CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Quan điểm của Đảng và nhà nước về huấn luyện thể thao thành tích cao Giai đoạn trước năm 1975. Đảng định hướng chỉ đạo sự nghiệp phát triển TDTT nói chung và hoạt động phát triển TDTT trong đó có TTTTC là đúng đắn, sát với tình hình đất nước vừa có chiến tranh diễn ra trong cả nước vừa có hòa bình một số năm ở miền Bắc. Ở giai đoạn này Nhà nước thể chế hóa Đường lối TDTT của Đảng kịp thời, phong phú sát đúng về phát triển TDTT quần chúng, TDTT trường học, TDTT trong lực lượng vũ trang.
Đối với TTTTC, Nhà nước mới chỉ đề cập trên phương diện chung, do tình hình cả nước có chiến tranh. Quan điểm, chủ trương của Đảng định hướng chỉ đạo sự nghiệp phát triển TDTT nói chung đã đã chỉ ra đầy đủ những mặt cần phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của hoạt động TDTT, như: Đào tạo nguồn nhân lực thể thao, nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ TDTT, tăng cường vật chất TDTT… Quan điểm chủ trương của Đảng định hướng phát triển các bộ phận TDTT phong phú, sáng tạo. Bộ phận TDTT nào cũng được đề cập tới các yếu tố phát triển sát thực với tình hình và nhu cầu, nổi trội hơn là TTTTC. Từ năm 2020 tới nay và đặc biệt trong những năm gần đây, hoạt động thể thao thành tích cao được Đảng và Nhà nước đặc biệt chú trọng.
Trong chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 ban hành kèm theo quyết định số 2198/QĐ-TTg ngày 03 tháng 12 năm 2010 của thủ tướng chính phủ, Thể thao thành tích cao được định hướng rất rõ ràng: “Đổi mới và hoàn thiện hệ thống tuyển chọn, đào tạo tài năng thể thao, gắn kết đào tạo các tuyến, các lớp kế cận; thống nhất quản lý phát triển thể thao thành tích cao, thể thao chuyên nghiệp theo hướng tiên tiến, bền vững, phù hợp với đặc điểm thể chất và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của nước ta và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, tinh thần của nhân dân; nâng cao thành tích thi đấu, giữ vững vị trí là một trong 3 quốc gia có thành tích thể thao đứng đầu khu vực Đông Nam Á, tiến tới thu hẹp khoảng cách trình độ đối với thể thao 7 châu Á và thế giới. Tăng cường hội nhập quốc tế, tích cực thực hiện chủ trương, đường lối ngoại giao nhân dân của Đảng và Nhà nước”. [63] Hoạt động TDTT lần đầu tiên được luật hóa thông qua là Pháp lệnh TDTT được ban hành năm 2000 [85] đã dành 1 chương (chương 4), 12 điều cho hoạt động thể thao thành tích cao. Sau một thời gian dài chuẩn bị, năm 2006 Luật TDTT được Quốc hội thông qua, ghi dấu ấn mới cho sự phát triển TDTT của nước nhà.
Luật TDTT đã dành riêng 1 chương (chương 3) với 13 điều cho thể thao thành tích cao và 10 điều cho thể thao chuyên nghiệp. Đây là cơ sở pháp lý để tăng cường trách nhiệm đối với hoạt động thể thao thành tích cao [55]. Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 01 tháng 12 năm 2011 về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020 đã dành trọng tâm cho việc nâng cao hiệu quả đào tạo tài năng thể thao, trong đó có yêu cầu: Dành nguồn lực thích đáng để hình thành hệ thống đào tạo tài năng thể thao với đội ngũ kế cận dồi dào và có chất lượng, làm tiền đề cho bước phát triển đột phá về thành tích trong một số môn thể thao; Đầu tư, nâng cấp các trung tâm huấn luyện thể thao của quốc gia, các ngành, các địa phương, đáp ứng yêu cầu huấn luyện thể thao hiện đại…[4] Năm 2013, thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 1752/QĐ- TTg ngày 30/9/2013 về việc Phê duyệt Quy hoạch hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật thể dục, thể thao quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Mục tiêu tổng quát của quy hoạt là” Đến năm 2020, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật thể dục, thể thao quốc gia cơ bản đáp ứng được nhu cầu tập luyện thể dục, thể thao của nhân dân ở các địa phương, vùng miền; đáp ứng yêu cầu đào tạo, huấn luyện, nâng cao thành tích thi đấu thể thao và đủ khả năng đăng cai tổ chức thành công tác giải thi đấu thể thao thành tích cao của khu vực, châu lục và một số giải thể thao thành tích cao của thế giới…”.
trong mục tiêu này, thể thao thành tích cao và việc tổ chức các hoạt động thể thao thành tích cao rất được chú trọng. [64] Cũng trong năm 2013, Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số 2160/QĐ-TTg ngày 11/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Quy hoạch phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020, định 8 hướng đến năm 2030 đã làm rõ về hoạt động đào tạo VĐV thể thao, trong đó xác định rõ các mục tiêu cụ thể về VĐV năng khieu thể thao nghiệp dư, VĐV năng khiếu trẻ được đào tạo tập trung, VDV đội tuyển các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các ngành, VĐV đội tuyển trẻ quốc gia và quốc gia, VDVD tại các liên đoàn, hiệp hội thể thao; thành tích thi đấu quốc tế cũng được làm rõ. Có 8 chương trình, đề án trọng điểm được tập trung, trong đó có 4 đề án liên quan tới lĩnh vực thể thao thành tích cao. [66] Năm 2019, thủ tướng chính phủ ban hành Nghị định số 36/2019/NĐ- CP ngày 29/4/2019 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thể dục, thể thao.
Trong đó, thể thao thành tích cao vẫn được dành riêng 01 chương (chương 3) với 13 điều quy định về thể thao thành tích cao và 10 điều quy định về thể thao chuyên nghiệp. Trong Luật thể dụ, thể thao năm 2018, thể thao thành tích cao vẫn được đặc biệt quan tâm. [56] Cũng trong năm 2019, Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số 223/QĐ-TTg ngày 22/02/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng tài năng thể thao và nhân lực thể thao thành tích cao đến năm 2035 đã khẳng định rõ quan điểm: Chăm lo, phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và phát triển các tài năng thể thao là trách nhiệm ủa Đảng, Nhà nước và của cả hệ thống cính trị các cấp, các ngành và toàn xã hội… [67] Trong chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 ban hành kèm theo quyết định số 1189/QĐ-TTg ngày 15/10/2024 của Thủ tướng chính phủ đã định hướng rõ đến năm 2030: “Thể thao thành tích cao duy trì trong tốp 3 tại các kỳ SEA Games và trong tốp 20 tại các kỳ ASIAD; trong đó phấn đấu đạt từ 05 đến 07 huy chương vàng tại các kỳ ASIAD, có huy chương tại các kỳ Olympic và Paralympic, bóng đá nam trong tốp 10 châu Á và bóng đá nữ trong tốp 8 châu Á”. Đến năm 2045: “Thể thao thành tích cao thường xuyên duy trì trong tốp 2 tại các kỳ SEA Games, trong tốp 15 tại các kỳ ASIAD và tốp 50 tại các kỳ Olympic; bóng đá nam trong tốp 8 châu Á và giành quyền tham dự World Cup; bóng đá nữ trong tốp 6 châu Á và giành quyền tham dự các kỳ World Cup”.
Với định hướng này, Thể thao thành tích cao đã được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. [68] 9 Như vậy, Đảng và nhà nước nhất quán quan tâm và coi trọng thể thao thành tích cao và dành nguồn lực phù hợp, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động thể thao thành tích cao. Một số khái niệm có liên quan 1. Bài tập thể dục thể thao Bài tập thể dục thể thao là phương tiện huấn luyện chủ yếu trong các môn thể thao.
Trong chừng mực nhất định, các bài tập đó được chuyên môn hóa phù hợp với những đặc điểm của môn thể thao lựa chọn để tập luyện sâu, cần phân biệt ba nhóm bài tập tương ứng: 1. Các bài tập thi đấu môn lựa chon; 2. Các bài tập chuẩn bị chuyên môn; 3. Các bài tập chuẩn bị chung.
Các bài tập thi đấu Đó chính là những động tác toàn vẹn (hoặc phức hợp các động tác) được dùng làm đối tượng chuyên môn hóa thể thao và được thực hiện hoàn toàn đúng như các điều luật thi đấu của môn thể thao này. Khái niệm “bài tập thi đấu” trong một ý nghĩa nào đó trùng với khái niệm “môn thể thao”. [71] Có nhiều bài tập thi đấu là những động tác có hướng tương đối hẹp và bị hạn chế về thành phần các động tác. Các bài tập gồm cả các động tác chu kỳ (các môn chạy và đi bộ trong điền kinh, trượt tuyết, đua xe đạp, trượt băng, bơi, chèo thuyền trên những cự ly quy định), cũng như một số động tác không có chu kỳ và hỗn hợp (nhảy, ném trong điền kinh…).
Tùy theo tính chất của các tố chất thể lực cơ bản biểu hiện trong khi thực hiện các bài tập đó, có thể chia chúng thành các bài tập tốc độ - sức mạnh và các bài tập chủ yếu đòi hỏi sức bền. Các bài tập đòi hỏi sức bền, đến lượt nó, lại tùy thuộc vào đặc điểm của sức bền để chia ra các bài tập có công suất dưới tối đa, công suất lớn và công suất điều hòa. [71], [72] Ngoài ra còn có những bài tập thi đấu mà mỗi bài tập là một phức hợp linh hoạt, thay đổi tùy theo điều kiện, các hành vi vận động khác nhau được liện hợp lại theo một “chủ đề”. Đó là các môn bóng và các môn đối kháng hai người (vật, quyền anh, đấu kiếm).
Khác với những bài tập kể trên, đặc điểm của các bài tập thi đấu này là sự biểu hiện tổng hợp của các tố chất thể lực cơ bản trong điều kiện thay đổi thường xuyên và bất ngờ các tình huống và các hình thức vận động. 10 Còn có các phức hợp những bài tập thi đấu tương đối độc lập - những môn thể thao đặc biệt như hai môn, nhiều môn phối hợp. Chúng có thể gồm các bài tập tương đối đồng nhất cũng như các bài tập hoàn toàn khác nhau. Hiện nay người ta thường chuyên môn hóa về một loại bài tập thi đấu, hoặc về phối hợp hai môn, phối hợp nhiều môn.
Trong khi đó, các bài tập khác có thể được sử dụng như các môn thể thao phụ, bổ trợ.