Tổng quan nghiên cứu

Khu rừng Di tích lịch sử và Cảnh quan môi trường Mường Phăng (tỉnh Điện Biên) giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng, văn hóa và môi trường sinh thái. Nơi đây gắn liền với Di tích Sở chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử và đóng vai trò rừng phòng hộ đầu nguồn điều tiết nguồn nước cho 681 ha mặt nước hồ Pá Khoang, cung ứng nước tưới cho vựa lúa cánh đồng Mường Thanh cùng 4 nhà máy thủy điện trong khu vực. Tổng diện tích tự nhiên của vùng nghiên cứu đạt 9.157,9 ha, trong đó diện tích rừng đặc dụng do Ban Quản lý rừng Mường Phăng trực tiếp quản lý là 3.300,45 ha.

Tuy nhiên, áp lực dân sinh từ 1.967 hộ gia đình với 8.958 nhân khẩu thuộc 4 dân tộc (Thái chiếm 69,16%, Khơ Mú chiếm 17,78%, Mông chiếm 11,81%, Kinh chiếm 1,25%) cùng tỷ lệ hộ nghèo lên tới 27,7% đang tạo ra thách thức lớn cho công tác bảo tồn. Sự phụ thuộc sâu sắc của người dân vào tài nguyên rừng thông qua canh tác nương rẫy, khai thác gỗ làm nhà sàn và lấy củi đun đã đe dọa trực tiếp tới hệ sinh thái. Mục tiêu cụ thể của luận văn là đánh giá toàn diện thực trạng quản lý rừng dựa vào cộng đồng, phân tích mức độ tham gia của người dân bản địa và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn gắn với phát triển sinh kế bền vững giai đoạn 2020 - 2030.

Phạm vi nghiên cứu tập trung tại địa bàn 2 xã Mường Phăng và Pá Khoang, tiến hành khảo sát chuyên sâu tại 2 thôn đại diện là thôn Mường Phăng và thôn Pú Sung. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị trên 2.316,05 ha rừng giao khoán (chiếm 70,17% tổng diện tích), tối ưu hóa nguồn thu dịch vụ môi trường rừng với mức chi trả 800.000 đồng/ha/năm, đồng thời bảo tồn nghiêm ngặt 1.005 loài thực vật bậc cao và 228 loài động vật có xương sống quý hiếm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết Quản lý rừng dựa vào cộng đồng (Community-Based Forest Management - CBFM) và lý thuyết Lâm nghiệp cộng đồng (Social Forestry). Khung lý thuyết này khẳng định rằng quản lý tài nguyên thiên nhiên chỉ đạt tính bền vững khi dung hòa được quyền lợi sinh kế của cộng đồng bản địa với mục tiêu bảo tồn của Nhà nước. Nghiên cứu vận dụng thang đo mức độ tham gia của Carter (1996) và khung đánh giá của Nguyễn Bá Ngãi (2005) để phân loại sự tham gia của người dân từ mức độ thụ động (cung cấp lao động làm thuê, hưởng lợi tài chính trước mắt) đến mức độ chủ động (đồng quản lý, ra quyết định).

Bên cạnh đó, nghiên cứu hệ thống hóa 4 khái niệm cốt lõi:

  1. Cộng đồng dân cư thôn bản: Tập hợp các hộ gia đình gắn bó về không gian lãnh thổ, văn hóa và sinh kế truyền thống.
  2. Lâm nghiệp cộng đồng: Toàn bộ các hoạt động gắn kết người dân với việc bảo vệ, phát triển và chia sẻ lợi ích từ rừng.
  3. Quản lý rừng cộng đồng: Hình thức cộng đồng trực tiếp sở hữu, quản lý diện tích rừng được Nhà nước giao lâu dài.
  4. Quản lý rừng dựa vào cộng đồng: Hình thức cộng đồng tham gia quản lý và hưởng lợi trên diện tích rừng thuộc quyền sở hữu của tổ chức Nhà nước thông qua hợp đồng giao khoán.

Cơ sở pháp lý của đề tài bám sát các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành: Luật Lâm nghiệp 2017 (Khoản 1 Điều 26, Điều 52), Luật Đa dạng sinh học 2008 (Điều 15), Luật Đất đai 2013, Nghị định 156/2018/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Lâm nghiệp, Nghị định 35/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp, Quyết định 1976/QĐ-TTg về quy hoạch rừng đặc dụng cả nước và Quyết định 07/2012/QĐ-TTg về cơ chế đồng quản lý rừng đặc dụng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận đa chiều, kết hợp dữ liệu thứ cấp và phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA/RRA):

  • Thu thập dữ liệu thứ cấp: Kế thừa có chọn lọc các báo cáo tài nguyên rừng, số liệu khí tượng - thủy văn, bản đồ địa chính và hồ sơ chi trả dịch vụ môi trường rừng của Ban Quản lý rừng Mường Phăng giai đoạn 2015 - 2019.
  • Cỡ mẫu và chọn mẫu sơ cấp: Áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên. Điều tra tại 2 thôn điểm (thôn Mường Phăng và thôn Pú Sung) với 3 nhóm hộ kinh tế (nghèo, trung bình, khá), chọn ngẫu nhiên 3 - 5 hộ/nhóm để phỏng vấn sâu bằng bảng hỏi bán định hướng (tổng số 24 hộ điều tra chi tiết). Tiến hành phỏng vấn chuyên gia gồm 5 cán bộ kỹ thuật Ban Quản lý rừng, 4 cán bộ Ủy ban nhân dân xã và 4 trưởng thôn/bản. Tổ chức 2 cuộc thảo luận nhóm tập trung (5 - 7 người có uy tín/nhóm) và thực hiện ma trận phân tích SWOT.
  • Lý do chọn phương pháp: Giúp lượng hóa chính xác cơ cấu đất đai, thu nhập hộ gia đình và đo lường mức độ đồng thuận của cộng đồng đối với các thể chế quản lý rừng bản địa. Dữ liệu được mã hóa và xử lý thống kê mô tả trên phần mềm Excel 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích hiện trạng tài nguyên rừng cho thấy Ban Quản lý rừng Di tích lịch sử và Cảnh quan môi trường Mường Phăng đang quản lý tổng diện tích 3.300,45 ha rừng đặc dụng. Cơ cấu trạng thái rừng gồm: rừng tự nhiên đạt 3.088,57 ha (chiếm 93,58%) và rừng trồng đạt 211,88 ha (chiếm 6,42%). Trong diện tích rừng tự nhiên, trạng thái rừng phục hồi nghèo kiệt sau nương rẫy chiếm tỷ trọng lớn nhất với 47,44% (1.565,82 ha), rừng giàu tập trung tại khu vực Sở chỉ huy chiến dịch chiếm 29,83% (984,40 ha), và rừng trung bình chiếm 16,31% (538,35 ha).

Về phương thức quản lý, đơn vị thực hiện cơ chế phân vùng rõ rệt: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt do lực lượng chuyên trách quản lý chiếm 29,83% (984,40 ha); diện tích còn lại chiếm 70,17% (2.316,05 ha) được ký hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng tới 24 thôn/bản và 1 doanh nghiệp tư nhân. Mỗi thôn thành lập 1 tổ quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng với quy mô 10 - 12 thành viên nòng cốt.

Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) đã trở thành đòn bẩy tài chính quan trọng. Đơn giá chi trả đạt mức 750.000 - 800.000 đồng/ha/năm, cao gần gấp 2 lần so với mức khoán hỗ trợ 400.000 đồng/ha theo Nghị định 75/2015/NĐ-CP. Điển hình trong năm 2019, bản Co Thón với 51 hộ nhận khoán 256,00 ha đã được chi trả 204,8 triệu đồng, đơn vị lực lượng vũ trang nhận 33,39 triệu đồng cho 41,74 ha, tạo động lực vật chất trực tiếp để người dân duy trì tuần tra rừng.

Tình hình chấp hành pháp luật lâm nghiệp có chuyển biến tích cực khi không xảy ra vụ cháy rừng nào trong giai đoạn 2017 - 2019. Diện tích phá rừng làm nương giảm mạnh từ 0,89 ha (3 vụ năm 2017) xuống còn 0,02 ha (1 vụ năm 2019). Tuy nhiên, các hành vi vi phạm quy mô nhỏ vẫn tồn tại âm ỉ với 15 vụ cất giữ lâm sản trái phép (tịch thu 5,21 m3 gỗ quý năm 2018) và 3 vụ vận chuyển lâm sản trái phép mỗi năm.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét dữ liệu qua biểu đồ cơ cấu đất đai, có thể nhận thấy sự bất cân xứng lớn trong nguồn lực sinh kế: tại bản Pá Trả, đất lâm nghiệp chiếm tới 51,9% ở nhóm hộ khá và 31,3% ở nhóm hộ nghèo, trong khi đất nông nghiệp bình quân chỉ đạt 1.000 - 2.000 m2/hộ. Kết quả khảo sát chỉ ra 100% hộ dân vẫn sử dụng củi làm chất đốt sinh hoạt (mức tiêu thụ mùa đông cao gấp 2 - 3 lần mùa hè) và 100% hộ làm chuồng trại, nhà sàn bằng gỗ rừng tự nhiên do không có kinh phí mua vật liệu thay thế.

Áp dụng thang đo mức độ tham gia, sự tham gia của người dân Mường Phăng hiện chỉ dừng lại ở bậc "tham gia vì động lực kinh tế trước mắt" và "đóng góp lao động làm thuê". Người dân thực hiện tuần tra để nhận tiền công khoán DVMTR chứ chưa thực sự được trao quyền ra quyết định quản trị rừng. Mối quan hệ họ hàng, dòng tộc khăng khít tại các bản làng cũng tạo ra rào cản tâm lý lớn, khiến các thành viên tổ bảo vệ rừng e ngại tố giác người thân khi xảy ra hành vi khai thác trộm gỗ.

Ma trận SWOT tổng hợp cho thấy điểm mạnh về vị trí giao thông thuận lợi, cảnh quan hồ Pá Khoang và hệ thống tri thức bản địa phong phú đang mở ra tiềm năng lớn để phát triển du lịch sinh thái cộng đồng và tham gia thị trường tín chỉ carbon REDD+ trên diện tích 1.565,82 ha rừng nghèo đang phục hồi.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Hoàn thiện thể chế và nâng cấp mô hình giao khoán sang đồng quản lý: Chuyển đổi các hợp đồng khoán bảo vệ rừng từ hình thức thuê nhân công thuần túy sang quy chế đồng quản lý rừng đặc dụng theo Quyết định 07/2012/QĐ-TTg. Ủy ban nhân dân huyện Điện Biên và Ban Quản lý rừng Mường Phăng cần hoàn thành rà soát, lồng ghép hương ước, luật tục bảo vệ rừng của 24 thôn/bản vào quy chế quản lý trước quý IV năm 2024. Mục tiêu nâng tỷ lệ hộ gia đình tự nguyện ký cam kết bảo vệ rừng từ 53,56% lên trên 90%.

  2. Đa dạng hóa nguồn thu sinh kế và phát triển dịch vụ hệ sinh thái: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Điện Biên chủ trì liên kết Ban Quản lý rừng với 5 doanh nghiệp du lịch tại hồ Pá Khoang, xây dựng chuỗi du lịch sinh thái - văn hóa lịch sử gắn với ẩm thực dân tộc Thái và Khơ Mú. Trích tối thiểu 10% doanh thu dịch vụ du lịch tái đầu tư cho quỹ tuần tra thôn bản. Đồng thời, xây dựng hồ sơ kỹ thuật tham gia cơ chế REDD+ nhằm thương mại hóa tín chỉ carbon trên 1.565,82 ha rừng phục hồi sinh thái giai đoạn 2024 - 2026.

  3. Đổi mới kỹ thuật nông lâm kết hợp và hỗ trợ năng lượng thay thế: Trung tâm Khuyến nông tỉnh phối hợp Ủy ban nhân dân 2 xã Mường Phăng, Pá Khoang triển khai mô hình canh tác bền vững: chuyển đổi chu kỳ nương rẫy ngắn (3 năm) sang mô hình xen canh lúa nước thâm canh kết hợp trồng cỏ voi chăn nuôi bò nhốt chuồng. Hỗ trợ 100% kinh phí xây dựng hầm khí sinh học biogas hoặc bếp đun tiết kiệm củi cho 27,7% hộ nghèo, nhằm giảm 60% áp lực khai thác củi đun rừng tự nhiên trước năm 2025.

  4. Nâng cao năng lực tuần tra và hiện đại hóa công nghệ giám sát: Ban Quản lý rừng Mường Phăng tổ chức tối thiểu 15 lớp tập huấn chuyên sâu/năm về kỹ năng sử dụng bản đồ định vị GPS, flycam giám sát lửa rừng cho 24 tổ bảo vệ rừng thôn bản. Thiết lập đường dây nóng và quy chế bảo vệ người tố giác vi phạm lâm luật, bảo đảm xử lý dứt điểm 100% các vụ chặt tỉa cây rừng nhỏ lẻ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Ban quản lý các khu rừng đặc dụng và phòng hộ: Tài liệu cung cấp khung tham chiếu thực chứng về quy trình phân vùng, tổ chức lực lượng và ký hợp đồng giao khoán 2.316,05 ha rừng cho 24 cộng đồng thôn bản, giúp các chủ rừng tối ưu hóa hiệu quả tuần tra bảo vệ rừng diện tích lớn.

  2. Cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp (Sở NN&PTNT, Chi cục Kiểm lâm): Cung cấp căn cứ thực tiễn để hoạch định chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng với mức giá 800.000 đồng/ha/năm, đồng thời hướng dẫn phương pháp lồng ghép thể chế bản địa vào hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cấp cơ sở.

  3. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng: Nguồn tư liệu học thuật giá trị về phương pháp nghiên cứu PRA, số liệu điều tra sinh thái chi tiết với 1.005 loài thực vật, 228 loài động vật và mô hình ứng dụng lý thuyết tham gia của Carter trong quản trị rừng vùng cao.

  4. Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và đơn vị phát triển dự án sinh kế, REDD+: Cung cấp bộ số liệu nền tảng về cơ cấu kinh tế hộ, tiềm năng thương mại hóa bể chứa carbon trên 1.565,82 ha rừng tái sinh và kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng vùng đệm hồ Pá Khoang.

Câu hỏi thường gặp

  1. Mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng tại Mường Phăng có điểm gì khác biệt so với quản lý rừng cộng đồng truyền thống? Quản lý rừng cộng đồng truyền thống áp dụng trên diện tích rừng được Nhà nước giao quyền sở hữu lâu dài cho thôn bản. Trong khi đó, tại Mường Phăng, 2.316,05 ha rừng đặc dụng thuộc sở hữu Nhà nước được Ban Quản lý giao khoán trách nhiệm bảo vệ cho 24 thôn bản thông qua hợp đồng kinh tế và chi trả tiền công tuần tra hàng năm.

  2. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) tại Mường Phăng đạt hiệu quả như thế nào? Chính sách DVMTR mang lại nguồn thu ổn định 750.000 - 800.000 đồng/ha/năm, cao gần gấp đôi mức hỗ trợ khoán bảo vệ rừng thông thường (400.000 đồng/ha). Nguồn quỹ này trực tiếp chi trả cho hàng trăm hộ dân (tiêu biểu như bản Co Thón nhận 204,8 triệu đồng/năm), tạo động lực kinh tế duy trì các tổ tuần tra thôn bản.

  3. Tại sao tình trạng khai thác tỉa trộm gỗ nhỏ lẻ vẫn tồn tại dù đã giao khoán 70,17% diện tích rừng? Nguyên nhân chủ yếu do 100% hộ dân địa phương vẫn duy trì tập quán làm nhà sàn bằng gỗ và đun nấu bằng củi, trong khi tỷ lệ hộ nghèo chiếm tới 27,7%. Ngoài ra, mối quan hệ họ hàng khăng khít trong bản làng khiến lực lượng tuần tra cơ sở gặp khó khăn trong việc tố giác người vi phạm.

  4. Tiềm năng phát triển tín chỉ carbon (REDD+) tại khu rừng Mường Phăng được đánh giá ra sao? Khu vực có 1.565,82 ha rừng nghèo đang trong giai đoạn phục hồi sinh thái nhanh sau nương rẫy, cùng chất lượng rừng tự nhiên từ trạng thái IIa trở lên. Tốc độ tăng trưởng sinh khối và khả năng hấp thụ carbon mạnh mẽ ở giai đoạn này tạo điều kiện lý tưởng để triển khai các dự án tín chỉ carbon quốc tế.

  5. Làm thế nào để giải quyết mâu thuẫn giữa tập quán canh tác nương rẫy truyền thống và yêu cầu bảo tồn rừng đặc dụng? Giải pháp trọng tâm là thâm canh tăng vụ trên diện tích ruộng nước hiện có, áp dụng tiến bộ kỹ thuật nông lâm kết hợp, trồng xen cây phân xanh cải tạo đất và phát triển chăn nuôi đại gia súc nhốt chuồng bằng cỏ voi nhằm chấm dứt hoàn toàn tập quán luân canh nương rẫy ngắn hạn 3 năm.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng quản lý 3.300,45 ha rừng đặc dụng Mường Phăng, làm rõ cấu trúc 70,17% diện tích giao khoán cho 24 thôn bản và 29,83% diện tích bảo vệ nghiêm ngặt.
  • Khẳng định vai trò quyết định của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (800.000 đồng/ha/năm) trong việc duy trì ổn định hệ thống tuần tra, ngăn ngừa triệt để các vụ cháy rừng từ năm 2017 đến năm 2019.
  • Chỉ rõ các nút thắt cố hữu: 100% hộ dân phụ thuộc vào củi và gỗ làm nhà, 27,7% hộ nghèo và mức độ tham gia của cộng đồng mới dừng ở bậc làm thuê nhân công thụ động.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp chuyển đổi sang cơ chế đồng quản lý, phát triển du lịch sinh thái hồ Pá Khoang, chuẩn bị dự án tín chỉ carbon REDD+ và chuyển giao kỹ thuật nông lâm kết hợp.
  • Thể chế hóa hương ước làng bản và ứng dụng công nghệ giám sát số chính là chìa khóa bảo vệ bền vững khu rừng lịch sử Mường Phăng giai đoạn 2020 - 2030.

Công trình nghiên cứu của tác giả Lù Văn Thành (2020) tại Trường Đại học Lâm nghiệp là tài liệu tham khảo học thuật có giá trị khoa học và thực tiễn sâu sắc. Độc giả quan tâm đến việc triển khai mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng và phát triển sinh kế vùng đệm có thể áp dụng trực tiếp các đề xuất kỹ thuật của luận văn vào thực tế địa phương.