coi “Động cơ là sự quy định về mặt chủ quan hành vi con người bởi thế giới, sự quy định này thê hiện gián tiếp bằng quá trình phản ánh động, thông qua động cơ của mình, con người liên hệ với bối cảnh hiện thực: [25, tr.Smith định nghĩa động cơ như một quá trình bên trong có ảnh hưởng đến hướng, tính bền vững và sức mạnh của hành vi có mục đích [12, tr.Leonchiev khẳng định “động cơ chính là đối tượng có khả năng đáp ứng nhu cầu đã được chủ thé tri giác, biểu tượng, tư duy.d6 là sự phan ánh chủ quan về đối tượng thoả mãn nhu cầu. Động cơ có chức năng thúc đây và định hướng hoạt động nhăm thoả mãn nhu cầu. Qua các định nghĩa trên có thé hiểu một cách chung nhất động cơ là một hiện tượng tâm lý thúc đây quy định sự lựa chọn và hướng của hành vi. Bản chất xã hội của hiện tượng động cơ Động cơ con người mang bản chất xã hội.
Các động cơ nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần, nhận thức, tình cảm, giao lưu.là đặc trưng nổi bật của con người. Động cơ của con người được đặc trưng hình thành bởi các mối quan hệ xã hội, trong quá trình hoạt động của chủ thé mà nó tham gia vào chứ không thé có sẵn từ lúc đứa bé mới sinh ra. Hệ thống động cơ của con người được hình thành trên cơ sở hoạt động giao tiếp của chủ thé trong hệ thống các quan hệ xã hội, các nhóm xã hội nhất định mà ở đó chủ thé thực hiện vai trò, vị thé của mình. Ké cả những động cơ đáp ứng những nhu cau tự nhiên, bản năng thì ở con người, những động cơ ấy cũng có bản chất lịch sử, xã hội.
Sở dĩ như vậy là vì kê cả những nhu câu tự nhiên của con người cũng có nội dung và 20 phương thức thoả mãn đều là sản phẩm phát triển của xã hội do con người sáng tạo ra, phụ thuộc vao điều kiện sống, đặc biệt là lối sống — văn hoá đặc trưng cho mỗi nhóm người, mỗi một dân tộc, phụ thuộc vào trình độ phát triển, kinh tế xã hội của thời đại mà họ đang sống và đồng thời phụ thuộc vào quá trình giáo dục mà họ đang được thụ hưởng. Bộ mặt tâm lý xã hội của cá nhân đều được thể hiện tập trung trong động cơ. Tất cả các thành tố nhân cách đều có quan hệ chặt chẽ với động cơ chung của cuộc sống, cũng như động cơ cụ thẻ của từng hành động. Đặc điểm của động cơ - Đặc trưng của động cơ là tính ÿ thức.
Ý thức là sự phản ánh tâm lý cao nhất mà chỉ riêng con người mới có, phản ánh bằng ngôn ngữ, là khả năng con người hiểu được các tri thức mà con người tiếp thu được. Dé một nhu cau trở thành động cơ thúc day hoạt động thì trước hết nó phải được đối tượng hoá (tức là đối tượng của nhu cầu phải được chủ thể ý thức một cách đầy đủ), nghĩa là chủ thé phải hình dung ra đối tượng nào có thể có khả năng thoả mãn nhu cầu của bản thân mình. Chủ thể cần xây dựng được một biểu tượng cụ thể về nó. Khi đó nhu cầu mới có chức năng thúc day, chức năng hướng dẫn hoạt động tức là trở thành động cơ.
“ Sự ý thức được các động cơ là một hiện tượng có sau (thứ phát) chỉ nảy sinh ở mức độ nhân cách và thường xuyên được tái tạo trong quá trình phát triển nhân cách” [29,tr. Các động cơ chỉ lộ ra trước ý thức một cách khách quan bằng cách phân tích hoạt động, phân tích động thái hoạt động. Còn trong chủ quan thì động cơ thé hiện dưới dang gián tiếp của nó, tức là các hình thức trải nghiệm như mong ước, ý nguyện đạt được mục tiêu. - Tính thứ bậc của động cơ Bat kì một hoạt động nào cũng do nhiều động cơ thúc đây, chi phối.