phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận án gồm bốn chƣơng. Trong đó, chƣơng 1 là chƣơng tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Chƣơng 2 trình bày cơ sở lý luận, địa bàn nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3 làm rõ chân dung xã hội của nhóm phụ nữ làm mẹ đơn thân ở nông thôn Bắc Trung Bộ thông qua các đặc điểm xã hội của nhóm xã hội này.
Chƣơng 4 đi sâu tìm hiểu thực tiễn sinh kế của nhóm phụ nữ làm mẹ đơn thân ở nông thôn Bắc Trung Bộ trên ba phƣơng diện: tài sản sinh kế, chiến lƣợc sinh kế và kết quả sinh kế. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Dẫn nhập Trong khuôn khổ của chƣơng này, tác giả luận án sẽ nhìn lại các công trình nghiên cứu nổi bật đi trƣớc liên quan đến hai chủ đề: phụ nữ đơn thân, nhất là phụ nữ làm mẹ đơn thân và sinh kế.
Từ đó, tác giả luận án sẽ chỉ ra những khoảng trống về mặt nhận thức liên quan đến sinh kế của phụ nữ làm mẹ đơn thân hiện nay để làm cơ sở xác định nội dung nghiên cứu của đề tài luận án – sinh kế của phụ nữ làm mẹ đơn thân. Nhìn một cách tổng thể, cho đến nay, phụ nữ đơn thân, nhất là phụ nữ làm mẹ đơn thân; và sinh kế, đặc biệt là sinh kế ở khu vực nông thôn là hai chủ đề đƣợc các nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc quan tâm dƣới nhiều góc độ khác nhau. Đối với chủ đề phụ nữ đơn thân, các nhà nghiên cứu bàn sâu về những đặc điểm quan trọng của nhóm này. Họ cũng đề cập đến những khó khăn, thách thức nhất là cơ hội việc làm mà nhóm xã hội này gặp phải.
Đối với chủ đề sinh kế, các loại hình sinh kế khác nhau đã đƣợc các tác giả trong và ngoài nƣớc đi sâu phân tích. Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra không chỉ sự đa dạng của sinh kế ở các nhóm xã hội, các khu vực khác nhau mà còn đi sâu vào quá trình chuyển đổi sinh kế, những thách thức liên quan đến kết quả sinh kế, và mức độ bền vững của các loại sinh kế. Để đi sâu vào những nội dung nghiên cứu của các công trình nghiên cứu đi trƣớc đƣợc đề cập đến ở trên, nội dung của chƣơng này sẽ đƣợc kết cấu thành ba phần. Phần thứ nhất bàn về phụ nữ đơn thân.
Trong phần này, nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nƣớc về phụ nữ đơn thân, nhất là phụ nữ làm mẹ đơn thân, sẽ đƣợc đi sâu phân tích. Phần thứ hai của chƣơng tập trung tìm hiểu những công trình nghiên cứu về sinh kế đã có cho đến nay. Tƣơng tự nhƣ phần thứ nhất, trong phần này, những nghiên cứu tiêu biểu về sinh kế của các tác giả trong và ngoài nƣớc sẽ đƣợc tìm hiểu sâu. Hai phần này là cơ sở cho phần thứ ba của chƣơng - phần chỉ ra những khoảng trống về mặt nhận thức liên quan đến chủ đề sinh kế của phụ nữ làm mẹ đơn thân làm cơ sở cho việc triển khai nội dung nghiên cứu của luận án ở các chƣơng sau.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nghiên cứu về phụ nữ đơn thân Trong các công trình nghiên cứu về phụ nữ đơn thân mà luận án điểm luận có thể chia thành nhiều hƣớng nghiên cứu khác nhau. Hƣớng nghiên cứu thứ nhất đề cập đến xu hƣớng lựa chọn sống đơn thân của phụ nữ đơn thân. Hƣớng nghiên cứu thứ hai, luận án sẽ phân tích các nghiên cứu về các đặc điểm xã hội của phụ nữ đơn thân đƣợc các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đề cập.
Ở hƣớng nghiên cứu thứ ba, luận án sẽ tìm hiểu về đời sống tâm lý và định kiến xã hội đối với phụ nữ đơn thân và phụ nữ làm mẹ đơn thân. Hƣớng nghiên cứu thứ tƣ, luận án sẽ bàn về đời sống kinh tế và chính sách xã hội của nhóm phụ nữ đơn thân/ phụ nữ làm mẹ đơn thân. Xu hướng lựa chọn sống đơn thân của phụ nữ Tác giả Belanger đề cập đến xu hƣớng lựa chọn sống đơn thân của phụ nữ đơn thân trong bài viết “Sự suy giảm hôn nhân ở Châu Á tình trạng phụ nữ độc thân trong bối cảnh Việt Nam”. Belanger đã chỉ ra sự gia tăng xu hƣớng không kết hôn của phụ nữ ở Châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng.
Cụ thể là ở Việt Nam trong giai đoạn chiến tranh và sau chiến tranh, phụ nữ độc thân đƣợc chia thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất là những ngƣời phụ nữ không kết hôn do phải gánh vác trách nhiệm gia đình. Nhóm thứ hai là nhóm phụ nữ tham gia quân đội và “bị quá lứa lỡ thì” sau khi chiến tranh kết thúc. Thực ra thì họ có thể kết hôn với những ngƣời đàn ông đã li dị, góa vợ, nghèo đói, ốm đau, bệnh tật.
Tuy nhiên, họ từ chối những cuộc hôn nhân này và quyết định sống độc thân. Họ không kết hôn bằng mọi giá mà chỉ kết hôn khi tìm đƣợc ngƣời bạn đời phù hợp. Nếu không tìm đƣợc ngƣời bạn đời phù hợp họ lựa chọn sống độc thân với sự tự do của bản thân mình. Thực tế, một số ngƣời đã so sánh cuộc sống của họ với những ngƣời đã lập gia đình nhƣng bất hạnh và cảm thấy cuộc sống độc thân của họ vẫn còn tốt hơn.
Dƣới một góc nhìn nhất định, phụ nữ độc thân ở nông thôn đƣợc coi là “bất bình thƣờng” và gặp khó khăn trong đời sống kinh tế. Thêm nữa, phụ nữ độc thân ở nông thôn ít có cơ hội kết hôn với ngƣời phù hợp. Trong khi đó, phụ nữ độc thân ở thành thị có nhiều cơ hội lấy chồng hơn [Belanger, 1996]. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tiếp nối nghiên cứu về lựa chọn sống đơn thân của phụ nữ là nghiên cứu của Phinney (1998) qua bài viết: “Vấn đề con cái của phụ nữ độc thân ở Bắc Việt Nam”.
Phinney đi sâu tìm hiểu về phụ nữ đơn thân sau chiến tranh ở Việt Nam và quyết định làm mẹ đơn thân của nhóm phụ nữ này. Do sự chênh lệch về giới tính nên 3 thập kỷ sau chiến tranh nhiều phụ nữ vẫn không thể lấy chồng. Năm 1995 - 1996, Phinney đã khảo sát tại Phú Lƣơng (Bắc Ninh), Sóc Sơn (Hà Nội) và phát hiện ra rằng phụ nữ đơn thân ở giai đoạn này chủ yếu do gặp trắc trở trong tình yêu, và họ lựa chọn không có chồng nhƣng vẫn có con để nƣơng tựa lúc tuổi già. Con cái là lý do giúp họ có các thêm các mối liên hệ nhƣ gặp gỡ bác sỹ, giáo viên trong những tình huống mà họ cần hỗ trợ con cái.
Vì vậy, họ gắn kết hơn với cộng đồng. Phát hiện đáng lƣu ý của nghiên cứu là đối với ngƣời phụ nữ ngoài 30 tuổi, họ mong muốn làm một ngƣời mẹ tốt quan trọng và cần thiết hơn làm một ngƣời vợ tốt [Phinney, 1998]. Bên cạnh các nghiên cứu về sự lựa chọn sống đơn thân, tác giả Edin (2000) đã đề cập quan điểm hôn nhân của nhóm phụ nữ đơn thân qua nghiên cứu“Những phụ nữ đơn thân có thu nhập thấp nói gì về hôn nhân” (What do low – Income single mothers say about marriage). Edin đã phỏng vấn 292 bà mẹ đơn thân có thu nhập thấp da trắng và da màu ở 3 thành phố của Hoa Kỳ về quan điểm đối với hôn nhân, và Edin đã trình bày ba phát hiện quan trọng.
Thứ nhất, hầu hết những ngƣời đƣợc hỏi mong muốn và sẵn sàng kết hôn nếu họ tin rằng ngƣời đàn ông mà họ dự định kết hôn sẽ mang lại cho họ điều mà họ mong muốn. Những điều mà họ mong muốn ở đây là đƣợc chồng tôn trọng, chồng không bạo hành, chồng san sẻ việc nhà, và chồng chia sẻ quyền quyết định trong các công việc của gia đình. Thứ hai, nếu họ không gặp đƣợc ngƣời đàn ông mà họ kỳ vọng, thì họ gác lại chuyện hôn nhân để tập trung vào chăm lo cho cuộc sống gia đình đơn thân, nhất là trên phƣơng diện nâng cao thu nhập. Thứ ba, trên cơ sở nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện kinh tế, họ có nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn hôn nhân.
Đồng thời, việc nâng cao thu nhập cũng giúp họ ứng phó với nghèo túng nếu cuộc hôn nhân mà họ kỳ vọng trong tƣơng lai thất bại. Nhƣ vậy, nghiên cứu của Edin (2000) đã chỉ ra sự lựa chọn hôn nhân của phụ nữ làm mẹ đơn thân và mối quan hệ giữa điều kiện kinh tế và quyết 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định hôn nhân của họ. Có thể thấy rằng sự lựa chọn sống đơn thân của ngƣời phụ nữ đã đƣợc cân nhắc tính toán dù họ không hề mong muốn sống đơn thân nhƣng hoàn cảnh đƣa đẩy những phụ nữ lựa chọn cuộc sống đơn thân [Edin, 2000]. Quyết định sống đơn thân đang trở thành một xu hƣớng lựa chọn của những phụ nữ hiện đại.
Bài viết “Ohitorisama – việc sống đơn thân và năng lực (phụ nữ) ở Nhật Bản”(Ohitorisama, singlehood and agency in Japan) của Dales (2014) là một nghiên cứu đáng lƣu ý về chủ đề này. Dales chỉ ra rằng sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II, ở Nhật Bản có xu hƣớng kết hôn muộn, gia tăng ly hôn, gia tăng tỷ lệ ngƣời sống độc thân hay không kết hôn. Tác giả đã chỉ ra rằng việc sống đơn thân của phụ nữ Nhật Bản có thể là một sự lựa chọn của bản thân họ hoặc có thể là một tình trạng không lƣờng trƣớc đƣợc mà họ phải đối mặt. Điểm đáng lƣu ý là trong khi tỷ lệ phụ nữ sống đơn thân gia tăng do ly hôn, kết hôn muộn, hay góa bụa thì về quan điểm lý tƣởng của phụ nữ Nhật Bản đƣơng đại vẫn là lập gia đình và sinh con.
Điều này tạo nên cuộc tranh luận về thực tế hôn nhân và quan niệm lý tƣởng về hôn nhân. Điều cần nhấn mạnh ở đây là Dales tập trung phân tích mô hình sống đơn thân “ohitorisama” thông qua việc phỏng vấn 34 ngƣời phụ nữ Nhật Bản từ 30 đến 49 tuổi về sự đa dạng của cuộc sống đơn thân mà họ trải nghiệm. Dales chỉ ra rằng phụ nữ đơn thân chủ động hành động theo suy nghĩ và mong muốn của họ. Thêm nữa, việc sống đơn thân giúp họ thay đổi những suy nghĩ mang tính quy phạm về cuộc sống gia đình lý tƣởng và thực tế phổ biến của việc phụ nữ sống đơn thân [Dales, 2014].