CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE CHUNG VE XÂM HAI TRE EM TREN KHONG GIAN MANG 1. Khái niệm chung về xâm hại trẻ em trên không gian mạng Trong nghiên cứu nay, các khái niệm liên quan đến van dé phòng, chống hành vi xâm hại trẻ em trên không gian mạng được nhóm tác giả phân tích từ ba góc độ sau đây: góc độ khoa học, góc độ chuân mực pháp lý quốc tế và góc độ pháp luật của một số quốc gia mà nhóm tác giả tập trung tìm hiểu. Khái niệm hành vi xâm hại trẻ em Tư nhất, nghiên cứu dưới góc độ khoa học va dựa vào Từ điển Tiếng Việt thì động từ “xâm hại” ở đây là từ có nghĩa chỉ hành động xâm hại khiến cho đối tượng tác động bị ton hại về nhiều mặt). Hanh vi xâm hại trẻ em đã gây nên một thảm kịch tại Mỹ từ những năm 1960 và từ đó vấn đề này được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm rồi dần nồi lên như một môn học hàn lâm vào những năm 1970.
Tuy nhiên, đến thời điểm những năm 1990, theo nhiều học giả trong Hội đồng Nghiên cứu quốc gia của Mỹ viết cuỗn “Understanding Child Abuse and Neglect” thì “mặc dù có nhiều cuộc tranh luận sôi nồi trong hai thập kỷ qua, nhưng có rất ít tiến bộ trong việc xây dựng các định nghĩa rõ ràng, đáng tin cậy, hợp lệ và hữu ích” về hành vi xâm hại trẻ em nói chung. Van dé này van không có khung khái niệm và nghiên cứu trong lĩnh vực nay vẫn còn rat rời rac’, điều nay có thé lý giải do sự biến động thiếu ôn định trong xã hội của nước Mỹ lúc bấy giờ. Tuy nhiên theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu, xâm hại trẻ em không chỉ là bạo hành thê xác nhăm vào một đứa trẻ mà còn là bất kỳ hình thức ngược đãi nào của người lớn, mang tính chất bạo lực hoặc de dọa đối với trẻ. Một hội nghị về tổng kết kết quả nghiên cứu năm 1989 do Viện Sức khỏe Trẻ em và Phát triển Con người Quốc gia Mỹ triệu tập đã khuyến nghị rằng xâm hại trẻ em (hay ngược đãi trẻ em - child maltreatment) nên được định nghĩa là “hành vi đối với người khác, mà nam ngoài các chuẩn mực ứng xử, và dan đến một nguy cơ dang kể về thé chat hoặc cảm xúc gây hại.
Các hành vi được đưa vào sẽ bao gôm các hành động và thiếu sót, những hành động là cô ¥ và những hành vi không cố ý ”7. Thuật ngữ này đề cập đến 3 Từ điển Tiếng Việt Soha: http://tratu.vn/dict/vn vn/X%C3%A2m h%EI%BA%AIi truy cập ngày 1/12/2020 4 National Research Council (1993), Understanding Child Abuse and Neglect, The National Academies Press, Washington D. > National Research Council (1993), tldd, p. 5 Government of Netherlands, “What is child abuse?”, https://www.nl/topics/child-abuse/what-is- child-abuse#:~:text=Child%20abuse%20is%20not%20just,a%20form%200f%20domestic%20violence%20, truy cap ngay 13/12/2021 7 National Research Council (1993), tldd, p.
9 một loạt các hành vi có liên quan đến rủi ro cho đứa trẻ và làm rõ ràng hơn về khái niệm thế nào là xâm hại trẻ em. Thứ hai, theo Chuan mực pháp lý quốc tế, đã có nhiều văn kiện mang tính toàn cầu (như: Tuyên ngôn về quyên trẻ em 1959, Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em 1989) và khu vực (bao gồm: Công ước Châu Âu về thực thi quyền trẻ em 1996, Hiến chương Châu Phi về Quyên và Phúc lợi trẻ em 1990) quy định về các van dé liên quan đến quyền trẻ em. Trong số đó có thé thấy, Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em 1989 (UNCRC) là văn kiện quan trọng nhất, toàn điện nhất và cũng là chuẩn mực pháp ly cho các văn kiện còn lại. Ngay tại Điều 1 của công ước này, khái niệm “trẻ em” đã được định nghĩa “là mọi người dưới 18 tuôi trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”.
Day cũng là khái niệm gốc mà tat cả các văn kiện đã liệt kê ở trên lay làm căn cứ dé quy định về định nghĩa trẻ em. Theo đó, trong chuẩn mực pháp lý quốc tế, trẻ em được xác định là mọi con người dưới 18 tuổi. Song với khái niệm “hành vi xâm hại trẻ em”, khái niệm này lại không được quy định thành một điều khoản cụ thể tại UNCRC. Tuy rang, nó cũng được gợi mở một phan thông qua Điều 19 của Công ước quy định về trách nhiệm các quốc gia thành viên trong việc bảo đảm quyền trẻ em.
Theo đó, hành vi xâm hại trẻ em được xếp vào nội hàm của các hình thức bạo lực trẻ em. Căn cứ vào dẫn giải mở rộng số 3Š năm 2011 của co quan UNICEF về Điều 19 của UNCRC, ta có thể xác định được các hành vi xâm hại trẻ em trong chuẩn mực pháp lý quốc tế là“tất cả các hình thức bạo lực về thể chất hoặc tinh thần, gây thương tích hoặc lạm dụng, bị bỏ rơi hoặc đối xử không đúng mực, ngược đãi hoặc bóc lột, bao gồm cả lạm dụng tình dục”. Tính đến 8/9/2020, đã có 196 nước trên thế giới tham gia vào UNCRC, ngoại trừ Mỹ khi Mỹ chưa phê duyệt Công ước này dé nội luật hoá vào hệ thông pháp luật nước này, Quần đảo Cúc (Cook Islands), Ni-u-ê (Niue), Palestine, Thành Vatican (Holy See) và Nam Sudan (South Sudan). Điều này cho thấy ảnh hưởng của UNCRC lên các quy định về hành vi xâm hại trẻ em của các quốc gia thành viên như Nhật Bản, Pháp và Việt Nam.
Xuất phát điểm từ Công ước trên, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng đưa ra định nghĩa về Xâm hại trẻ em (Child Maltreatment) bao gồm: “moi hình thức ngược đãi về thé chất và/hoặc tinh than, lam dung tình duc, sao nhãng hoặc bỏ mac hoặc bóc lột về mặt kinh tế hoặc các hình thức lạm dụng khác dân tới sức khỏe, mạng sống, sự phát triển hay phẩm giá của trẻ bị tốn hại hoặc có nguy cơ bị ton hại trong một moi quan hệ bao hàm trách nhiệm, niềm tin hoặc quyền luc’”. Theo đó, WHO đưa ra các hình thức xâm hại chính là xâm hại thể chất, xâm hại tình dục, xâm hại tinh thần, tâm lý; và bỏ mặc trẻ!9, k Unicef, “General Comment No.3 (2011) - The right of the child to freedom from all forms of violence”, https://www.org/portfolios/general_comments/CRC.html#ftntl, truy cập ngày 13/12/2020. ? World Health Organization (2006), Preventing Child Maltreatment: a guide to taking action and generating evidence, Geneva, Switzerland, p. 10 World Health Organization (2006), tlđd, p.
10 Thứ ba, theo pháp luật của một số quốc gia: Như đã phân tích ở trên, việc các quốc gia tham gia ký kết các văn kiện quốc tế nào ảnh hưởng rất lớn đến các quy định cụ thé về hành vi xâm hại trẻ em của pháp luật nước đó, điều này đều được thể hiện rat rõ ràng tại các quốc gia mà nhóm tác giả đã lựa chọn dé tiễn hành nghiên cứu: * Theo pháp luật của Nhật Ban: Nhật Bản là một quốc gia có rất nhiều Luật, Bộ luật liên quan đến bảo vệ quyền trẻ em. Độ tuôi trẻ em tại Nhật Bản được quy định tại Điều 4 Đạo luật về phúc lợi trẻ em (Child Welfare Act)- Đạo luật gốc điều chỉnh moi van đề liên quan đến quyền trẻ em tại quốc gia này, theo đó khái niệm “trẻ em” trong Pháp luật Nhật Bản được quy định “là những người dưới 18 tuổi”. Tại Điều 4 Đạo luật này, trẻ em cũng được chia ra thành ba nhóm: trẻ sơ sinh; trẻ em trên 1 tuổi đến dưới tiêu học; người chưa thành niên từ độ tuổi tiểu học đến dưới 18 tuổi. Nhìn chung, quy định về độ tuôi trẻ em trong Pháp luật Nhật Bản tương thích với quy định về độ tuổi trẻ em trong UNCRC, tuy nhiên quy định của Pháp luật Nhật Ban đã có sự cụ thé hoá và chi tiết hơn về các nhóm đối tượng trẻ em.
Đây cũng là tiền đề cho việc làm rõ các quyên lợi và hành lang pháp lý bảo vệ các nhóm trẻ em khác nhau này tại Nhật Bản. Đối với van đề xâm hại trẻ em, Nhật Bản có hành lang pháp ly rất chặt chẽ khi có hắn một Đạo luật về phòng chống xâm hai trẻ em (Child Abuse Prevention Act), quy định về khái niệm xâm hại trẻ em được thé hiện cu thé tại Điều 2 Dao luật, theo đó trong giới han cua Đạo luật này, hành vi xâm hại trẻ em được xác định là “nhiing hành vi xâm hại đến thé chất, tỉnh than của trẻ em của người giám hộ doi với trẻ em dang được người đó giám hộ ”. Bên trong điều này cũng làm rõ các nhóm hành vi xâm hại trẻ em của chủ thé này bao gồm như: hành hung trẻ em, dâm 6 trẻ em, ngược đãi trẻ em (giảm đáng kê lượng thức ăn của trẻ em, bỏ rơi hoặc bỏ mặc trẻ em trong một khoảng thoi gian dài. ), sử dụng ngôn từ bạo lực với trẻ em.
Ngoài ra, theo Đạo luật Phúc lợi trẻ em (Child Welfare Act), BLDS Nhat Bản và một số luật chuyên ngành khác, các chủ thể khác nhau thực hiện hành vi xâm hại trẻ em cũng được pháp luật khoanh vùng, như: người giám hộ trẻ, người trong gia đình, người từ các trung tâm phúc lợi, Nhà nước, cá nhân, t6 chức khác trong xã hội; và đối tượng hướng đến của sự xâm hại bao gồm cả với trẻ em cơ nhỡ, khó khăn. Nhìn chung, có thể hiểu hành vi xâm hại trẻ em theo Pháp luật Nhật Bản là bao gồm các hành vi xâm hại trẻ em “về thé chất hoặc tinh than, gây thương tích hoặc lạm dụng, bị bỏ rơi hoặc đối xử không đúng mực, ngược đãi hoặc bóc lột, bao gầm cả lạm dụng tình đục do nhiều chủ thể thực hiện: người giảm hộ của trẻ em, người trong gia đình của trẻ em, các trung tâm phúc lợi trẻ em, Nhà nước, cả nhán, tổ chức khác trong xã hội ”!!. So với khái niệm về hành vi xâm hại trẻ em rút ra từ UNCRC, khái niệm trong Đạo luật phòng chống xâm hại trẻ em Nhật Bản có tính khái quát hơn và trong nội hàm điều luật cũng liệt kê rõ các hành vi cụ thể được xem là hành vi xâm hại trẻ em. Tuy nhiên nhược điểm của khái niệm này là chỉ xác định các hành vi đó được thực hiện bởi i “Japan: Child Protection Law and Policy”, https://www.gov/law/help/child-protection- law/japan.php# ftn9 truy cập ngày 18/12/2020.
11 chủ thé là người giám hộ.