CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 1.1 Cơ sở lý luận về thị trường và phát triển thị trường.1 Khái niệm về thị trường Sự ra đời của thị trường gắn liền với sự phát triển của sản xuất hàng hóa. Thị trường được hình thành trong quá trình lưu thông hàng hóa. Người cung ứng hàng hóa, dịch vụ được gọi là người bán, người có khả năng và sẵn sàng mua được gọi là người mua. Quá trình trao đổi đã hình thành các mối quan hệ khác nhau: mối quan hệ giữa người mua với nhau; mối qua hệ giữa người bán với nhau và mối quan hệ giữa người mua và người bán.
Vì vậy, theo nghĩa đen, “thị trường là nơi mua bán hàng hóa, là nơi tiến hành hoạt động trao đổi giữa người mua và người bán”. Tuy nhiên, không thể coi thị trường chỉ là các chợ, các cửa hàng, các siêu thị. mặc dù những nơi đó là nơi mua bán hàng hoá. Các yếu tố hình thành nên thị trường bao gồm: (1)đối tượng trao đổi - sản phẩm hàng hóa, dịch vụ; (2)đối tượng tham gia trao đổi - bên mua và bên bán; (3)điều kiện thực hiện trao đổi - khả năng thanh toán.
“Thị trường là tập hợp những người mua hàng hiện có và sẽ có”[15]. Thị trường bao gồm cả các khách hàng tiềm năng có khả năng và sẵn sàng mua sản phẩm của doanh nghiệp. Theo quan điểm này thì quy mô của thị trường không chỉ phụ thuộc vào số lượng khách hàng mà còn phụ thuộc vào số tiền mà họ sẵn bỏ ra để mua hàng hóa dịch vụ. Từ phân tích trên ta thấy: Thị trường là biểu hiện của quá trình ra quyết định của người mua về tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ cũng như các quyết định của các doanh nghiệp về mẫu mã, số lượng, chất lượng sản phẩm.
Đó chính là mối quan hệ giữa cung cầu về hàng hóa đó. Như vậy, để đạt được mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận, các doanh nghiệp phải thông qua tín hiệu thị trường để giải quyết ba vấn đề cơ bản: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai? Bên cạnh đó, người mua cũng trả lời được câu hỏi: Ai là người đáp ứng được nhu cầu của mình, nhu cầu được thỏa mãn đến đâu với chi phí như thế nào? Chỉ có thị trường mới có thể trả lời chính xác các câu hỏi này.2 Vai trò của thị trường Thị trường là yếu tố quyết định sự sống còn của doanh nghiệp. Thị trường tác động tới mọi khâu của quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Thị trường càng được mở rộng và phát triển thì doanh nghiệp càng có cơ hội tối đa hóa lợi nhuận.
Ngược lại, khi thị trường bị thu hẹp thì doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản. Thị trường điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá. Căn cứ vào nhu cầu thị trường, thông qua tín hiệu giá cả, các doanh nghiệp quyết định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Thị trường phản ánh vị thế của doanh nghiệp: Thị phần của doanh nghiệp càng lớn chứng tỏ khả năng thu hút khách hàng càng mạnh, số lượng sản phẩm tiêu thụ càng nhiều, vị thế của doanh nghiệp càng cao.3 Khái niệm phát triển thị trường Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp chỉ thành công khi tìm được đầu ra cho sản phẩm.
Để đứng vững trên thị trường, các doanh nghiệp luôn phải quan tâm đến chất lượng, mẫu mã, giá cả của sản phẩm cũng như các chính sách về quảng cáo, giới thiệu sản phẩm và chiến lược bán hàng hiệu quả. Theo mô hình Ansoff “chiến lược phát triển thị trường là chiến lược tìm cách bán các sản phẩm hiện tại trên thị trường mới” Theo chiến lược này, khi nhu cầu của thị trường bị thu hẹp, doanh nghiệp cần tìm kiếm thị trường mới để bán các sản phẩm hiện tại với các giải pháp: (1)tìm kiếm thị trường mới; (2)tìm kiếm khách hàng mới trên thị trường hiện tại (khách hàng mục tiêu mới; (3) tìm ra các giá trị sử dụng mới sản phẩm.4 Vai trò của hoạt động phát triển thị trường Hoạt động phát triển thị trường là một trong những hoạt động marketing nhằm mở rộng phạm vi thị trường hoặc phạm vi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Hoạt động này giúp doanh nghiệp thiết lập, mở rộng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhằm tối đa hóa lợi nhuận đồng thời khẳng định được ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Hoạt động phát triển thị trường được coi là công cụ quan trọng để tìm kiếm thị phần, khai thác cho sản phẩm hiện có và sản phẩm mới.
Hoạt động này góp phần nâng 7 cao năng lực, chất lượng và kỹ năng của người lao động, đặc biệt là đội ngũ nhân viên bán hàng, tiếp thị.2 Khái niệm về ngân hàng thương mại. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại (NHTM) được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa. Hệ thống NHTM ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế, ngược lại kinh tế càng phát triển thì NHTM cũng càng hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu. Có rất nhiều khái niệm về NHTM: Ở Mỹ ngân hàng thương mại được định nghĩa là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính.
Theo luật ngân hàng của Pháp (1941): “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Tại Việt Nam, khái niệm NHTM đã được quy định rõ trong Luật các tổ chức tín dụng: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay và thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Như vậy, NHTM là một trong những định chế tài chính cung cấp đa dạng các dịch tài chính với hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp các dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng.
Những hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại 1. Nghiệp vụ huy động vốn. Là nghiệp vụ cơ bản, quan trọng nhất, tác động đến chất lượng hoạt động của ngân hàng. Vốn được huy động dưới nhiều hình thức: tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, đi vay.
Trên cơ sở nguồn vốn huy động được, ngân hàng tiến hành cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Nghiệp vụ sử dụng vốn Là hoạt động trực tiếp mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng hiệu quả góp phần nâng cao uy tín, tăng năng lực cạnh tranh do đó ngân hàng nên xây dựng chiến lược sử dụng vốn sao cho hiệu quả nhất. - Cho vay: Là hoạt động quan trọng của NHTM.
Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại cho vay: theo hình thức bảo đảm, theo mục đích cho vay, theo kỳ hạn, theo nguồn gốc, phương pháp hoàn trả… - Đầu tư: Có hai hình thức đầu tư chủ yếu của ngân hàng: (1)kinh doanh các chứng khoán hoặc đầu tư góp vốn vào các doanh nghiệp khác và (2)đầu tư vào trang thiết bị, tài sản cố định phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. - Nghiệp vụ ngân quỹ: Ngoài việc cho vay và đầu tư để thu được lợi nhuận, ngân hàng cần sử dụng một phần nguồn vốn huy động được để đảm bảo khả năng thanh toán và thực hiện các quy định về dự trữ bắt buộc. Nghiệp vụ khác Với vai trò là trung gian tài chính, ngân hàng có rất nhiều lợi thế. Một trong những lợi thế đó là hoạt động thanh toán.
Để nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng cung cấp nhiều hình thức thanh toán khác nhau như: ủy nhiệm chi, thanh toán bằng séc, nhờ thu, các loại thẻ… đồng thời cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ, cung cấp tiền giấy khi khách hàng yêu cầu. Mặt khác, các NHTM còn tiến hành tư vấn, môi giới, mua, bán chứng khoán và làm đại lý phát hành chứng khoán cho các doanh nghiệp. Ngoài ra, ngân hàng còn cung cấp các dịch vụ ủy thác như ủy thác đầu tư, ủy thác cho vay, ủy thác giải ngân và thu hộ, ủy thác cấp phát.3 Khái niệm về dịch vụ thanh toán quốc tế của ngân hàng 1. Khái niệm về dịch vụ thanh toán quốc tế “Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và hưởng quyền lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giứa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan” [13, trang 245].
9 Theo Điều 3 khoản 1 Nghị định số 64/2001/NĐ-CP “Hoạt động thanh toán là việc mở tài khoản, thực hiện dịch vụ thanh toán, tổ chức và tham gia các hệ thống thanh toán của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và việc mở tài khoản, sử dụng dịch vụ thanh toán của người sử dụng dịch vụ thanh toán” [18]. Theo nghị định này, hoạt động thanh toán bao gồm cả thanh toán trong nước và thanh toán quốc tế. Theo điều 18 “Quy chế Hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán” quy định: “Dịch vụ thanh toán quốc tế là dịch vụ mà giao dịch thanh toán thuộc một trong các trường hợp sau: (1)Giao dịch thanh toán được xác lập hoặc thực hiện hoặc kết thúc ở nước ngoài; hoặc giao dịchthanh toán có liên quan đến tài khoản mở tại nước ngoài, và (2) Giao dịch thanh toán có doanh nghiệp chế xuất tham gia” [18]. Theo điều 19 nghị định này, quy định các dịch vụ thanh toán quốc tế bao gồm: (1)Thanh toán bằng thư tín dụng: Mở, phát hành, sửa đổi, thông báo, xác nhận, kiểm tra chứng từ, thanh toán; vả (2)Thanh toán bằng séc thanh toán quốc tế: lệnh chi hoặc ủy nhiệm chi quốc tế, nhờ thu hoặc ủy nhiệm thu quốc tế, thẻ quốc tế và các thể thức thanh toán khác.