Chương 1: Cơ sở lý thuyết về phát triển rừng bền vững. Chương 2: Phân tích thực trạng phát triển Công ty lâm nghiệp huyện Anh Sơn theo quan điểm phát triển bền vững. Chương 3: Đề xuất một số giải pháp phát triển rừng theo hướng bền vững tại Công ty lâm nghiệp Anh Sơn - huyện Anh Sơn - tỉnh Nghệ An. Vũ Văn Thịnh 7 12BQTKD -VH Luận văn thạc sĩ QTKD CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN RỪNG BỀN VỮNG 1.1 Khái niệm cơ bản về phát triển tài nguyên rừng: Rừng là tài nguyên thiên nhiên quý giá, có khả năng tái tạo, tính tái tạo của tài nguyên rừng được nhấn mạnh là công cụ cơ bản để quản lý tài nguyên rừng bền vững với hệ thống các biện pháp quy hoạch và điều chế rừng dựa trên năng suất sinh khối của rừng.
Trong nhiều thập kỷ qua vấn đề sử dụng đất đai, tài nguyên rừng bền vững đã được các nhà khoa học trên thế giới và trong nước quan tâm. Nghiên cứu về hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường của vấn đề sử dụng đất đai, tài nguyên rừng của mỗi Quốc gia đều phụ thuộc cách nhìn nhận và trình độ quản lý, trình độ tiếp cận khoa học kỹ thuật của nhân loại. Quan điểm về sử dụng đất đai, tài nguyên rừng bền vững đã được nhiều tác giả ở các Quốc gia khác nhau đề cập tới, việc đa ra một quan điểm thống nhất là một điều khó có thể thực hiện, nhưng các khái niệm đều cho thấy những điểm giống nhau khi nói đến quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên rừng bền vững đều được thể hiện ở ba vấn đề: Kinh tế - xã hội và môi trường. Do sự khác biệt nhau về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội và các nhu cầu của con người ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ nên công tác quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững cũng gặp những khó khăn, phức tạp và đa dạng cho mỗi vùng sinh thái khác nhau.
Nhưng cuối cùng người ta cũng đã cố gắng đa ra một định nghĩa về quản lý rừng bền vững nhằm diễn đạt bản chất của nó, đồng thời để từ đó xây dựng nên những nguyên tắc cơ bản trong công tác quản lý rừng bền vững. Khái niệm về quản lý rừng bền vững đã được hình thành từ đầu thế kỷ 18, ban đầu chỉ chú trọng đến khai thác, sử dụng gỗ được lâu dài, liên tục. Cùng với sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và phát triển kinh tế - xã hội, quản lý rừng bền vững đã chuyển từ quản lý kinh doanh gỗ sang quản lý kinh doanh nhiều mặt tài nguyên rừng, quản lý hệ Vũ Văn Thịnh 8 12BQTKD -VH Luận văn thạc sĩ QTKD thống sinh thái rừng và cuối cùng là quản lý rừng bền vững trên cơ sở các tiêu chuẩn, tiêu chí được xác lập chặt chẽ, toàn diện về các lĩnh vực kinh tế - xã hội và môi trường. quản lý rừng bền vững là việc đóng góp của công tác lâm nghiệp đối với sự phát triển, sự phát triển đó phải mang lợi ích kinh tế, môi trường và xã hội, có thể cân bằng giữa nhu cầu hiện tại và tương lai.
Quản lý rừng bền vững hiện nay được xem như tổng hợp của hoạt động sản xuất bao gồm bảo vệ nguồn nước, đất, các khu văn hóa cũng như cây rừng cho gỗ. Tổ chức gỗ nhiệt đới (ITTO) đã có định nghĩa về Quản lý rừng bền vững như sau: " Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý đất rừng cố định để đạt được một hoặc nhiều mục tiêu được xác định rõ ràng của công tác quản lý trong vấn đề sản xuất liên tục các lâm phẩm và dịch vụ rừng mà không làm giảm đi đáng kể những giá trị vốn có khả năng sản xuất sau này của rừng và không gây ra những ảnh hưởng tiêu cực thái quá đến môi trường vật chất và xã hội"(14) Theo Hiệp ước Helsinki thì "Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất rừng một cách hợp lý để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng, đồng thời duy trì tiềm năng thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội và sinh thái của chúng trong hiện tại cũng như trong tương lai ở cấp địa phương, cấp quốc gia và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với những hệ sinh thái khác"(24). Vấn đề đặt ra với việc quản lý rừng bền vững là nh thế nào? đó là công tác quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên rừng nhằm ngăn chặn tình trạng mất rừng do khai thác sử dụng quá mức, mà trong đó việc khai thác lợi dụng tài nguyên rừng không mâu thuẫn với việc đảm bảo vốn rừng, đảm bảo chức năng tái sản xuất của rừng, đồng thời phát huy được vai trò chức năng phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái bền vững của rừng đối với con người và thiên nhiên. Định nghĩa về quản lý rừng bền vững của Ủy ban quốc tế về Môi trường và phát triển được đa ra vào năm 1987 được chấp nhận rộng rãi, đó là: " Quản Vũ Văn Thịnh 9 12BQTKD -VH Luận văn thạc sĩ QTKD lý rừng bền vững là việc đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng tới khả năng tái tạo để đáp ứng nhu cầu tương lai".
Mặc dầu có sự diễn đạt khác nhau về ngôn từ, nhưng các khái niệm quản lý rừng bền vững đều có chung ý nghĩa như sau: " Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý rừng để đạt được một hay nhiều mục tiêu cụ thể đồng thời xem xét đến việc phát triển sản xuất dịch vụ và sản phẩm lâm nghiệp, đồng thời không làm giảm giá trị hiện có và ảnh hưởng đến năng suất sau này, cũng như không gây ra các tác động xấu đến môi trường tự nhiên và xã hội" 1. Mô hình Công ty lâm nghiệp phát triển bền vững. Công ty lâm nghiệp phát triển bền vững phải là công ty phát triển đảm bảo theo đúng nguyên tắc phát triển bền vững đồng bộ trên cả ba phương diện Bền vững về môi trường: Đảm bảo hệ sinh thái ổn định, giữ gìn bảo toàn sản phẩm của rừng, đảm bảo khả năng phục hồi rừng trên quá trình tự nhiên. Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là các cân đối lớn; giữ vững an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh tài chính.
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu; từng bước thực hiện tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế các bon thấp. Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả mọi nguồn lực. Giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động kinh tế đến môi trường. Khai thác hợp lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo.
Phòng ngừa, kiểm soát và khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường, cải thiện chất lượng môi trường, bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học. Hạn chế tác hại của thiên tai, chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng. Việc lựa chọn trồng cây gì, trồng bao nhiêu mỗi loại cần được nghiên cứu kỹ lưỡng và nhằm mục tiêu cuối cùng là đảm bảo nâng cao diện tích đất được che phủ rừng. Thực hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, làm sao cho tỷ lệ đất có rừng che phủ đã được cải thiện đáng kể.
Để nhanh chóng nâng diện tích đất được che phủ rừng, cần phải triển khai dự án trồng mới hàng triệu ha rừng. Đây là chương trình lâm nghiệp quan trọng Vũ Văn Thịnh 10 12BQTKD -VH Luận văn thạc sĩ QTKD cấp quốc gia với vốn đầu tư chủ yếu từ ngân sách Nhà nước. Trong đó các địa phương tập trung trồng mới rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ; bảo tồn và tôn tạo vốn rừng hiện có, nâng cao chất lượng của rừng; thực hiện các giải pháp nhằm chống khai thác rừng bừa bãi, phá hoại rừng để sử dụng vào mục đích khác. Để tiếp tục thực hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, trong những năm tới Việt Nam sẽ thực hiện các giải pháp đồng bộ cải thiện và mở rộng diện tích rừng giàu, rừng kín, rừng nguyên sinh; ngăn chặn và đẩy lùi nạn phá rừng, cháy rừng và khai thác bừa bãi vốn rừng; tăng cường hơn nữa công tác bảo tồn các khu vực giàu đa dạng sinh học, đi đôi với quản lý, bảo vệ chặt chẽ việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Bền vững về xã hội: Phản ánh sự liên hệ giữa phát triển tài nguyên rừng và tiêu chuẩn xã hội, không diễn ra ngoài sự chấp nhận của cộng đồng. Xây dựng các khu vực nông thôn miền núi, khu vực có rừng theo định hướng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; người dân có điều kiện phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, tinh thần, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật. Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ trở thành động lực phát triển quan trọng. Giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
Bền vững về kinh tế: Lợi ích mang lại lớn hơn chi phí đầu tư và được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Việc lựa chọn trồng cây gì, trồng bao nhiêu mỗi loại cần được nghiên cứu kỹ lưỡng và nhằm mục tiêu cuối cùng là đảm bảo hiệu quả kinh tế cao. Các tiêu chí đánh giá phát triển rừng bền vững. Việt Nam cũng đã và đang hình thành một tổ chức để xem xét vấn đề này nhằm xây dựng chứng chỉ rừng.
Viện Quản lý rừng đã được thành lập năm 2006, đã soạn thảo ra 10 tiêu chuẩn về quản lý rừng bền vững, những tiêu chuẩn, tiêu chí dựa trên cơ sở điều chỉnh, bổ sung những tiêu chuẩn, tiêu chí của FSC quốc tế, có sử dụng nhiều ý kiến đóng góp của các nhà quản lý, các nhà khoa học lâm nghiệp trong nước và quốc tế để đảm bảo những tiêu chuẩn Vũ Văn Thịnh 11 12BQTKD -VH Luận văn thạc sĩ QTKD phù hợp với những điều kiện thực tế của Việt Nam, đạt tiêu chuẩn chung của quốc tế. Do những tiêu chuẩn và tiêu chí áp dụng chung cho toàn quốc, đồng thời phải phù hợp với tiêu chuẩn, tiêu chí quốc tế nên việc áp dụng không thể phù hợp hoàn toàn với mọi trường hợp và mọi điều kiện ở từng địa phương.