Tổng quan luận án
Thông tin cơ bản: Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lâm sinh, mã số 62.05, do Lê Sỹ Doanh thực hiện tại Trường Đại học Lâm nghiệp, hoàn thành năm 2014. Hướng dẫn khoa học: GS. Vương Văn Quỳnh và PGS. Trần Quang Bảo. Hướng tiếp cận: định lượng, kết hợp phân tích số liệu khí tượng dài hạn, xây dựng chỉ số và mô hình toán học, đánh giá theo kịch bản.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Theo số liệu của Cục Kiểm lâm, trong giai đoạn 2002–2011 cả nước xảy ra 9.689 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 55.505 ha rừng. Tính đến năm 2013, Việt Nam có 13,86 triệu ha rừng, trong đó khoảng 6 triệu ha là các loại rừng dễ cháy gồm rừng tràm, rừng khộp, rừng thông, rừng bạch đàn và rừng tre trúc. Trong bối cảnh nhiệt độ toàn cầu gia tăng và thời tiết diễn biến phức tạp, phần lớn các diện tích rừng này đều có nguy cơ bắt lửa và cháy lớn vào mùa khô.
Tác giả xác định khoảng trống nghiên cứu là: tại thời điểm thực hiện luận án, Việt Nam chưa có tác giả nào thực hiện đánh giá tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) đến nguy cơ cháy rừng (NCCR) trên quy mô toàn quốc một cách hệ thống, và cũng chưa có phương pháp đánh giá tác động BĐKH đến NCCR áp dụng chung cho toàn quốc. Một số nghiên cứu bước đầu của các chuyên gia trong nước mới dừng lại ở mức thăm dò, mô phỏng xu hướng cho từng vùng cụ thể.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Góp phần quản lý tài nguyên rừng bền vững nhằm thích ứng và ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể:
- Xác định chỉ số khí hậu phản ánh nguy cơ cháy rừng và đặc điểm biến đổi của chúng theo kịch bản biến đổi khí hậu.
- Xác định các vùng trọng điểm cháy rừng theo kịch bản biến đổi khí hậu trong tương lai.
- Đề xuất các giải pháp giảm thiểu nguy cơ cháy rừng nhằm thích ứng với biến đổi của khí hậu.
Đối tượng và phạm vi
- Đối tượng: Các trạng thái rừng ở vùng đồi núi Việt Nam và tác động của BĐKH đến nguy cơ cháy tại các trạng thái đó.
- Phạm vi không gian: Toàn lãnh thổ Việt Nam, phân tích theo 8 vùng sinh thái.
- Phạm vi kịch bản: Kịch bản BĐKH trung bình B2 do Bộ Tài Nguyên và Môi trường công bố năm 2009. Kịch bản này được chọn vì phù hợp với đặc điểm dân số, kinh tế, công nghệ, năng lượng, sử dụng đất và nông nghiệp của Việt Nam, đồng thời được Bộ Tài Nguyên và Môi trường khuyến cáo áp dụng.
- Phạm vi thời gian dự báo: Các thời điểm năm 2020, 2050 và 2090.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu tác giả điểm lại
Về phương pháp dự báo cháy rừng trên thế giới:
Tác giả điểm qua các nghiên cứu về bản chất cháy rừng từ các tác giả Brown (1979), Belop (1982), Chandler (1983), Mc Arthur (1986), Johnson Edward A (1996). Ba yếu tố ảnh hưởng quan trọng nhất đến cháy rừng được xác định là thời tiết, trạng thái rừng và hoạt động kinh tế xã hội (Belop, 1982). Các phương pháp dự báo theo chỉ tiêu khí tượng được điểm qua theo từng quốc gia: Nga sử dụng nhiệt độ và độ ẩm lúc 13 giờ; Trung Quốc sử dụng chỉ tiêu bén lửa Yangmei; Australia sử dụng chỉ số FFDI của Mc.Arthur; Đức và Mỹ bổ sung độ ẩm vật liệu cháy; Pháp tính thêm lượng nước hữu hiệu trong đất (Brown, 1979). Ứng dụng viễn thám và GIS trong phát hiện cháy rừng được điểm qua thông qua hệ thống EFFIS (châu Âu, từ năm 2000), các nghiên cứu của Chowdhury và Hassan (2011, 2013) tại Alberta, Canada, cùng kết quả của Reilly (2006) xây dựng phương trình hồi quy phi tuyến dự báo với R² = 0,71.
Về phương pháp dự báo cháy rừng ở Việt Nam:
Dự báo NCCR ở Việt Nam bắt đầu từ năm 1981, ban đầu áp dụng phương pháp Nesterop có điều chỉnh theo lượng mưa ngày (Phạm Ngọc Hưng, 1988). Đến năm 1995, Võ Đình Tiến đề xuất phương pháp dự báo theo 6 yếu tố tại Bình Thuận, trong đó kết hợp cả yếu tố kinh tế xã hội. Bế Minh Châu (2001) khẳng định chỉ tiêu P và H của Nesterop có độ chính xác thấp ở những vùng có sự luân phiên thường xuyên của các khối không khí. Từ đầu năm 2003, Cục Kiểm lâm phối hợp nhóm nghiên cứu Trường Đại học Lâm nghiệp xây dựng "Phần mềm cảnh báo lửa rừng" kết nối 95 trạm khí tượng. Vương Văn Quỳnh (2012) hoàn thiện phương pháp và phần mềm dự báo nguy cơ cháy rừng cho Hà Nội. Bế Minh Châu (2010) phát triển phần mềm cảnh báo nguy cơ cháy rừng toàn quốc, lần đầu tiên phân loại trạng thái rừng theo nguy cơ cháy.
Về tác động của BĐKH đến NCCR trên thế giới:
K. Nicholls (2005) nghiên cứu tại 17 địa điểm Đông Nam Australia cho thấy số ngày nguy cơ cháy cao tăng 4–25% vào năm 2020 và 15–70% vào năm 2050. Tại Canberra, số ngày này sẽ tăng từ 23,1 lên 25,6–28,6 ngày/năm vào 2020 và 27,9–38,3 ngày/năm vào 2050. Mike Flannigan (Đại học Alberta, 2011) mô phỏng giai đoạn 2081–2090, cho thấy nguy cơ cháy tăng gấp hai đến ba lần ở bán cầu Bắc. Tại Trung Quốc, nghiên cứu sử dụng kịch bản IPCC SRES A2a và B2a cùng hệ thống chỉ số nguy cơ cháy Canada (FWI) dự báo chỉ số FWI tăng 22%–52% trên rừng phương Bắc đến cuối thế kỷ 21; số ngày nguy cơ cao tăng từ 44 lên 53–75 ngày vào cuối thế kỷ; mùa cháy kéo dài thêm 21–26 ngày theo kịch bản A2 và B2 vào năm 2080. Tại Phần Lan (kịch bản A2), số ngày nguy cơ cháy cao tăng từ 60–100 lên 96–160 ngày ở miền Nam vào cuối thế kỷ. Tại Canada, nguy cơ cháy tăng 25% vào năm 2030 và 75% vào cuối thế kỷ 21. Tại Amazon, mô hình HadCM3 cho thấy nguy cơ cháy cao hơn 50% vào năm 2080.
Về tác động của BĐKH đến NCCR ở Việt Nam:
Nguyễn Đăng Quế và Đặng Văn Thắng (2010) nghiên cứu bốn vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên, cho thấy BĐKH làm gia tăng mức độ nghiêm trọng cháy rừng, với số ngày nguy cơ cháy cấp nguy hiểm và cực kỳ nguy hiểm tại Tây Nguyên có thể lên 29–31 ngày trong các tháng cao điểm. Bế Minh Châu (2011) nghiên cứu tỉnh Sơn La cho thấy các chỉ tiêu NCCR tăng trung bình 1,6–9,1% vào năm 2020, 36,1–99,0% vào năm 2050 và 63,0–155% vào năm 2100. Vương Văn Quỳnh và cộng sự (2012) cho thấy số ngày NCCR cao ở Hà Nội tăng thêm 10–15 ngày/năm vào năm 2050 so với năm 2010.
Khoảng trống luận án giải quyết
Tất cả các nghiên cứu trong nước đều có quy mô nhỏ, giới hạn ở từng tỉnh hoặc từng vùng. Chưa có nghiên cứu nào xây dựng chỉ số khí hậu phản ánh NCCR theo chỉ tiêu khí hậu dài hạn và chưa có phương pháp đánh giá tác động BĐKH đến NCCR áp dụng thống nhất trên toàn quốc. Luận án lựa chọn giải quyết đồng thời ba vấn đề: (1) xác định chỉ số khí hậu Qi phản ánh NCCR; (2) xây dựng phương pháp đánh giá tác động BĐKH đến NCCR cho toàn quốc; (3) áp dụng đánh giá theo kịch bản B2 đến năm 2090.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm
Luận án dựa trên lý thuyết về tam giác lửa (nguồn lửa, ôxy, vật liệu cháy) làm nền tảng giải thích cơ chế hình thành cháy rừng. Ba yếu tố ảnh hưởng chính là thời tiết, trạng thái rừng và hoạt động kinh tế xã hội. Đặc điểm khí hậu — đặc biệt chế độ mưa, nhiệt độ, độ ẩm — được xem là yếu tố quyết định tốc độ bốc hơi và độ ẩm vật liệu cháy, từ đó ảnh hưởng đến khả năng bén lửa và lan tràn đám cháy.
Khung đánh giá tác động theo kịch bản BĐKH B2 của IPCC được áp dụng xuyên suốt. Các kịch bản BĐKH cho Việt Nam dựa trên tài liệu của Bộ Tài Nguyên và Môi trường (2009), trong đó nhiệt độ dự báo tăng 0,3–0,5°C vào năm 2020; 1,0–2,0°C vào năm 2050; và 1,6–2,6°C vào năm 2100.
Phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận: Luận án sử dụng đồng thời cách tiếp cận hệ thống (xem BĐKH và cháy rừng vừa là hiện tượng tự nhiên vừa là hiện tượng kinh tế xã hội), cách tiếp cận đa ngành và cách tiếp cận nghiên cứu phát triển.
Phương pháp xây dựng chỉ số khí hậu Qi:
Chỉ số Qi được xây dựng theo công thức:
Qi = ((Ki₋₂ × Ti₋₂ × abs(Ri₋₂ − 100)^0,8) × 0,1) + ((Ki₋₁ × Ti₋₁ × abs(Ri₋₁ − 100)^0,8) × 0,2) + (Ki × Ti × abs(Ri − 100)^0,8)
Trong đó K là hệ số hiệu chỉnh theo lượng mưa, T là nhiệt độ, R là lượng mưa; chỉ số phản ánh ảnh hưởng lũy tích của điều kiện khí hậu các tháng liền trước đến NCCR của tháng dự báo.
Phương trình liên hệ giữa số ngày có NCCR cao (Snc45) với chỉ số Qi được xác định là:
Snc45 = 7,284 × Qi + 1,029 với R² = 0,588
NCCR được phân thành 5 cấp theo Snc45: ít khả năng cháy, nguy cơ cháy thấp, nguy cơ cháy trung bình, nguy cơ cháy cao, nguy cơ cháy rất cao.
Phương pháp đánh giá tác động BĐKH đến NCCR: Thực hiện qua 4 bước, tích hợp cấp NCCR theo điều kiện khí hậu với cấp NCCR theo trạng thái rừng.
Phương pháp nghiên cứu vật liệu cháy (VLC): Bố trí ô tiêu chuẩn và ô dạng bản thứ cấp tại các khu vực nghiên cứu. Đo đạc khối lượng thảm khô (Mtk, kg/ha), khối lượng thảm tươi (Mtt, kg/ha) và độ ẩm vật liệu cháy (W13, %). Xác định chỉ số fij và chỉ số hiệu quả canh tác (Ect) cho từng yếu tố và từng trạng thái rừng.
Phương pháp đề xuất giải pháp: Dựa theo tài liệu hướng dẫn "Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và xác định các giải pháp thích ứng" kết hợp với kết quả đánh giá NCCR theo từng vùng sinh thái.
Nguồn dữ liệu
- Số liệu quan trắc khí tượng tại các trạm khí tượng quốc gia (nhiệt độ trung bình, lượng mưa trung bình, độ ẩm không khí trung bình).
- Kịch bản BĐKH B2 do Bộ Tài Nguyên và Môi trường công bố năm 2009.
- Số liệu thực địa từ các ô tiêu chuẩn tại các trạng thái rừng thuộc phạm vi nghiên cứu ở vùng đồi núi Việt Nam.
- Số liệu thống kê cháy rừng giai đoạn 2002–2011 từ Cục Kiểm lâm, bao gồm số vụ cháy và diện tích rừng bị cháy tại các địa phương.
- Tài liệu điều kiện tự nhiên, kinh tế–xã hội các vùng sinh thái [7].
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương này trình bày hệ thống ba nhóm vấn đề: thực trạng và xu hướng BĐKH trên thế giới và ở Việt Nam; các phương pháp dự báo cháy rừng trong nước và quốc tế; các nghiên cứu về tác động của BĐKH đến NCCR.
Về BĐKH toàn cầu, số liệu quan trắc từ năm 1850 đến 2000 cho thấy nhiệt độ trái đất đã tăng 0,74°C; nồng độ CO₂ tăng thêm một phần ba so với thời kỳ tiền công nghiệp, đạt khoảng 372 ppm; CH₄ tăng từ 800 ppb lên 1.745 ppb; NOx tăng từ 270 lên 310 ppb. Dự báo đến năm 2050, nồng độ CO₂ sẽ tăng gấp đôi so với thời kỳ tiền công nghiệp, từ 260 lên 500 ppm (ADB, 2007). Biên độ tăng nhiệt độ toàn cầu đến năm 2100 dự báo trong khoảng 1,1–6,4°C (IPCC, 2007).
Về BĐKH ở Việt Nam, trong 50 năm (1951–2000) nhiệt độ trung bình năm tăng 0,7°C. Mực nước biển dâng khoảng 20 cm trong 50 năm quan trắc tại Cửa Ông và Hòn Dấu. Số đợt không khí lạnh giảm rõ rệt trong hai thập kỷ cuối thế kỷ XX.
Theo kịch bản B2, nhiệt độ Việt Nam sẽ tăng 0,3–0,5°C vào năm 2020; 1,0–2,0°C vào năm 2050; 1,6–2,6°C vào năm 2100. Các khu vực có mức tăng nhiệt độ cao nhất là Tây Bắc và Bắc Trung Bộ.
Về tình hình cháy rừng, giai đoạn 2002–2011 cả nước xảy ra 9.689 vụ cháy, thiệt hại 55.505 ha. Số vụ cháy và diện tích bị cháy được thể hiện theo từng năm.
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương xác định bốn nhóm nội dung nghiên cứu và trình bày chi tiết các phương pháp tương ứng. Cách tiếp cận hệ thống được mô tả rõ: BĐKH và cháy rừng vừa là hiện tượng tự nhiên chịu chi phối bởi khí hậu, thời tiết, loại rừng, địa hình, thổ nhưỡng, vừa là hiện tượng kinh tế xã hội gắn liền với các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp, khai thác tài nguyên.
Chương mô tả phương pháp bố trí ô tiêu chuẩn và ô dạng bản tại các địa điểm nghiên cứu; phương pháp xác định chỉ số Qi; phương pháp hiệu chỉnh hệ số K theo lượng mưa; và phương pháp tích hợp NCCR theo điều kiện khí hậu với NCCR theo trạng thái rừng.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chỉ tiêu khí hậu phản ánh nguy cơ cháy rừng
Tác giả phân tích đặc điểm biến đổi của các chỉ tiêu khí hậu trên toàn quốc và theo các vùng sinh thái. Một số kết quả thống kê đáng chú ý:
| Chỉ tiêu khí hậu |
Kết quả biến đổi |
| Nhiệt độ trung bình năm (1951–2000) |
Tăng 0,7°C trên toàn quốc |
| Nhiệt độ tháng cao nhất theo vùng |
Trình bày theo từng vùng sinh thái |
| Độ ẩm không khí trung bình tháng |
Có xu hướng giảm ở một số vùng mùa khô |
| Lượng mưa trung bình tháng |
Biến động không đồng đều theo vùng và thời kỳ |
Chỉ số Snc45 (số ngày có NCCR cao và rất cao) được xác định theo các trạm khí tượng và các vùng sinh thái. Phương trình Snc45 = 7,284 × Qi + 1,029 với R² = 0,588 được xây dựng và kiểm định thông qua các hệ số α, β, µ.
Phương pháp đánh giá tác động của BĐKH đến nguy cơ cháy rừng
Đặc điểm biến đổi của chỉ số Qi theo không gian (các tỉnh, vùng sinh thái) và theo thời gian (các thập kỷ) được phân tích. NCCR theo loại trạng thái rừng được xác định thông qua chỉ số fij, Ect và khối lượng vật liệu cháy. Phân cấp NCCR cho các nhóm trạng thái rừng ở vùng đồi núi Việt Nam được lập thành bảng. Sơ đồ phương pháp 4 bước đánh giá tác động BĐKH đến NCCR được trình bày.
Đánh giá tác động của BĐKH đến NCCR theo kịch bản B2
| Năm dự báo |
Snc45 trung bình toàn quốc |
So sánh |
| Năm 2020 |
Trình bày theo tỉnh và vùng sinh thái |
— |
| Năm 2050 |
78 ngày/năm (suy ra từ số liệu năm 2090) |
Cơ sở so sánh |
| Năm 2090 |
84 ngày/năm (hệ số biến động giữa các tỉnh: 41%) |
Tăng 6 ngày so với 2050, tăng 12 ngày so với 2030 |
Vùng Tây Nam Bộ và Tây Nguyên được dự báo có NCCR cao nhất với Snc45 lần lượt là 123 ngày/năm và 101 ngày/năm vào năm 2090. Hệ số biến động Snc45 giữa các vùng sinh thái là khoảng 36%.
Kết quả được trình bày riêng cho từng vùng sinh thái: Đồng Bằng Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ, Tây Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, tại các thời điểm 2020, 2050 và 2090.
Đề xuất giải pháp ứng phó
Giải pháp được đề xuất theo đặc thù từng vùng sinh thái trong 8 vùng: Đồng Bằng Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ, Tây Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Mỗi vùng đều gắn với đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế–xã hội và số ngày Snc45 dự báo.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về phương pháp nghiên cứu
Luận án đề xuất và hoàn thiện "Phương pháp đánh giá tác động của BĐKH đến nguy cơ cháy rừng ở Việt Nam", thực hiện qua 4 bước, được coi là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu hệ thống vấn đề này trên quy mô toàn quốc.
Chỉ số khí hậu Qi được xây dựng với đặc điểm: (1) xác định qua nhiệt độ trung bình và lượng mưa trung bình theo tháng; (2) phản ánh ảnh hưởng lũy tích của điều kiện khí hậu các tháng liền trước đến NCCR của tháng dự báo; (3) liên hệ chặt với đặc điểm phân hóa mùa mưa của từng khu vực.
Phương trình Snc45 = 7,284 × Qi + 1,029 (R² = 0,588) cho phép chuyển hóa chỉ số khí hậu thành số ngày có NCCR cao, làm cơ sở phân cấp 5 mức NCCR.
Đóng góp về cơ sở lý luận và khoa học
- Lần đầu tiên xây dựng chỉ số khí hậu Qi phản ánh NCCR liên quan đến BĐKH và phương pháp nghiên cứu tác động BĐKH đến NCCR ở Việt Nam.
- Bổ sung hiểu biết về tác động tiềm tàng của BĐKH đến NCCR theo các vùng sinh thái và địa phương.
- Góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận về tác động của BĐKH đến lâm nghiệp ở Việt Nam.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
Giải pháp ứng phó được đề xuất theo từng trong 8 vùng sinh thái, dựa trên đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế–xã hội và kết quả dự báo NCCR của từng vùng đến năm 2090. Tài liệu được xác định là có giá trị tham khảo cho hoạch định chính sách, xây dựng phương án phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) và quản lý bảo vệ rừng. Luận án xác định được các phương pháp giảm thiểu NCCR, thích ứng với BĐKH đến năm 2020.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở các trạng thái rừng vùng đồi núi, do đó kết quả chưa bao quát đầy đủ các hệ sinh thái rừng đặc thù như rừng ngập mặn ven biển và rừng tràm vùng đồng bằng. Kịch bản áp dụng là B2 (phát thải trung bình), các kịch bản phát thải thấp (B1) và cao (A2) không được đánh giá song song. Phương trình Snc45 = 7,284 × Qi + 1,029 có R² = 0,588, cho thấy còn khoảng 41,2% biến động của Snc45 chưa được giải thích bởi chỉ số Qi, đây là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện mô hình. Văn bản không nêu các hạn chế bổ sung nào khác một cách tường minh.
Giá trị tham khảo
Hữu ích cho nghiên cứu sinh và giảng viên thuộc các chuyên ngành lâm sinh, lâm nghiệp, khoa học môi trường và khí tượng thủy văn ứng dụng. Phần phương pháp xây dựng chỉ số Qi và phương pháp 4 bước đánh giá tác động BĐKH đáng tham khảo để áp dụng cho các nghiên cứu khu vực hoặc loài rừng cụ thể.
Hữu ích cho người làm chính sách và quản lý trong lĩnh vực lâm nghiệp, phòng cháy chữa cháy rừng và ứng phó BĐKH cấp quốc gia và địa phương. Kết quả dự báo NCCR theo tỉnh và vùng sinh thái tại các thời điểm 2020, 2050, 2090 cung cấp cơ sở định lượng cho quy hoạch PCCCR dài hạn.
Hữu ích cho Cục Kiểm lâm và các chi cục kiểm lâm địa phương trong việc cập nhật và nâng cấp hệ thống cảnh báo NCCR hiện hành; đặc biệt là các vùng trọng điểm như Tây Nam Bộ và Tây Nguyên — hai vùng được dự báo có Snc45 cao nhất vào năm 2090.
Phần danh sách các tỉnh có diện tích rừng bị cháy trên 1.000 ha trong giai đoạn 2002–2011 và bảng phân cấp NCCR theo trạng thái rừng là những mục tra cứu có giá trị thực tiễn trực tiếp.
Câu hỏi thường gặp
1. Chỉ số khí hậu Qi được xác định như thế nào và liên hệ với Snc45 ra sao?
Qi được tính theo công thức: Qi = ((Ki₋₂ × Ti₋₂ × abs(Ri₋₂ − 100)^0,8) × 0,1) + ((Ki₋₁ × Ti₋₁ × abs(Ri₋₁ − 100)^0,8) × 0,2) + (Ki × Ti × abs(Ri − 100)^0,8), trong đó K là hệ số hiệu chỉnh theo lượng mưa, T là nhiệt độ, R là lượng mưa. Phương trình liên hệ với Snc45 là: Snc45 = 7,284 × Qi + 1,029 với R² = 0,588.
2. Vùng sinh thái nào được dự báo có nguy cơ cháy rừng cao nhất vào năm 2090 và mức độ cụ thể là bao nhiêu?
Vùng Tây Nam Bộ và Tây Nguyên được dự báo có NCCR cao nhất. Số ngày có NCCR cao trong năm (Snc45) dự báo lần lượt là 123 ngày/năm (Tây Nam Bộ) và 101 ngày/năm (Tây Nguyên) vào năm 2090, do điều kiện thời tiết nóng hạn gia tăng.
3. Tổng số vụ cháy rừng và diện tích thiệt hại trong giai đoạn 2002–2011 là bao nhiêu?
Theo số liệu của Cục Kiểm lâm, trong giai đoạn 2002–2011 cả nước xảy ra 9.689 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 55.505 ha rừng. Bình quân mỗi năm rừng bị cháy tới hàng nghìn ha.
4. Tại sao luận án chọn kịch bản BĐKH B2 mà không chọn B1 hay A2?
Tác giả xác định hai lý do: (1) Kịch bản B1 (phát thải thấp) và A2 (phát thải cao) không phù hợp với các yếu tố dân số, kinh tế, công nghệ, năng lượng, sử dụng đất và nông nghiệp của Việt Nam; (2) Kịch bản B2 là kịch bản phát thải trung bình và được Bộ Tài Nguyên và Môi trường khuyến cáo áp dụng ở Việt Nam.
5. Số ngày có NCCR cao trung bình toàn quốc thay đổi như thế nào qua các mốc thời gian dự báo?
Tính trung bình các địa phương trong toàn quốc: năm 2090 Snc45 là 84 ngày/năm, tăng 6 ngày so với năm 2050 (78 ngày/năm) và tăng 12 ngày so với năm 2030. Hệ số biến động giữa các tỉnh vào năm 2090 là 41%; hệ số biến động giữa các vùng sinh thái là khoảng 36%.
Kết luận
Luận án của Lê Sỹ Doanh (2014) xây dựng chỉ số khí hậu Qi và phương pháp 4 bước đánh giá tác động BĐKH đến NCCR, lần đầu tiên áp dụng thống nhất trên quy mô toàn quốc tại Việt Nam. Kết quả dự báo theo kịch bản B2 cho thấy số ngày NCCR cao sẽ tăng dần đều đến năm 2090, với Tây Nam Bộ và Tây Nguyên là hai vùng chịu áp lực lớn nhất. Bộ số liệu dự báo theo tỉnh và vùng sinh thái tại ba mốc 2020, 2050 và 2090 cung cấp căn cứ định lượng cho quy hoạch PCCCR dài hạn. Giải pháp ứng phó được đề xuất có tính đặc thù theo từng vùng sinh thái, gắn với điều kiện tự nhiên và kinh tế–xã hội cụ thể.