ĐẶT VẤN ĐỀ Các nhà sản xuất thực phẩm đã và đang cố gắng không ngừng trong công tác phát triển sản phẩm mới hoặc tối ƣu các sản phẩm hiện tại nhằm mục đích: I. Đi đầu trong việc tạo ra các sản phẩm mới, dẫn đầu trên thị trƣờng về các chủng loại sản phẩm. Tránh sự nhàm chán của khách hàng cũng nhƣ thỏa mãn các yêu cầu của ngƣời tiêu dùng về sự đa dạng sản phẩm. Phân phối, chuyển giao đƣợc các sản phẩm mới đáp ứng đƣợc sự yêu thích của ngƣời tiêu dùng.
Việc tạo ra các sản phẩm tối ƣu, phù hợp với sở thích của ngƣời tiêu dùng là một trong những nhiệm vụ trọng yếu mà các nhà phát triển sản phẩm cần hƣớng tới. Một trong những điểm mấu chốt, quan trọng nhất đó chính là làm sao để hiểu đƣợc một cách cặn kẽ tâm lý ngƣời tiêu dùng. Làm sao để tìm ra đƣợc “Sản phẩm nào đƣợc đa số ngƣời tiêu dùng ƣa thích?”, “Sản phẩm nào có mức độ ƣa thích là tối đa”. Một điểm quan trọng nữa cũng cần phải quan tâm trong công tác phát triển sản phẩm đó là “ Mỗi sản phẩm chỉ đáp ứng cho một nhóm đối tƣợng ngƣời tiêu dùng cụ thể hay còn gọi là nhóm “khách hàng mục tiêu”.
Và chúng ta cũng chỉ muốn biết làm thế nào để nhóm khách hàng mục tiêu này ƣa thích đối với sản phẩm. Tất cả các phƣơng pháp tối ƣu hóa cho sản phẩm đều chia sẻ một giả định về sự tồn tại của một sản phẩm đƣợc cho là “lý tƣởng’, mặc dù thực tế chỉ ra rằng các sản phẩm “lý tƣởng” có thể khác nhau đối với từng phân khúc ngƣời tiêu dùng [1]. Về mặt khái niệm, vùng sản phẩm lý tƣởng là vùng đƣợc ngƣời tiêu dùng ƣa thích nhất. Hay nói cách khác mức độ ƣa thích của ngƣời tiêu dùng đối với sản phẩm là cực đại khi tất cả các tính chất cảm quan là “lý tƣởng” hoặc “vừa phải” (Just About Right).
Khi một thuộc tính nào đó của sản phẩm lệch ra khỏi vùng lý tƣởng, mức độ ƣa thích đối với sản phẩm sẽ bị giảm. Tuy nhiên, mức độ ảnh hƣởng của độ lệch của từng thuộc 1 tính so với cƣờng độ lý tƣởng còn tùy thuộc vào mức độ tƣơng quan của thuộc tính đó với mức độ ƣa thích chung cho sản phẩm [2]. Việc ứng dụng các phƣơng pháp để tối ƣu hóa sản phẩm tùy thuộc vào độ phức tạp, giá cả và cả thời gian cho công việc phát triển sản phẩm. Tất cả các phƣơng pháp ứng dụng cho việc tối ƣu hóa sản phẩm đều xuất phát từ một câu hỏi: Liệu có tồn tại một sản phẩm “lý tƣởng” tƣơng ứng với mức độ ƣa thích tối đa? Để gần gũi hơn với thị trƣờng mà cụ thể là ngƣời tiêu dùng mục tiêu, chúng ta cần phải sử dụng những thuộc ngữ mô tả cảm quan cho sản phẩm thu đƣợc từ nhóm ngƣời tiêu dùng mục tiêu hơn là sử dụng các thuộc ngữ từ chuyên gia hay những hội đồng đƣợc huấn luyện [3].
Điều này sẽ giúp cho ngƣời tiêu dùng hiểu rõ hơn về các thuộc tính của sản phẩm mà họ cần đánh giá. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào việc tìm hiểu khả năng ứng dụng của phương pháp sản phẩm lý tưởng trong việc tạo ra một sản phẩm cà phê đóng lon nhằm đáp ứng nhu cầu của ngƣời tiêu dùng Việt Nam. Liệu việc xác định vùng sản phẩm lý tƣởng cho một sản phẩm cà phê, vốn là một dòng sản phẩm rất truyền thống và đặc biệt của thị trƣờng Việt Nam có giúp cho việc cải thiện cũng nhƣ tối ƣu hóa cho một dòng cà phê uống liền mang tính hiện đại và mới lạ? Ý tƣởng cho dòng sản phẩm cà phê đóng lon mới xuất phát từ nhu cầu thực tế của công ty, đơn vị công tác, nên một số thông tin cụ thể về mặt công thức và chiến lƣợc ngƣời tiêu dùng xin đƣợc phép không chia sẻ trong nghiên cứu này. 2 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN Sự thành công của một sản phẩm tùy thuộc rất lớn vào mức độ ƣa thích của ngƣời tiêu dùng đối với sản phẩm đó.
Một sản phẩm có mức độ ƣa thích càng cao, thì khả năng thành công của sản phẩm trên thị trƣờng càng lớn. Hầu hết các phƣơng pháp đƣợc ứng dụng trong việc tối ƣu hóa sản phẩm đều xuất phát từ một giả định về sự tồn tại tiềm ẩn của một sản phẩm lý tƣởng, là sản phẩm đƣợc ƣa thích bởi một lƣợng lớn ngƣời tiêu dùng. Để tạo ra một sản phẩm mang tính chất cạnh tranh cao và thành công trên thị trƣờng, nhà sản xuất phải biết đƣợc đâu là ý muốn thực sự của ngƣời tiêu dùng hay đâu là “sản phẩm lý tƣởng” tìm ẩn của ngƣời tiêu dùng. Để hiểu rõ đƣợc các ý muốn này đòi hỏi nhà sản xuất phải có cái nhìn sâu sắc về nhu cầu thực tế của ngƣời tiêu dùng về sản phẩm.
Nhu cầu đó không chỉ xuất phát từ mức độ ƣu thích nói chung đối với sản phẩm mà còn bao gồm cả những thuộc tính quan trọng của sản phẩm. Các thuộc tính này góp phần quyết định mức độ ƣa thích của ngƣời tiêu dùng đối với sản phẩm. Một số phƣơng pháp ứng dụng để cải tiến sản phẩm trong phát triển sản phẩm Một trong những bƣớc quan trọng trong việc phát triển sản phẩm đó chính là việc tối ƣu hóa sản phẩm. Mục tiêu quan trọng nhất của giai đoạn này chính là việc xác định ra sản phẩm lý tƣởng, là sản phẩm đáp ứng một lƣợng lớn nhất khách hàng tiềm năng, điều này thể hiện qua việc đo lƣờng mức độ ƣa thích chung của ngƣời tiêu dùng đối với sản phẩm đó [4].
Một trong những phƣơng pháp thông dụng và phổ biến nhất đƣợc thực hiện đó là yêu cầu các chuyên gia hoặc những ngƣời đƣợc huấn luyện đánh giá cƣờng độ của các thuộc tính cảm quan của sản phẩm (Quantitative Descriptive Analysis – QDA) [5]. Và ngƣời tiêu dùng đƣợc yêu cầu đánh giá mức độ ƣa thích chung của họ trên cùng một loại sản phẩm với hội đồng chuyên gia (Central Location Test – CLT). Tất cả hai dữ liệu đƣợc thu thập từ hội đồng chuyên gia và ngƣời tiêu dùng đƣợc gộp chung và tiến 3 hành phân tích tƣơng quan giữa mức độ ƣa thích và các thuộc tính cảm quan từ đó xác định các đặc tính cảm quan cho sản phẩm lý tƣởng [6]. Phƣơng pháp cổ điển này đƣợc các công ty nghiên cứu thị trƣờng tiếp cận bằng một cách khác đó là sử dụng thang đo JAR (Just About Right).
Khi mà họ không thể có hội đồng chuyên gia hoặc những ngƣời đƣợc huấn luyện để đánh giá các thuộc tính cảm quan cho sản phẩm và các thông tin bắt buộc phải đƣợc trích trực tiếp từ ngƣời tiêu dùng [7,8,9,10,11,12]. Trên thang đo JAR, ngƣời tiêu dùng đánh giá mức độ ƣa thích của họ đối với sản phẩm đồng thời đánh giá các thuộc tính cảm quan với thang đo “ vừa phải”, “quá mạnh” hoặc “quá yếu” cho mỗi thuộc tính theo ý thích của họ. Theo nhìn nhận ở khía cạnh tâm lý học, đây là một việc làm cũng khá phức tạp, để cho ra đƣợc mức độ tƣơng ứng với thang đo JAR, ngƣời tiêu dùng phải ƣớc lƣợng hiệu số cƣờng độ thực tế và cƣờng độ lý tƣởng cho mỗi thuộc tính tƣơng ứng. Công việc này sẽ trở nên dễ dàng và rõ ràng hơn nếu chúng ta hỏi ngƣời tiêu dùng trực tiếp về cƣờng độ thực tế và cả cƣờng độ mong muốn của họ cho mỗi thuộc tính thay vì phải bắt họ làm phép tính trừ.
Và thực chất đó cũng chính là quy trình thực hiện của phƣơng pháp sản phẩm lý tƣởng. Một trong những phƣơng pháp đƣợc sử dụng khá bổ biến trong suốt quá trình tối ƣu hóa cho sản phẩm đó là sử dụng bản đồ thị hiếu ngoại (external preference mapping). Bản đồ thị hiếu ngoại cũng là một phƣơng pháp để xác định vùng sản phẩm lý tƣởng – là vùng sản phẩm đƣợc chấp nhận bởi số đông ngƣời tiêu dùng dựa vào thị hiếu và cƣờng độ của các thuộc tính của sản phẩm. Trong đó điểm thị hiếu là hàm phụ thuộc, đƣợc biểu diễn dựa trên hai trục chính đầu tiên ( Dim1, Dim2) của mặt phẳng phân bố sản phẩm [13] của PCA (Principle Component Analyse).1: Bản đồ thị hiếu ngoại Một công cụ khác cũng thƣờng xuyên đƣợc sử dụng để hiểu các mô tả của các thuộc tính cảm quan có thể điều khiển mức độ ƣa thích của ngƣời tiêu dùng chính là bản đồ thị hiếu nội ( internal preference mapping).
Trong phƣơng pháp này, profile cảm quan của sản phẩm đƣợc tạo thành từ dữ liệu đánh giá mức độ ƣa thích đối với mẫu thử từ số lƣợng mẫu đại diện ngƣời tiêu dùng. Sử dụng dữ liệu thu đƣợc từ ngƣời tiêu dùng để xác định mô hình thị hiếu của ngƣời tiêu dùng. Tất cả các cách tiếp cận ngƣời tiêu dùng nhƣ trên đều chỉ hỏi ngƣời tiêu dùng về mức độ ƣa thích của họ đối với sản phẩm, còn những thông tin về cảm nhận của họ đối với các thuộc tính cảm quan của sản phẩm thì không đƣợc thu thập. Ngƣợc lại, những ngƣời đƣợc huấn luyện đôi khi có thể mô tả sản phẩm bằng những ngôn ngữ chuyên môn khác biệt với mô tả đơn giản của ngƣời tiêu dùng.
Hoặc đôi khi những mô tả của hội đồng chuyên gia hay những ngƣời đƣợc huấn luyện lại không thích hợp với ngƣời tiêu dùng. Thêm vào đó, sử dụng những ngƣời đƣợc huấn luyện đôi khi rất tốn thời gian và mỗi hội đồng đƣợc huấn luyện chỉ áp dụng cho một loại sản phẩm nhất định [14]. Một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng, không có sự khác biệt đáng kể giữa ngƣời tiêu dùng và chuyên gia trong việc mô tả sản phẩm [3,12,15]. 5 So với phƣơng pháp cổ điển nhƣ đã nêu trên thì phƣơng pháp sản phẩm lý tƣởng đƣợc cho là nhanh hơn và hiệu quả hơn bởi vì tất cả các thông tin đều thu đƣợc trong chỉ một thí nghiệm.
So với việc sử dụng thang JAR, phƣơng pháp mô tả nhanh hay phƣơng pháp napping thì phƣơng pháp sản phẩm lý tƣởng cung cấp nhiều thông tin hơn [16,17]. Nó không chỉ giúp chỉ ra mức độ khác nhau ở cƣờng độ cảm nhận cho mỗi sản phẩm mà còn cả profile cho sản phẩm lý tƣởng. Và bên cạnh đó, phƣơng pháp sản phẩm lý tƣởng cũng giúp chỉ ra dự đoán mức độ ảnh hƣởng lên mức độ ƣa thích chung khi các thuộc tính của sản phẩm là lý tƣởng [18]. Phƣơng pháp sản phẩm lý tƣởng Theo định nghĩa của P.