Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo tài nguyên rừng toàn cầu của Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO), diện tích rừng thế giới đã giảm 3%, từ mức 4.128 triệu ha năm 1990 xuống còn 3.999 triệu ha. Tại Việt Nam, thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ghi nhận tổng diện tích rừng đạt 14,38 triệu ha với độ che phủ 41,19%, trong đó rừng tự nhiên chiếm 10,24 triệu ha và rừng trồng chiếm 4,14 triệu ha. Mặc dù diện tích che phủ có xu hướng gia tăng, chất lượng rừng tự nhiên và rừng trồng vẫn suy giảm do kỹ thuật khai thác chưa hợp lý. Nhằm đáp ứng mục tiêu của Đề án Quản lý rừng bền vững giai đoạn 2016 - 2020 với chỉ tiêu tối thiểu 500.000 ha rừng sản xuất được cấp chứng chỉ, việc chuyển đổi mô hình lâm nghiệp truyền thống sang quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn quốc tế là yêu cầu cấp thiết.

Nghiên cứu được thực hiện tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Di Linh (tỉnh Lâm Đồng), đơn vị đang trực tiếp quản lý 20.949,56 ha đất có rừng với tổng trữ lượng gỗ đạt 1.779.118,90 m³. Đề tài tập trung đánh giá toàn diện hiện trạng quản lý bảo vệ rừng, xác định các điểm không phù hợp so với tiêu chuẩn quốc tế và xây dựng phương án khắc phục nhằm đạt chứng chỉ quản lý rừng FSC FM/CoC. Phạm vi nghiên cứu mở rộng trên địa bàn 4 xã vùng đệm bao gồm Gung Ré, Sơn Điền, Gia Bắc và Liên Đầm với 5.289 hộ dân. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học định lượng về cấu trúc lâm phần 2.248,72 ha rừng Thông ba lá, hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu hóa chu kỳ kinh doanh gỗ lớn và nâng cao giá trị gia tăng chuỗi cung ứng gỗ xuất khẩu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng khung lý thuyết quản lý rừng bền vững từ Tổ chức Gỗ nhiệt đới Quốc tế (ITTO) và Tiến trình Helsinki, tiếp cận đồng thời ba trụ cột: bền vững kinh tế, cân bằng sinh thái và công bằng xã hội. Hệ thống tiêu chuẩn đánh giá dựa trên Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững của Hội đồng Quản trị Rừng Thế giới (FSC) thông qua phiên bản chuẩn hóa của tổ chức GFA gồm 10 nguyên tắc, 56 tiêu chí và 203 chỉ số định lượng. Khung lý thuyết này tích hợp khái niệm Rừng có giá trị bảo tồn cao (HCVF) từ cấp độ 1 đến 6 và Sáng kiến tiếp cận chứng chỉ cho các khu rừng quy mô nhỏ (SLIMF). Về mặt sinh thái học lâm nghiệp, nghiên cứu vận dụng quy luật phân bố lý thuyết Weibull hai tham số để mô phỏng cấu trúc mật độ theo đường kính (N-D1.3) và phương trình hồi quy phi tuyến tính Logarit tự nhiên để xác định tương quan giữa chiều cao vút ngọn và đường kính ngang ngực (Hvn-D1.3).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp về kinh tế - xã hội tại 29 thôn buôn và dữ liệu sơ cấp từ điều tra thực địa trong giai đoạn 2017 - 2018. Dung lượng mẫu điều tra rừng trồng gồm 45 ô tiêu chuẩn định hình tạm thời với diện tích 500 m²/ô, phân bố đại diện theo 6 cấp tuổi (từ cấp tuổi 2 đến cấp tuổi 7, tương ứng các năm trồng từ 1982 đến 2011) và trải đều trên 3 dạng địa hình đặc trưng gồm đỉnh đồi, sườn đồi và chân đồi. Phương pháp chọn mẫu phân tầng điển hình được lựa chọn nhằm phản ánh chính xác sự biến động về lập địa và mật độ lâm phần.

Phương pháp phân tích ma trận SWOT được áp dụng để lượng hóa các yếu tố nội lực và ngoại cảnh tác động đến mối quan hệ giữa chủ rừng và cộng đồng. Quy trình đánh giá FSC thực hiện qua 3 kênh độc lập: rà soát hồ sơ nội bộ, tham vấn các bên liên quan và khảo sát thực địa. Hệ thống cho điểm áp dụng thang đo 5 mức từ Rất kém (dưới 4,1 điểm) đến Hoàn chỉnh (8,6 đến 10 điểm) để phân loại các lỗi chưa tuân thủ lớn và nhỏ. Việc kết hợp phân tích phân bố Weibull và hồi quy sinh trưởng giúp dự báo chính xác sản lượng gỗ thương phẩm cho từng chu kỳ tỉa thưa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tổng diện tích rừng trồng Thông ba lá của đơn vị đạt 2.248,72 ha với tổng trữ lượng cây đứng ước tính 289.416,05 m³, trong đó diện tích rừng thành thục từ 25 tuổi trở lên đạt 672,31 ha (chiếm tỷ lệ 30%) với trữ lượng gỗ đạt 128.107 m³. Cấu trúc lâm phần biến đổi rõ nét theo tuổi: mật độ giảm mạnh từ 2.800 cây/ha ở rừng trồng năm 2011 (cấp tuổi 2) xuống còn 370 cây/ha ở rừng trồng năm 1982 (cấp tuổi 7) do quá trình tỉa thưa tự nhiên kết hợp các biện pháp lâm sinh. Đường kính ngang ngực bình quân tăng trưởng liên tục từ 7,4 cm lên 31,0 cm, trong khi chiều cao vút ngọn bình quân phát triển từ 1,7 m lên 19,2 m.

Trữ lượng gỗ bình quân ở giai đoạn thành thục (trên 25 năm) đạt 190,55 m³/ha, cung cấp tỷ lệ sản lượng gỗ thương phẩm đạt 74%, tương đương 141,0 m³/ha. Đánh giá kinh tế xã hội tại 4 xã ghi nhận tỷ lệ hộ nghèo dao động từ 20% đến 46%, với mức thu nhập bình quân đầu người tại xã Gung Ré đạt 28 triệu đồng/năm và xã Sơn Điền đạt 17 triệu đồng/năm. Đánh giá mức độ tuân thủ tiêu chuẩn FSC phát hiện các lỗi chưa phù hợp tập trung vào việc thiếu hệ thống hóa cơ sở dữ liệu số, thiếu tài liệu đánh giá tác động môi trường cục bộ và công tác giám sát các khu vực rừng bảo tồn cao (HCVF 4 cho lưu vực suối Da Klong Jum, Da Tou Glé).

Thảo luận kết quả

Sự suy giảm mật độ lâm phần song hành cùng sự gia tăng đường kính và thể tích cây đứng là quy luật phát triển sinh học tất yếu của loài Thông ba lá khi có tác động tỉa thưa hợp lý. Quy luật phân bố số cây theo đường kính được mô tả tối ưu qua đồ thị hàm mật độ phân bố Weibull, trong khi tương quan sinh trưởng chiều cao và đường kính thể hiện rất rõ qua biểu đồ tán xạ đường cong Logarit. Biến động sản lượng theo cấp tuổi có thể biểu diễn trực quan qua biểu đồ cột so sánh giữa trữ lượng cây đứng toàn phần và trữ lượng gỗ thương phẩm.

So sánh với bức tranh chứng chỉ rừng toàn cầu (Canada dẫn đầu với 54,67 triệu ha, Nga đạt 46,49 triệu ha) và khu vực ASEAN (Indonesia đạt 3,00 triệu ha, Việt Nam đạt 234.856 ha tính đến tháng 3/2018), diện tích rừng có chứng chỉ của Việt Nam phần lớn tập trung ở các đơn vị tiên phong. Những tồn tại về tài liệu hóa và an toàn lao động tại Công ty Lâm nghiệp Di Linh tương đồng với thực trạng chung của các công ty lâm nghiệp chuyển đổi từ lâm trường quốc doanh. Tình trạng canh tác nương rẫy và áp lực lấy củi đốt của hơn 80% hộ đồng bào dân tộc thiểu số bản địa đòi hỏi giải pháp cân bằng giữa bảo tồn nghiêm ngặt và chia sẻ lợi ích sinh kế bền vững.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình điều chỉnh sản lượng khai thác và kỹ thuật lâm sinh: Phòng Kỹ thuật - Quản lý bảo vệ rừng cần chủ trì áp dụng hạn mức khai thác thương phẩm tối đa 141,0 m³/ha đối với diện tích 672,31 ha rừng thông thành thục. Triển khai kế hoạch khai thác luân kỳ gắn liền với tỉa thưa nuôi dưỡng cho 227,76 ha rừng trồng giai đoạn 2005 nhằm đảm bảo trữ lượng khai thác hàng năm luôn thấp hơn lượng tăng trưởng định kỳ 5 năm của lâm phần, thực hiện liên tục trong giai đoạn 2019 - 2023.

Thứ hai, khắc phục triệt để các lỗi chưa tuân thủ tiêu chuẩn FSC: Ban Giám đốc công ty chỉ đạo các xí nghiệp trực thuộc rà soát và số hóa 100% hồ sơ quản lý rừng, trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động đạt chuẩn cho 67 công nhân kỹ thuật và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách. Hoàn thiện báo cáo đánh giá tác động môi trường và xã hội chi tiết cho toàn bộ các phân trường trước quý 4 năm 2019.

Thứ ba, thiết lập hành lang bảo vệ và giám sát định kỳ hệ thống rừng có giá trị bảo tồn cao: Hai xí nghiệp lâm nghiệp Gung Ré và Bắc Sơn phối hợp cắm mốc ranh giới ngoài thực địa cho các khu vực rừng HCVF 4 đầu nguồn lưu vực sông Nhum và suối Da Kron. Thực hiện tần suất giám sát chất lượng nguồn nước và đa dạng sinh học định kỳ 12 tháng/lần bắt đầu từ năm 2019.

Thứ tư, mở rộng cơ chế giao khoán gắn với chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng: Ban Giám đốc công ty ký hợp đồng khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài với các hộ dân tại 29 thôn thuộc 4 xã giáp ranh, ưu tiên tạo việc làm trong các khâu ươm giống, chăm sóc và tỉa thưa rừng trồng. Mục tiêu nâng thu nhập bình quân của người dân nhận khoán tăng thêm tối thiểu 15% vào năm 2022, góp phần giảm tỷ lệ nghèo đa chiều khu vực vùng đệm xuống dưới mức 15%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, ban lãnh đạo và cán bộ kỹ thuật tại các công ty nông lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ và rừng đặc dụng: Cung cấp bộ công cụ tự đánh giá các chỉ số FSC, phương pháp nhận diện lỗi chưa tuân thủ và quy trình xây dựng phương án khắc phục phục vụ mục tiêu xin cấp chứng chỉ FM/CoC.

Thứ hai, cơ quan quản lý nhà nước như Chi cục Kiểm lâm, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các tỉnh Tây Nguyên: Cung cấp bằng chứng thực tiễn về mô hình kinh tế rừng thông gắn với phân tích SWOT vùng đồng bào dân tộc thiểu số, hỗ trợ hoạch định chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và tái cơ cấu lâm trường quốc doanh.

Thứ ba, các nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng và Kinh tế lâm nghiệp: Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp ứng dụng phân bố Weibull trong mô phỏng cấu trúc lâm phần và phương pháp điều tra rừng có giá trị bảo tồn cao.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ và đơn vị tư vấn chứng chỉ rừng quốc tế: Cung cấp nguồn số liệu điển hình về mối quan hệ giữa sinh kế của 5.289 hộ dân với công tác quản trị tài nguyên rừng cấp cơ sở, phục vụ việc thiết kế các dự án phát triển cộng đồng và bảo tồn đa dạng sinh học.

Câu hỏi thường gặp

Giá trị cốt lõi của việc đạt chứng chỉ FSC đối với Công ty Lâm nghiệp Di Linh là gì? Chứng chỉ FSC xác nhận tính pháp lý và nguồn gốc bền vững cho 289.416,05 m³ gỗ thông, giúp công ty thâm nhập trực tiếp vào các thị trường xuất khẩu cao cấp như Bắc Mỹ và Châu Âu, đồng thời nâng cao hiệu quả quản trị và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.

Mô hình phân bố Weibull có ưu thế gì trong đánh giá cấu trúc rừng Thông ba lá? Phân bố Weibull có tính linh hoạt cao với hai tham số hình dạng và tỷ lệ, giúp mô tả chính xác mật độ cây rừng từ 370 đến 2.800 cây/ha theo từng cấp kính D1.3, làm cơ sở khoa học để xác định cường độ tỉa thưa hợp lý cho từng cấp tuổi.

Thách thức xã hội lớn nhất mà chủ rừng phải đối mặt tại khu vực nghiên cứu là gì? Tỷ lệ hộ nghèo tại 4 xã vùng đệm dao động từ 20% đến 46% cùng với tập quán phụ thuộc vào lâm sản ngoài gỗ và áp lực đất sản xuất nông nghiệp tạo nguy cơ xâm lấn tài nguyên rừng tự nhiên và rừng trồng của doanh nghiệp.

Khu vực rừng có giá trị bảo tồn cao (HCVF) tại công ty được xác định như thế nào? Nghiên cứu tập trung khoanh vùng các diện tích HCVF 4 giữ chức năng phòng hộ đầu nguồn, kiểm soát xói mòn cho hệ thống suối Da Klong Jum, Da Tou Glé và các khu vực HCVF 5, HCVF 6 gắn liền với phong tục văn hóa của đồng bào dân tộc Kơ ho và Nộp.

Quy mô điều tra 45 ô tiêu chuẩn có đảm bảo tính đại diện cho toàn bộ lâm phần không? Với 45 ô tiêu chuẩn diện tích 500 m²/ô được phân bố đều qua 6 cấp tuổi và 3 dạng lập địa đặc trưng, mẫu điều tra phản ánh đầy đủ quy luật sinh trưởng của 2.248,72 ha rừng thông, đảm bảo độ tin cậy thống kê cho các mô hình hồi quy.

Kết luận

Luận văn đã giải quyết toàn diện bài toán đánh giá thực trạng và xây dựng lộ trình nâng cao năng lực quản lý rừng bền vững theo chuẩn quốc tế tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Di Linh:

  • Xác lập cơ sở dữ liệu định lượng chi tiết về 2.248,72 ha rừng trồng Thông ba lá, xác định quy luật sinh trưởng đường kính đạt 31,0 cm và trữ lượng thành thục đạt 190,55 m³/ha.
  • Nhận diện chính xác hệ thống các điểm chưa phù hợp theo 10 nguyên tắc FSC, tập trung vào công tác an toàn lao động, đánh giá tác động môi trường và giám sát tài nguyên.
  • Phân tích sâu sắc bức tranh kinh tế - xã hội của 5.289 hộ dân vùng đệm, định hình giải pháp hài hòa giữa mục tiêu sản xuất kinh doanh và hỗ trợ cộng đồng bản địa.
  • Xây dựng khung kế hoạch khắc phục lỗi có tính khả thi cao, phân công rõ trách nhiệm từng bộ phận chức năng với lộ trình thực hiện đồng bộ trong giai đoạn 2019 - 2023.
  • Đóng góp mô hình thực tiễn chuẩn mực cho tiến trình tái cơ cấu các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng và khu vực Tây Nguyên tiến tới mục tiêu phát triển kinh tế lâm nghiệp xanh và bền vững.