đặt vấn đề QLRBV trong hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001. Trên thế giới hiện nay đã có nhiều bộ tiêu chuẩn QLRBV cấp quốc gia như: Canada, Thụy Điển, Malaysia, Indonesia, …; cấp vùng như Bắc Mỹ (SFI), Đông Nam Á (ASEAN), …; cấp quốc tế như tiến trình Helsinki, tiến trình Montreal, FSC và ITTO mặc dù có phạm vi hoạt động khác nhau nhưng đều có mục tiêu chung là hướng đến QLRBV. Hiện nay “những Tiêu chuẩn và những Tiêu chí QLRBV" của FSC quốc tế đã được công nhận và đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Nhiều tổ chức được FSC uỷ quyền cấp FSC, nhiều quốc gia đã và đang dùng bộ tiêu chuẩn này để xây dựng Bộ tiêu chuẩn cấp vùng hay cấp quốc gia cho việc đánh giá QLR và cấp FSC.
Tính đến tháng 6 năm 2017, toàn thế giới đã có xấp xỉ 500 triệu ha rừng đạt tiêu chuẩn QLRBV (FM và FM/CoC) và 43.296 chứng chỉ đạt tiêu chuẩn Chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) được cấp bởi 2 hệ thống FSC Quốc tế là PEFC (The Programme for the Endorsement of Forest Certification – Chương trình xác nhận FSC) và FSC (The Forest Stewardship Council – Hội đồng Quản trị rừng thế giới). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Theo số liệu tháng 3/2018, chứng chỉ FSC đã cấp cho 85 nước với 1.553 chứng chỉ FM/CoC tương đương diện tích 199.759 chứng chỉ CoC cho 122 nước. Nước đứng đầu về diện tích rừng được cấp chứng chỉ QLRBV FSC là Canada với 54.671 ha và đứng thứ hai là Nga với diện tích được cấp chứng chỉ là 46.489 ha; nước đứng đầu về chứng chỉ FSC CoC là Trung Quốc với 5.599 chứng chỉ và xếp thứ hai là Hoa Kỳ với 2. Chứng chỉ PEFC đã cấp cho 34 nước chứng chỉ FM/CoC với hơn 750.000 chủ rừng với diện tích là 300.105 chứng chỉ CoC cho 70 nước.
Nước đứng đầu về diện tích rừng được cấp chứng chỉ QLRBV PEFC FM là Canada với 131.119,991ha và đứng thứ hai là Hoa Kỳ với diện tích được cấp chứng chỉ là 33.408 ha; nước đứng đầu về chứng chỉ PEFC CoC là Pháp với 2.029 chứng chỉ và xếp thứ hai là Đức với 1. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 DIỆN TÍCH RỪNG CÓ CHỨNG CHỈ FSC TOÀN CẦU (Tính đến tháng 3/2018) 2.807 ha North America( Bắc Mỹ) 13.742 ha South America & Caribbean (Nam Mỹ và Caribê) 98.452 ha Africa (Châu Phi) Oceania (Châu Đại Dương) Hình 1. Diện tích rừng có chứng chỉ FSC theo Châu lục tính đến tháng 3/2018 Qua Hình 1 cho thấy rằng Châu Âu có diện tích được cấp chứng chỉ nhiều nhất, kế tiếp là khu vực Bắc Mỹ. Lý do chính là: các nước ở hai châu lục này phần lớn là những nước đã phát triển, chất lượng QLR đạt trình độ cao và gần như đã đạt các tiêu chuẩn FSC; Quy mô diện tích rừng thường rất lớn, phần lớn là rừng trồng nên việc đánh giá cấp chứng chỉ dễ dàng và ít tốn kém hơn so với rừng tự nhiên nhiệt đới; Sản xuất lâm nghiệp có quy mô lớn, hàng năm khai thác hàng chục triệu m3 gỗ, nhu cầu thâm nhập vào thị trường có chứng chỉ rất lớn do vậy làm cho động lực thị trường gỗ có FSC cao; Quyền sở hữu rừng tại các quốc gia này chủ yếu là sở hữu tư nhân, do vậy tính tự chủ, độc lập của chủ rừng trong mọi hoạt động về quản lý, tái đầu tư, sử dụng tài chính LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 trong kinh doanh và quản lý rừng rất cao, tạo điều kiện quan trọng cho việc nâng cao và duy trì quản lý rừng đạt được yêu cầu của FSC.
Các khu vực khác như: Châu Á, Châu Phi, Châu Đại Dương và Nam Mỹ - Caribe, diện tích được cấp chứng chỉ còn thấp (chiếm tỷ lệ 15,9% trong tổng diện tích do FSC cấp chứng chỉ trên toàn cầu). Diện tích (ha), Việt Nam, 234,856 Diện tích (ha), Thái Lan, 56,141 Diện tích (ha), Malaysia, 755,584 Diện tích (ha), Lào, 18,010 Diện tích (ha), Indonesia, 3,003,251 Diện tích (ha), Campuchia, 7,896 Campuchia Indonesia Lào Malaysia Thái Lan Việt Nam Diện tích (ha) 7,896 3,003,251 18,010 755,584 56,141 234,856 Hình 1.2: Diện tích rừng các nước ASEAN được nhứng nhận FSC đến tháng 3/2018 Ở khu vực ASEAN, diện tích rừng được FSC cấp chứng chỉ đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây, hiện tổng diện tích rừng được cấp chứng chỉ là 4.738 ha với 104 giấy chứng chỉ cho 6 quốc gia, Indonesia là nước đứng đầu về diện tích được cấp chứng chỉ với 3. (trong khi đó, năm 2007, diện tích được cấp chứng chỉ là 859.983 ha với 15 giấy chứng chỉ cho 5 quốc gia). FSC tại Việt Nam Việt Nam đã tham gia hoạt động cấp FSC từ những năm 1998 cho tới nay, cụ thể các giai đoạn như sau: Từ năm 1998, Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (World Wide Fund for LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Nature - WWF) đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, cục Phát triển Lâm nghiệp, Cục Kiểm lâm và một số cơ quan trong ngành lâm nghiệp trong việc tổ chức các hội thảo quốc gia về quản lý rừng bền vững.
Từ đó đến nay, WWF Đông dương là tổ chức giúp đỡ chủ yếu về tài chính và kỹ thuật cho Tổ công tác quốc gia Việt Nam trong việc xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia về quản lý rừng bền vững dựa theo các nguyên tắc và tiêu chuẩn của FSC. Giai đoạn 1998 - 2003 hoạt động thúc đẩy Quản lý Bảo vệ rừng chủ yếu là do tổ công tác Quốc gia (NWG) cùng với sự phối hợp của các tổ chức khác như TFT(Tropical Forest Trust), dự án REFAS, WWF Đông Dương góp phần đẩy mạnh quá trình cải thiện quản lý rừng thông qua các dự án hỗ trợ kỹ thuật cho một số chủ rừng xây dựng mô hình FSC. Từ năm 2004, các tổ chức này đã đẩy mạnh các hoạt đông theo từng chương trình riêng trong việc hỗ trợ các đơn vị quản lý rừng, thường là đơn vị lâm trường tiếp cận các tiêu chuẩn Quản lý bảo vệ rừng của FSC. Năm 2002, FSC đã khởi xướng một chương trình gọi là “Tăng khả năng tiếp cận tới chứng chỉ FSC cho các khu rừng quản lý quy mô nhỏ và kém tập trung”, được biết như là “Sáng kiến SLIMF”.
Và chứng chỉ nhóm được thiết kế nhằm giảm bớt các chi phí và tăng cơ hội cho các chủ rừng tham gia vào chứng chỉ FSC thông qua việc đóng góp các chi phí chứng chỉ giữa các chủ rừng. Đặc biệt trong bối cảnh kinh tế chung hiện nay trên toàn thế giới, nếu chúng ta không theo kịp yêu cầu thị trường thế giới thì sẽ bị loại bỏ, điều đó khẳng định như sản phẩm lâm sản của chúng ta sản xuất từ các sản phẩm gỗ không có chứng chỉ thì chúng ta không thể xuất sang các thị trường lớn trên thế giới như Châu Âu, Châu Mỹ được. Do vậy việc áp dụng công cụ hoặc phương pháp/tiêu chuẩn trong quản lý rừng để đạt được đến cấp FSC là mục tiêu hàng đầu của các Công ty lâm nghiệp của cả khối nhà nước và khối tư nhân và hộ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 gia đình trồng rừng. Về lý luận cũng như thực tiễn, QLRBV và FSC ở Việt Nam vẫn còn khá mới mẻ, còn có nhiều khoảng trống chưa được đề cập.
Mặc dù, tính đến tháng 3/2018, cả nước đã có hơn 234.856 ha rừng được cấp chứng chỉ FSC, nhưng diện tích được cấp chứng chỉ là rừng trồng chiếm 56% và được triển khai một cách tự phát từ một số doanh nghiệp có tiềm năng. Về quản lý rừng tự nhiên ở Việt Nam cho đến nay mới chỉ xây dựng được 10 mô hình thí điểm về QLRBV rừng tự nhiên là rừng sản xuất. Đến tháng 6 năm 2017, có 5 mô hình QLRBV đối với rừng tự nhiên với quy mô lớn của Tổng Công ty Lâm nghiệp Việt Nam (VINAFOR) với 17.549 ha rừng tự nhiên; Công ty Lâm nghiệp Đắc Tô, Kon Tum (hơn 15.700 ha rừng tự nhiên); Công ty lâm nghiệp Nam Trường Sơn (31.800 ha rừng tự nhiên) thuộc Tổng Công ty Lâm Nông Công nghiệp Long Đại, Quảng Bình; Công ty Đại Thành, Đắk Nông (18.590,30 ha rừng tự nhiên) và Công ty lâm nghiệp Hương Sơn, Hà Tĩnh(19.749 ha rừng tự nhiên) được cấp chứng chỉ FSC. Hiện tại, Việt Nam là một nước xuất khẩu đồ gỗ ngoài trời hàng đầu thế giới nhưng thị trường cung cấp nguồn nguyên liệu có FSC hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu, doanh nghiệp trong nước đang khát nguồn gỗ FSC.
Do vậy việc tìm kiếm các nguồn gỗ có chứng chỉ với giá thành đáp ứng được yêu cầu ngày càng được các đơn vị kinh doanh về lâm sản quan tâm hàng đầu. Đây cũng có thể được đánh giá là một động cơ để khuyến khích các cơ sở kinh doanh, các Công ty lâm nghiệp bắt tay làm cầu nối thị trường bền vững với các chủ rừng để tiến hành thực hiện các hoạt động cấp FSC, đáp ứng được yêu cầu của các nước nhập khẩu đề ra và cải thiện được tình trạng quản lý rừng hiện tại của nước ta cũng như tăng được các lợi ích về môi trường, kinh tế, xã hội cho các chủ rừng, các cấp chính quyền địa phương và người dân. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thảo luận về tổng quan nghiên cứu.
Tổng quan những vấn đề liên quan đến tiến trình xây dựng Quản lý rừng bền vững và FSC trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy nổi lên một số nội dung như sau: - Các chính sách lâm nghiệp ở Việt Nam cũng như của các quốc gia khác trên thế giới được xây dựng từ trước đến nay đều nhằm hướng đến đạt được 3 mục tiêu chính là: 1. Bảo vệ và phát triển diện tích và chất lượng rừng, bảo tồn ĐDSH và chống suy thoái môi trường sống; 2. Duy trì và phát triển nguồn cung cấp sản phẩm rừng cho phát triển kinh tế và đáp ứng nhu cầu hàng ngày của nhân dân; 3. Giải quyết các vấn đề xã hội như việc làm, tăng thu nhập cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định tình hình dân sinh, kinh tế, xã hội.
- Xu hướng Quản lý rừng bền vững và FSC hiện đang là giải pháp quan trọng được toàn thể cộng đồng thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đặc biệt quan tâm nhằm đảm bảo cho việc quản lý, sử dụng, xây dựng và phát triển rừng bền vững vì những mục tiêu về kinh tế, môi trường và xã hội.