Tổng quan nghiên cứu

Lâm sản ngoài gỗ đóng vai trò then chốt trong cấu trúc kinh tế - xã hội và bảo tồn sinh thái tại các tỉnh miền núi Việt Nam. Theo thống kê của ngành lâm nghiệp, nguồn thu từ lâm sản ngoài gỗ đóng góp từ 10% đến 20%, thậm chí đạt 30% tổng thu nhập hàng năm của các hộ gia đình vùng cao. Trên quy mô quốc gia, kim ngạch xuất khẩu của 8 nhóm mặt hàng lâm sản ngoài gỗ chủ lực có sự tăng trưởng vượt bậc, từ mức 108 triệu USD vào năm 2002 lên 154 triệu USD năm 2003 và đạt 198 triệu USD vào năm 2004. Tuy nhiên, sau nhiều thập kỷ suy giảm tài nguyên rừng từ 14,3 triệu ha với độ che phủ 43% năm 1943 xuống còn 9,18 triệu ha với độ che phủ 27,2% năm 1990, diện tích rừng đến năm 2007 dù phục hồi lên 12,837 triệu ha với độ che phủ 38,2% nhưng có tới 10,284 triệu ha là rừng tự nhiên nghèo kiệt.

Thực trạng này đặt ra vấn đề cấp bách: làm thế nào để vừa khôi phục chất lượng rừng, vừa tạo sinh kế bền vững cho đồng bào vùng cao. Luận văn tập trung vào mục tiêu khảo sát, phân tích hiện trạng gây trồng, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường, tổng kết kinh nghiệm bản địa và xác định tập đoàn cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế cao. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại 5 tỉnh miền núi phía Bắc gồm Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang và Cao Bằng trong giai đoạn năm 2007 - 2008. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học vững chắc giúp tối ưu hóa giá trị kinh tế trên 1 ha đất rừng, hướng tới mục tiêu tăng trưởng thu nhập hộ gia đình và hiện thực hóa các chính sách trọng điểm như Quyết định số 100/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự giao thoa của ba hệ thống lý thuyết nền tảng: Lý thuyết quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng, Khung sinh kế bền vững và Lý thuyết cấu trúc nông lâm kết hợp đa tầng tán. Nghiên cứu vận dụng mô hình đánh giá chuỗi giá trị lâm sản kết hợp với mô hình ma trận đánh giá đa tiêu chí để phân hạng mức độ ưu tiên của cây trồng lâm sản ngoài gỗ.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong luận văn bao gồm:

  • Lâm sản ngoài gỗ: Toàn bộ các sản phẩm sinh học khác gỗ được khai thác từ rừng, đất có rừng hoặc cây gỗ ngoài rừng theo định nghĩa chuẩn mực của Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc ban hành năm 1999.
  • Độ tàn che của tán rừng: Tỷ lệ che phủ thẳng đứng của tán cây gỗ tầng cao đối với bề mặt đất rừng, yếu tố quyết định điều kiện ánh sáng và vi khí hậu cho thảm thực vật dưới tán.
  • Đai cao sinh thái: Sự phân hóa không gian sống của thực vật theo độ cao tuyệt đối so với mực nước biển, tạo nên các biên độ sinh thái đặc thù cho từng nhóm loài cây.
  • Thâm canh lâm sinh bền vững: Việc áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm tối đa hóa năng suất sinh khối mà không làm thoái hóa cấu trúc đất và suy giảm tính đa dạng sinh học của rừng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập tại các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm, Cục Hải quan của 5 tỉnh và nguồn dữ liệu sơ cấp điều tra thực địa. Phương pháp chọn mẫu phân tầng đại diện được triển khai đồng bộ: tại 5 tỉnh, nghiên cứu lựa chọn 10 huyện trọng điểm, mỗi huyện chọn 1 xã đại diện và khảo sát trực tiếp tại 10 xã cơ sở với sự tham gia của hàng trăm hộ gia đình gây trồng lâm sản ngoài gỗ.

Tại hiện trường, phương pháp Đánh giá nhanh nông thôn và Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia được kết hợp với phương pháp lập ô tiêu chuẩn tạm thời. Cỡ mẫu nghiên cứu thực địa bao gồm các ô tiêu chuẩn có diện tích từ 500 m2 đến 1.000 m2 (kích thước 20x25 m hoặc 25x40 m) với dung lượng mẫu đo đếm trên mỗi ô đạt từ 30 cây trở lên đối với cây thân gỗ tầng cao. Riêng thảm thực vật thân thảo và dây leo dưới tán được định lượng thông qua 5 ô dạng bản diện tích 25 m2 bố trí tại tâm và 4 góc ô tiêu chuẩn. Độ tàn che được đo đếm chính xác qua hệ thống 200 điểm ngắm thẳng đứng.

Ma trận so sánh cặp đôi được sử dụng để xếp hạng ưu tiên từ 5 đến 7 loài cây cho mỗi tỉnh dựa trên 6 tiêu chí khắt khe: hiệu quả kinh tế, kinh nghiệm gây trồng của người dân, tiềm năng thị trường, tính tương thích sinh thái, khả năng bảo vệ môi trường và sự đồng thuận của chính quyền địa phương. Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích được lựa chọn nhằm lượng hóa giá trị thực tế sau khi đã trừ toàn bộ chi phí đầu tư và lãi vay ngân hàng trong chu kỳ kinh doanh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực địa năm 2007 cho thấy tổng diện tích đất lâm nghiệp của 5 tỉnh chiếm tỷ lệ bình quân 70,5% diện tích tự nhiên, cao nhất là Lai Châu đạt 82,9% và thấp nhất là Cao Bằng đạt 61,1%. Tỷ lệ đất có rừng bình quân đạt 40,4%, trong đó Hà Giang đạt 46,7%, Lào Cai đạt 44,8%, Cao Bằng đạt 39,2%, Lai Châu đạt 37,5% và Sơn La đạt 34,0%. Diện tích rừng trồng lâm sản ngoài gỗ có sự phân hóa rõ rệt: Lào Cai dẫn đầu với 17.870 ha (chiếm 34,8% diện tích rừng trồng toàn tỉnh), trong khi Cao Bằng có tỷ lệ rừng trồng lâm sản ngoài gỗ chiếm tới 65,7% diện tích rừng trồng, còn Sơn La chỉ đạt 1.566 ha (chiếm 3,8% diện tích rừng trồng).

Trong tổng số hơn 50 loài cây lâm sản ngoài gỗ được ghi nhận, có 17 loài chủ lực được phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô trên 3 ha, chiếm khoảng 60% tổng số loài cây trồng lâm nghiệp tại địa phương. Cấu trúc dạng sống của tập đoàn cây trồng gồm 72% thuộc nhóm cây gỗ và tre nứa, 28% thuộc nhóm thân thảo và dây leo sống dưới tán. Về công dụng, nhóm cây làm nguyên liệu công nghiệp chiếm 45 - 56%, nhóm cây thực phẩm chiếm 25 - 67%, nhóm cây thuốc chiếm 22 - 38% và nhóm cho dầu nhựa chiếm 11 - 33%.

Về năng lực sản xuất năm 2007, Lào Cai dẫn đầu về sản lượng Thảo quả với 1.500 tấn khô và 3.000 tấn măng tươi; Hà Giang đạt sản lượng 2.000 tấn vỏ Quế khô và 250 tấn sợi Mây; Cao Bằng đạt 2,5 triệu cây Trúc sào và 350 tấn Hồi; sản lượng Cánh kiến đỏ tại Sơn La có bước phục hồi mạnh mẽ từ 450 tấn năm 2000 lên 875 tấn năm 2007.

Phân bố sinh thái theo đai cao ghi nhận sự phân tầng rõ nét:

  • Vùng thấp (50 - 500 m): 11 loài thích hợp như Tre Bát độ, Mây nếp, Hồi, Ba kích, Trẩu, Thông nhựa.
  • Vùng trung bình (500 - 1.000 m): 10 loài gồm Quế, Luồng, Mạy hốc, Dẻ Trùng Khánh, Trúc sào.
  • Vùng cao (1.000 - 2.500 m): 5 loài đặc thù gồm Thảo quả, Trúc sào, Mạy hốc, Dẻ Trùng Khánh và các loài cây dược liệu quý.

Thảo luận kết quả

Nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa điều kiện lập địa, độ tàn che tầng cây cao và năng suất lâm sản ngoài gỗ. Cụ thể, mô hình trồng Thảo quả dưới tán rừng tự nhiên nghèo kiệt với độ tàn che 0,45, mật độ tầng cây cao 120 cây/ha (gồm Dẻ, Thích, Đáng, Côm) đạt năng suất bình quân 450 kg quả khô/ha. Ngược lại, tại các ô tiêu chuẩn thuộc rừng phục hồi có độ tàn che chỉ đạt 0,30, mật độ cây cao 250 cây/ha (gồm Tống quán sủ, Ba soi, Bồ đề), năng suất Thảo quả giảm hơn 55%, chỉ đạt 200 kg quả khô/ha.

Khi so sánh với các vùng chuyên canh thâm canh cao, năng suất lâm sản ngoài gỗ tại 5 tỉnh miền núi phía Bắc vẫn ở mức trung bình thấp. Năng suất tre lấy măng tại Sơn La đạt bình quân 4,5 tấn/ha với tỷ lệ măng loại 1 đạt 60%, trong khi các mô hình thâm canh tại Ba Vì đạt từ 7 đến 10 tấn/ha với tỷ lệ măng loại 1 lên tới 80%. Tương tự, năng suất Quế 15 tuổi tại Lào Cai đạt khoảng 10 đến 12 tấn vỏ khô/ha, thấp hơn so với năng suất 15 đến 18 tấn vỏ khô/ha tại vùng thâm canh trọng điểm Yên Bái.

Để tối ưu hóa trực quan, dữ liệu về mối tương quan giữa độ tàn che, mật độ cây gỗ tầng trên và năng suất quả khô/vỏ khô hoàn toàn có thể được biểu diễn qua biểu đồ phân tán hoặc bảng ma trận so sánh đa nhân tố. Biểu đồ cột chồng thể hiện cơ cấu diện tích đất có rừng so với đất lâm nghiệp chưa có rừng cũng làm nổi bật tiềm năng mở rộng diện tích lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng tự nhiên tại vùng Tây Bắc và Đông Bắc.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Quy hoạch phân vùng sinh thái và phát triển vùng trồng tập trung: Ủy ban nhân dân 5 tỉnh phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiến hành rà soát, khoanh vùng 50.000 ha rừng tự nhiên nghèo và đất lâm nghiệp để gây trồng tập trung 9 loài cây ưu tiên gồm Thảo quả, Quế, Trúc sào, Mây nếp, Hồi, Sa nhân tím, Dẻ Trùng Khánh, Trẩu và Tre Bát độ. Hoàn thành phê duyệt quy hoạch chi tiết cấp huyện trước quý IV năm 2010.

  2. Hoàn thiện và chuyển giao quy trình kỹ thuật lâm sinh tiên tiến: Viện Khoa học Lâm nghiệp và Trung tâm Khuyến nông các tỉnh tổ chức tập huấn kỹ thuật nhân giống vô tính. Phổ biến phương pháp ghép nêm ngọn và giâm hom xử lý chất điều hòa sinh trưởng IBA 1% đối với Quế và Hồi nhằm nâng tỷ lệ sống xuất vườn đạt trên 70%. Hướng dẫn kỹ thuật điều chỉnh độ tàn che tán rừng duy trì ở mức 0,4 đến 0,5, phấn đấu nâng năng suất Thảo quả đạt 450 đến 500 kg/ha và năng suất măng đạt 7 đến 8 tấn/ha trong giai đoạn 2009 - 2015.

  3. Xây dựng chuỗi liên kết giá trị và cơ sở chế biến tinh sâu: Sở Công Thương phối hợp với các doanh nghiệp lâm sản đầu tư xây dựng tối thiểu 10 cơ sở sơ chế, sấy lạnh và chiết xuất tinh dầu đạt tiêu chuẩn xuất khẩu tại các huyện vùng cao. Thiết lập hợp đồng bao tiêu sản phẩm dài hạn cho 100% các hợp tác xã và tổ hợp tác gây trồng lâm sản ngoài gỗ trước năm 2012, giảm thiểu tình trạng ép giá của thương lái trung gian.

  4. Cải cách chính sách tín dụng và giao đất khoán rừng: Ngân hàng Chính sách Xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn triển khai gói vay vốn ưu đãi với lãi suất hỗ trợ dưới 5%/năm, thời hạn vay kéo dài 7 đến 10 năm phù hợp với chu kỳ kinh doanh cây thân gỗ và cây thuốc. Đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho 100% hộ dân nhận khoán bảo vệ và làm giàu rừng trước năm 2011 theo tinh thần Quyết định 100/2007/QĐ-TTg.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý ngành lâm nghiệp: Cung cấp cơ sở khoa học, số liệu thống kê thực chứng về 17 loài lâm sản ngoài gỗ chủ lực và bức tranh toàn cảnh về 70,5% diện tích đất lâm nghiệp tại 5 tỉnh miền núi phía Bắc, phục vụ công tác xây dựng đề án phát triển lâm nghiệp bền vững và kế hoạch hành động cấp tỉnh.

  2. Các nhà khoa học, giảng viên và sinh viên chuyên ngành Lâm học, Lâm nghiệp xã hội: Tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn kết hợp Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia, kỹ thuật nhân giống giâm hom bằng chất kích thích IBA 1% và cơ sở sinh thái học của thảm thực vật dưới tán rừng nhiệt đới.

  3. Doanh nghiệp kinh doanh, chế biến và xuất khẩu nông lâm sản: Nắm bắt chi tiết sản lượng nguồn nguyên liệu thực tế như 1.500 tấn Thảo quả, 2.000 tấn vỏ Quế, 2,5 triệu cây Trúc sào và biến động thị trường Cánh kiến đỏ để xây dựng chuỗi cung ứng, đầu tư công nghệ tinh chế và mở rộng thị trường xuất khẩu.

  4. Chủ rừng, chủ trang trại và các hộ nông dân vùng cao: Hướng dẫn kỹ thuật lựa chọn đúng loài cây theo 3 đai cao sinh thái, kỹ thuật điều chỉnh mật độ cây mẹ, độ tàn che tán rừng từ 0,3 đến 0,5 để tối ưu hóa năng suất măng, quả và dược liệu, chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ độc canh nương rẫy sang mô hình nông lâm kết hợp đạt giá trị gia tăng cao.

Câu hỏi thường gặp

Lâm sản ngoài gỗ đóng góp tỷ lệ thu nhập như thế nào đối với hộ gia đình miền núi? Nguồn thu từ lâm sản ngoài gỗ chiếm từ 10% đến 20%, thậm chí lên đến 30% tổng thu nhập hàng năm của các hộ gia đình sống gần rừng tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Nhiều mô hình trồng Thảo quả tại Lào Cai hay Trúc sào tại Cao Bằng đã trở thành nguồn thu chính, giúp hàng nghìn hộ đồng bào xóa đói giảm nghèo bền vững.

Tại sao cây Thảo quả chỉ cho năng suất cao ở độ cao trên 1.000 m? Thảo quả là loài cây có biên độ sinh thái hẹp, yêu cầu điều kiện khí hậu á nhiệt đới núi cao với độ ẩm cao và nhiệt độ mát mẻ. Kết quả thực địa tại Sa Pa cho thấy Thảo quả trồng ở độ cao 1.200 m đến 1.500 m đạt năng suất 350 đến 500 kg khô/ha, trong khi trồng ở độ cao dưới 1.000 m hầu như không thể phân hóa mầm hoa và không đậu quả.

Độ tàn che của tán rừng ảnh hưởng như thế nào đến cây lâm sản ngoài gỗ dưới tán? Độ tàn che quyết định trực tiếp đến cường độ ánh sáng và độ ẩm tiểu khí hậu. Cây Thảo quả trồng dưới tán rừng có độ tàn che 0,45 đạt năng suất 450 kg/ha, trong khi ở tán rừng thưa có độ tàn che 0,30 thì năng suất giảm mạnh xuống 200 kg/ha. Ngược lại, Mây nếp trồng nơi đất trống không có che bóng sẽ sinh trưởng còi cọc và tỷ lệ chết cao.

Những loài lâm sản ngoài gỗ nào được đánh giá ưu tiên hàng đầu tại 5 tỉnh nghiên cứu? Thông qua ma trận so sánh cặp đôi, 9 loài cây được đánh giá có tiềm năng hàng hóa cao nhất gồm Thảo quả (ưu tiên số 1 tại Lào Cai, Lai Châu), Trúc sào và Hồi (ưu tiên số 1 và 2 tại Cao Bằng), Mây nếp (ưu tiên số 1 tại Sơn La, Hà Giang), cùng với Quế, Tre Bát độ, Sa nhân tím, Dẻ Trùng Khánh và Trẩu.

Biện pháp kỹ thuật nào giúp nâng cao tỷ lệ sống khi nhân giống Quế và Hồi? Nghiên cứu khẳng định việc giâm hom cành hoặc hom chồi vượt lấy từ cây mẹ dưới 7 năm tuổi, kết hợp xử lý chất điều hòa sinh trưởng IBA nồng độ 1% vào đầu vụ hè, giúp tỷ lệ ra rễ đạt từ 66% đến 69%. Đối với nhân giống ghép, phương pháp ghép nêm ngọn vào vụ thu đạt tỷ lệ sống cao nhất, dao động từ 70% đến 77%.

Kết luận

  • Đã đánh giá toàn diện hiện trạng tài nguyên trên 70,5% diện tích đất lâm nghiệp của 5 tỉnh miền núi phía Bắc, xác định tỷ lệ che phủ rừng đạt 40,4% và diện tích rừng trồng lâm sản ngoài gỗ đạt 1,2% diện tích tự nhiên.
  • Đã sàng lọc từ hơn 50 loài để xác định tập đoàn 17 loài cây lâm sản ngoài gỗ thương mại chủ lực, trong đó 9 loài có giá trị kinh tế vượt trội được xếp hạng ưu tiên theo từng địa phương.
  • Đã phân vùng lập địa thành 3 đai cao sinh thái rõ rệt (vùng thấp 50 - 500 m, vùng trung bình 500 - 1.000 m, vùng cao 1.000 - 2.500 m) và chứng minh mối tương quan thuận giữa độ tàn che 0,45 với năng suất cây trồng dưới tán.
  • Đã tổng kết hoàn thiện các quy trình lâm sinh bản địa kết hợp tiến bộ kỹ thuật nhân giống vô tính với chất kích thích IBA 1% đạt tỷ lệ sống trên 70%.
  • Đã đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về quy hoạch vùng trồng, kỹ thuật lâm sinh, chuỗi liên kết chế biến và chính sách tín dụng hỗ trợ lãi suất dưới 5%/năm.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học thực chứng và khung giải pháp thực tiễn giúp kết hợp hài hòa giữa mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học rừng tự nhiên và nâng cao thu nhập cho người dân vùng cao. Trong lộ trình 2009 - 2015, các địa phương cần khẩn trương đưa các kết quả nghiên cứu vào quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, mở rộng quy mô vùng chuyên canh hàng hóa. Hãy khai thác tối đa nguồn tiềm năng từ rừng một cách có trách nhiệm để kiến tạo nền kinh tế lâm nghiệp xanh và bền vững cho vùng núi phía Bắc.