Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm 1. Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) Khái niệm LSNG đã được đưa ra bởi nhiều quan điểm khác nhau, tùy từng giai đoạn mà việc vận dụng vào thực tế cũng khác nhau. Trước năm 1945, ở Việt Nam lâm sản được phân chia thành hai loại đó là: lâm sản chính và lâm sản phụ.
Trong đó, lâm sản chính là những sản phẩm gỗ, còn lâm sản phụ bao gồm động vật và thực vật cho sản phẩm ngoài gỗ. Từ năm 1961, lâm sản phụ được mang tên là đặc sản rừng, qua đó khái niệm này cũng chỉ phản ánh được một bộ phận của tài nguyên rừng là những sản phẩm có công dụng hoặc giá trị đặc biệt, các sản phẩm khác chưa được chú trọng. Debeer (1989) đã đưa ra khái niệm về LSNG: "Tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ mà chúng khai thác từ rừng tự nhiên để phục vụ nhu cầu tiêu dùng của loài người. LSNG bao gồm: Thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa cây, keo dán, nhựa mủ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dại (các sản phẩm và động vật sống), chất đốt và các nguyên liệu thô, song, mây, tre, nứa, trúc, gỗ nhỏ và gỗ cho sợi" [9].
Tổ chức chuyên gia tư vấn về LSNG châu Á Thái Bình Dương (IEC), họp tại Băng Cốc - Thái Lan (5-8-1991) đã chấp nhận định nghĩa cho LSNG có thể áp dụng cho hầu hết các nước trong khu vực sau: "LSNG bao hàm tất cả các sản phẩm tái tạo và hữu hình, không phải là gỗ xẻ, gỗ nhiên liệu và gỗ củi này thu được từ rừng hoặc từ bất kỳ loại hình sử dụng đất tương tự nào cũng như đất trồng cây gỗ. Vì vậy các sản phẩm như cát, đá, nước, du lịch sinh thái cũng là LSNG" [9]. Tổ chức tư vấn chuyên môn về LSNG của Châu Phi, tại Arusha, 4 Tanzania, năm 1993 đã đưa ra quan niệm về LSNG. Quan niệm này đặc biệt nhấn mạnh vào các sản phẩm động vật: ''Tất cả các sản phẩm thực vật (trừ gỗ) và động vật thu được từ rừng và từ các vùng đất có các cây gỗ khác cũng như từ các cây gỗ bên ngoài rừng; loại trừ gỗ xây dựng cơ bản, gỗ năng lượng, và các sản phẩm từ vườn cùng các cây trồng vật nuôi, thì đều được gọi là LSNG'' [9].
FAO (1995) đã chỉ rõ yêu cầu của định nghĩa về LSNG là, định nghĩa phải vừa diễn tả rõ ràng ý nghĩa của thuật ngữ LSNG, phải vừa xác định chính xác được giới hạn, phạm vi và đặc trưng của nó. Phát triển rừng bền vững Khái niệm sử dụng rừng bền vững đã được đề cập đến trong ngành lâm nghiệp nước Đức từ thế kỷ 18 với thuật ngữ Nachhaltigkheit nghĩa là lâu dài, liên hoàn với tư tưởng chính là lượng khai thác phải bằng hoặc nhỏ hơn lượng tăng trưởng hàng năm của rừng. Sau hội nghị thượng đỉnh ở Rio 1992, khái niệm phát triển bền vững được thảo luận rất nhiều và có quá nhiều quan điểm chưa thống nhất với nhau cả về ý nghĩa khoa học và thực tiễn của quản lý rừng bền vững (QLRBV). - ITTO: "QLRBV là quá trình đất rừng cố định để đạt được một hoặc nhiều mục tiêu được xác định rõ ràng của công tác quản lý trong vấn đề sản xuất liên tục các lâm sản và dịch vụ rừng mà không làm giảm đi đáng kể những giá trị vốn có và khả năng sản xuất sau này của rừng và không gây ra những ảnh hưởng tiêu cực thái quá đến môi trường và xã hội" [6], [8].
- Tiến trình Helsinki: "QLBVR là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả 5 năng tái sinh, sức sống của rừng và duy trì tiềm năng của rừng trong việc thực hiện - hiện tại và tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của chúng, ở cấp địa phương, quốc gia và toàn cầu; và không gây ra những tác hại đối với các hệ sinh thái khác" [6], [8]. Phần lớn các định nghĩa về QLRBV được xuất phát từ quan điểm sản xuất hàng hóa hoặc phát triển ngành lâm nghiệp. Tuy nhiên trong các cuộc thảo luận ở qui mô quốc tế thường có sự nhất trí cao rằng: QLRBV là sự quản lý (William E Mankin, 1998): + Duy trì được rừng và các chức năng, các quá trình và cấu trúc sinh thái của chúng trong điều kiện lành mạnh và bền vững; + Không làm thoái hóa đất và chất lượng nguồn nước; + Không tạo ra hậu quả không thể đảo ngược hoặc giảm đa dạng sinh học bao gồm nguồn gen, loài, các hệ sinh thái và các kiểu rừng; + Áp dụng cho tổng thể rừng như là một thực thể sinh thái tổng hợp chứ không phải cho một thành phần hay một sản phẩm riêng biệt của rừng; + Có thể chủ động hoặc thụ động và không đòi hỏi nhất thiết phải khai thác một sản phẩm cụ thể nào của rừng; + Có thể áp dụng cho mọi cấp, mọi mức độ khác nhau của diện tích quản lý, tuy nhiên ở mỗi cấp độ khác nhau, cần phải xác định rõ ràng ranh giới của đơn vị quản lý hoặc vùng quản lý; + Tạo ra cho xã hội một loạt các lợi ích môi trường, xã hội và kinh tế phụ thuộc vào mức độ qui mô của vùng quản lý và tiềm năng của nó cũng như khả năng thực hiện [6]. Các định nghĩa trên, nhìn chung tương đối dài dòng nhưng tập trung lại có mấy vấn đề chính sau: Quản lý rừng ổn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt các mục tiêu đề ra (sản xuất gỗ nguyên liệu, gỗ gia dụng, LSNG.; phòng hộ môi 6 trường, bảo vệ đầu nguồn, bảo vệ chống cát bay, chống sạt lở đất.; bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn loài, bảo tồn các hệ sinh thái.
Bảo đảm sự bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường, cụ thể: Bền vững về kinh tế là bảo đảm kinh doanh rừng lâu dài liên tục với năng suất, hiệu quả ngày càng cao (không khai thác lạm vào vốn rừng; duy trì và phát triển diện tích, trữ lượng rừng; áp dụng các biện pháp kỹ thuật làm tăng năng suất rừng). Bền vững về mặt xã hội là bảo đảm kinh doanh rừng phải tuân thủ các luật pháp, thực hiện tốt các nghĩa vụ đóng góp với xã hội, bảo đảm quyền hạn và quyền lợi cũng như mối quan hệ tốt với nhân dân, với cộng đồng địa phương. Bền vững về môi trường là bảo đảm kinh doanh rừng duy trì được khả năng phòng hộ môi trường và duy trì được tính đa dạng sinh học của rừng, đồng thời không gây tác hại đối với các hệ sinh thái khác [8]. Tình hình nghiên cứu phát triển LSNG 1.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới LSNG là nguồn sống quan trọng đối với người dân sống ở nông thôn. Ước tính có khoảng 60 triệu người trên thế giới sống phụ thuộc vào rừng, trong đó chủ yếu là ở các nước nghèo như Châu Mỹ Latinh, Tây phi và các nước Đông Nam Á. Cùng với 400 – 500 triệu người sống phụ thuộc vào các sản phẩm tự nhiên, nhiều loại LSNG là sản phẩm không thể thiếu trong đời sống cộng đồng dân cư trên thế giới. Vai trò của LSNG được đề cập đến ở nhiều khía cạnh khác nhau, từ cung cấp lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng, dược phẩm, thủ công mỹ nghệ đến giải quyết công ăn việc làm, phát triển ngành nghề, bảo tồn và phát huy kiến thức bản địa, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của người dân, đặc biệt là dân nghèo (FAO, 1994; Sharma, 1995).
Tầm quan trọng của LSNG 7 đối với các nước nhiệt đới đã được thừa nhận; rừng và LSNG là nguồn sống chủ yếu của ít nhất 27 triệu người ở vùng Đông Nam Á (De Beer, 1996). Nhận định về vai trò của LSNG đối với đời sống nông thôn miền núi đã được nhiều nhà khoa học đề cập đến. Thực vật cho LSNG là một nhân tố quan trọng góp phần giải quyết những mâu thuẫn xung đột trong quá trình phát triển ở khu vực nông thôn miền núi (Chin, 1985; Yonon, 1993; DeCoursey, 1994; Sharma, 1995; De Beer, 1996). Tổ chức FAO (1993) là một trong những cơ quan đầu tiên để thúc đẩy phát triển và bảo tồn LSNG thông qua các chương trình, dự án.
Trong 20 năm qua, FAO đã lập ra được 137 tổ chức nghiên cứu về lâm nghiệp, trong đó có 23 tổ chức ưu tiên nghiên cứu về LSNG [10]. Một số cơ quan quốc tế như Cơ quan Phát triển Quốc tế Canada (CIDA), Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc tế (IDRC), Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế (CIFOR), Trung tâm nông lâm kết hợp quốc tế (ICRAF), Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN). LSNG đóng góp đáng kể đối với sinh kế của các cộng đồng phụ thuộc vào rừng (Clendon năm 2001; Belcher và cộng sự năm 2005; Marshall và cộng sự năm 2005; Ros-Tonen và Wiersum năm 2005; FAO 2006; Ahenkan và Boon 2010), có vai trò quan trọng với an ninh lương thực và dinh dưỡng của các hộ gia đình (FAO 1995; Falconer 1997; Clark và Sunderland năm 2004; Shacleton và Shackleton 2004; Ahenkan và Boon 2008), tạo thêm việc làm và thu nhập (Peters năm 1996; Ros- tonen năm 1999; Andel năm 2000; Marshall và cộng sự 2003); và cung cấp cơ hội cho doanh nghiệp dựa trên LSNG (Shackleton và Shackleton 2004; Subedi 2006). Hơn nữa, LSNG là dễ tiếp cận hơn cho người nghèo (Saxena 2003), góp phần thu ngoại tệ (Andel năm 2000; Shiva và Verma 2002); và hỗ trợ bảo tồn đa dạng sinh học và các mục tiêu khác (FAO 1995; Arnold và Ruiz Pérez năm 1998; Marshall et al.
8 Năm 2005; Charlie và Sheona 2004). Ngoài ra, việc thu hoạch LSNG có thể tác động tương đối ít đối với môi trường rừng (Myers 1988; Neumann và Hirsch năm 2000; FAO 2008). Bên cạnh đó, cộng đồng dân cư đã biết sử dụng các tri thức bản địa, kiến thức địa phương để khai thác, chế biến và sử dụng LSNG (Ballard và Huntsinger (2006), Davis và Wagner (2003), Fikret Berkes (1999), Menzies (2006), Butler (2006)). LSNG đã gắn bó với các lối sống của các cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng, cung cấp việc làm trong thời gian rỗi và các khoản thu nhập bổ sung, ngoài ra cây thuốc có vai trò quan trọng đối với y tế nông thôn (Prasad và Bhatnagar, 1991).
Tại West Bengal, thu nhập của các hộ gia đình hàng năm khoảng 17% từ thu và bán LSNG (Malhotra và cộng sự, 1991).