Tổng quan nghiên cứu
Theo báo cáo của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), ngành du lịch quốc tế đóng góp khoảng 9% tổng GDP toàn cầu, đạt giá trị 1.500 tỷ USD vào năm 2014, chiếm 30% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ và tạo ra việc làm cho tỷ lệ bình quân 1 trên 11 lao động. Trong bối cảnh phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo, du lịch dựa vào cộng đồng (CBT) đã khẳng định vai trò là công cụ kinh tế - xã hội then chốt tại các vùng nông thôn miền núi.
Tại thành phố Hà Nội, xã Ba Vì thuộc huyện Ba Vì là địa bàn miền núi vùng cao đặc thù, nơi đồng bào dân tộc Dao chiếm tới 94,5% dân số toàn xã. Mặc dù sở hữu tài nguyên thiên nhiên phong phú gắn liền với Vườn quốc gia Ba Vì và kho tàng tri thức y học dân gian độc đáo, hoạt động du lịch tại đây trong giai đoạn 2010 - 2015 vẫn ở trạng thái manh mún, tỷ lệ người dân tham gia trực tiếp ước tính dưới 10%. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chuyển hóa tiềm năng văn hóa - sinh thái thành sinh kế bền vững cho người dân bản địa.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Du lịch của tác giả Lê Thị Thảo Xuân, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đức Thanh tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2016, tập trung giải quyết mục tiêu thu hút cộng đồng địa phương tham gia chuỗi giá trị du lịch. Nghiên cứu giới hạn không gian tại xã Ba Vì (trọng tâm là 3 thôn Yên Sơn, Hợp Sơn, Hợp Nhất) và phạm vi thời gian dữ liệu từ năm 2010 đến 2015. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc lượng hóa mức độ sẵn sàng của cộng đồng, đề xuất hệ thống giải pháp nâng tỷ lệ tham gia của người dân lên trên 60%, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo và bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên 2 nền tảng lý thuyết chủ đạo: Lý thuyết phát triển du lịch bền vững gắn liền với Sáng kiến STEP (Sustainable Tourism - Eliminating Poverty) do UNWTO khởi xướng năm 2002, và Lý thuyết phát triển cộng đồng thông qua du lịch của học giả Sue Beeton. Luận văn tiếp cận du lịch cộng đồng theo định nghĩa chuẩn mực của tổ chức REST (1997), khẳng định CBT là một quá trình quản lý có sự tham gia bình đẳng của người dân nhằm đảm bảo tính bền vững về văn hóa, sinh thái và kinh tế.
Hệ thống khung khái niệm cốt lõi bao gồm 4 nội dung chính:
- Khái niệm cộng đồng địa phương: Phân tách rõ cộng đồng địa lý (cư dân sinh sống cùng địa bàn) và cộng đồng chức năng (các nhóm nghề nghiệp, hợp tác xã cùng mục tiêu).
- Khái niệm tài nguyên du lịch: Cấu trúc gồm tài nguyên tự nhiên (cảnh quan, hệ sinh thái) và tài nguyên nhân văn phi vật thể (tri thức bản địa, lễ hội, phong tục).
- Nguyên tắc chia sẻ lợi ích: Quy chuẩn phân phối doanh thu công bằng giữa cộng đồng, doanh nghiệp lữ hành và cơ quan quản lý nhà nước.
- Khung đánh giá năng lực KSAP: Mô hình mở rộng từ KAP truyền thống, phân tích tổng hòa 4 yếu tố Kiến thức (Knowledge) - Kỹ năng (Skill) - Thái độ (Attitude) - Thực tiễn (Practice).
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn thứ cấp (Niên giám thống kê giai đoạn 2010 - 2015 của Ủy ban nhân dân xã Ba Vì, báo cáo của Phòng Văn hóa Thông tin huyện Ba Vì, tài liệu quy hoạch của Tổng cục Du lịch) và nguồn sơ cấp qua điều tra điền dã. Timeline khảo sát thực địa được chia làm 2 giai đoạn: Đợt 1 (tháng 12/2015) khảo sát tổng quan vùng đệm sinh thái; Đợt 2 (tháng 4/2016) thực hiện phỏng vấn sâu và điều tra bảng hỏi tại 3 thôn nòng cốt.
Phương pháp chọn mẫu khảo sát xã hội học được thực hiện theo kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng với quy mô mẫu 350 phiếu điều tra, đối tượng bao gồm cư dân địa phương và đại diện cán bộ quản lý cấp xã, thôn. Cỡ mẫu 350 bảo đảm độ tin cậy thống kê trên 95% đối với tổng thể dân số địa phương. Dữ liệu sau khi thu thập được mã hóa và xử lý bằng phần mềm thống kê chuyên ngành SPSS phiên bản 16.0. Lý do lựa chọn mô hình KSAP kết hợp phân tích SPSS là nhằm đo lường chính xác các chỉ số định lượng về nhận thức và rào cản kỹ năng, giúp chỉ huy hoạch định chính sách phát hiện trúng điểm nghẽn năng lực để thiết kế các can thiệp đào tạo sát thực tế.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phân tích dữ liệu thực tế tại xã Ba Vì giai đoạn 2010 - 2015 chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:
- Khai thác tài nguyên chưa tương xứng: Đồng bào Dao chiếm 94,5% dân số với thế mạnh bảo tồn hơn 300 loài cây thuốc nam cùng các nghi lễ dân gian như Lễ cấp sắc và Tết nhảy, nhưng doanh thu từ dịch vụ du lịch chỉ đóng góp dưới 2% tổng cơ cấu kinh tế toàn xã.
- Độ lệch lớn trong mô hình KSAP: Kết quả khảo sát 350 mẫu cho thấy 82% người dân thể hiện thái độ (Attitude) rất tích cực và mong muốn làm du lịch để tăng thu nhập. Tuy nhiên, mức độ hiểu biết (Knowledge) về bản chất du lịch cộng đồng chỉ đạt 28%, và tỷ lệ cư dân có kỹ năng (Skill) phục vụ, giao tiếp hoặc chế biến ẩm thực đạt chuẩn chỉ chiếm dưới 15%.
- Hạ tầng kỹ thuật còn sơ sài: Khoảng 35% hệ thống đường giao thông liên thôn được bê tông hóa đủ điều kiện tiếp cận xe du lịch; toàn bộ xã chưa có cơ sở homestay nào đạt tiêu chuẩn lưu trú của ngành du lịch tại thời điểm năm 2015.
- Thiếu hụt cơ chế liên kết chuỗi: Hơn 90% hộ gia đình hoạt động nông - lâm nghiệp tự cấp tự túc, chưa có sự kết nối với các doanh nghiệp lữ hành chuyên nghiệp tại Hà Nội để xây dựng tour tuyến ổn định.
Thảo luận kết quả
Sự tương phản rõ rệt giữa thái độ ủng hộ cao (82%) và kỹ năng nghiệp vụ thấp (15%) phản ánh thực trạng phát triển tự phát, thiếu vắng các chương trình tập huấn nghề du lịch tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Khi so sánh với các mô hình du lịch cộng đồng thành công như Bản Lác (tỉnh Hòa Bình) hay Làng Ghandruk (Nepal), thành công của các điểm đến này luôn dựa trên sự đồng hành của tổ chức phi chính phủ và các khóa nâng cao năng lực định kỳ kéo dài từ 2 đến 3 năm.
Để minh họa rõ nét các phát hiện nghiên cứu, dữ liệu khảo sát 350 phiếu có thể được trực quan hóa qua biểu đồ mạng nhện (Radar Chart) thể hiện sự chênh lệch giữa 4 trục KSAP (Kiến thức 28% - Kỹ năng 15% - Thái độ 82% - Thực hành 8%). Bên cạnh đó, một bảng ma trận SWOT chi tiết có thể được thiết lập nhằm đối sánh điểm mạnh về tri thức y học cổ truyền dân tộc Dao với điểm yếu về cơ sở vật chất kỹ thuật và điểm nghẽn thị trường.
Về mặt học thuật và thực tiễn, kết quả nghiên cứu khẳng định việc phát triển du lịch cộng đồng tại xã Ba Vì không chỉ là bài toán kinh tế thuần túy, mà còn là phương thức bảo tồn văn hóa phi vật thể hiệu quả nhất, giúp chuyển giao quyền làm chủ tài nguyên cho người dân bản địa.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và khoảng trống năng lực KSAP, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động đồng bộ:
- Thiết lập Quỹ phát triển du lịch cộng đồng và cơ chế chia sẻ lợi ích: Ban hành quy chế trích 10% đến 15% doanh thu từ các hoạt động dịch vụ tham quan và trải nghiệm văn hóa để tái đầu tư vào công trình công cộng, bảo vệ môi trường nông thôn. Lộ trình thực hiện: Giai đoạn 2016 - 2018; Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân xã Ba Vì chủ trì, phối hợp với đại diện ban quản lý các thôn bản.
- Triển khai chương trình đào tạo chuẩn hóa năng lực KSAP: Tổ chức định kỳ 12 khóa tập huấn chuyên sâu về kỹ năng vận hành nhà lưu trú homestay, vệ sinh an toàn thực phẩm, thuyết minh bản địa và giao tiếp cơ bản, phấn đấu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo du lịch lên trên 70%. Lộ trình thực hiện: Giai đoạn 2017 - 2019; Chủ thể thực hiện: Sở Du lịch Hà Nội, các viện nghiên cứu và trường đại học chuyên ngành.
- Phát triển chuỗi sản phẩm du lịch đặc thù văn hóa người Dao: Chuẩn hóa quy trình dịch vụ tắm thuốc nam truyền thống, xây dựng tour trải nghiệm hái thuốc tại vườn đệm sinh thái và không gian biểu diễn nghi lễ cấp sắc tại 3 thôn Yên Sơn, Hợp Sơn, Hợp Nhất; mục tiêu nâng thời gian lưu trú bình quân của du khách từ 0,5 ngày lên 1,5 đến 2,0 ngày. Lộ trình thực hiện: Giai đoạn 2017 - 2020; Chủ thể thực hiện: Hợp tác xã thuốc nam và các hộ kinh doanh du lịch địa phương.
- Nâng cấp đồng bộ hạ tầng giao thông và viễn thông du lịch: Hoàn thành nâng cấp 100% trục đường liên thôn đạt tiêu chuẩn đón khách du lịch, xây dựng bãi đỗ xe tập trung và hệ thống biển chỉ dẫn song ngữ thân thiện với môi trường. Lộ trình thực hiện: Giai đoạn 2016 - 2020; Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì phối hợp thu hút vốn đầu tư xã hội hóa.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng đa dạng cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:
- Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Cung cấp cơ sở lý luận và số liệu thực chứng từ 350 mẫu điều tra để Ủy ban nhân dân các cấp xây dựng đề án quy hoạch nông thôn mới gắn với du lịch sinh thái và ban hành chính sách hỗ trợ phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
- Doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư du lịch: Cung cấp nguồn thông tin chi tiết về hệ thống tài nguyên bản địa, hỗ trợ thiết kế các sản phẩm tour du lịch xanh, du lịch chăm sóc sức khỏe (wellness tourism) và định hình mô hình liên kết chia sẻ lợi ích với các hộ dân bản địa.
- Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo phương pháp luận khoa học, đặc biệt là quy trình áp dụng công cụ KSAP và phần mềm phân tích SPSS trong nghiên cứu du lịch học và nhân học phát triển.
- Cộng đồng dân cư và ban quản lý thôn bản: Cung cấp cẩm nang định hướng thực tiễn giúp người dân địa phương nắm bắt cách thức chuyển đổi mô hình kinh tế, phát triển homestay và bảo tồn bài thuốc nam gia truyền bền vững.
Câu hỏi thường gặp
Mô hình KSAP được áp dụng như thế nào trong khảo sát du lịch cộng đồng tại Ba Vì? Khung phân tích KSAP được cụ thể hóa thành bảng hỏi 350 phiếu nhằm lượng hóa 4 chiều cạnh: Kiến thức (Knowledge), Kỹ năng (Skill), Thái độ (Attitude) và Thực hành (Practice) của người Dao. Kết quả chỉ ra sự chênh lệch lớn giữa thái độ ủng hộ đạt 82% và kỹ năng nghiệp vụ chỉ đạt dưới 15%, giúp chính quyền xác định đúng trọng tâm đào tạo nghề.
Đồng bào dân tộc Dao tại xã Ba Vì sở hữu những tài nguyên du lịch nổi bật nào? Dân tộc Dao chiếm 94,5% dân số xã Ba Vì, sở hữu kho tàng tri thức bản địa với hơn 300 cây thuốc nam quý, bí quyết bào chế dược liệu truyền thống, trang phục thêu tay tinh xảo cùng các nghi lễ độc đáo như Lễ cấp sắc và Tết nhảy. Đây là tài nguyên cốt lõi để phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe và du lịch văn hóa.
Nguyên nhân chính khiến du lịch cộng đồng tại Ba Vì chưa phát triển trong giai đoạn 2010 - 2015 là gì? Thực trạng này bắt nguồn từ hạ tầng giao thông kết nối kém với chỉ 35% đường đạt chuẩn, sự thiếu hụt kỹ năng dịch vụ chuyên nghiệp của người dân khi trên 85% chưa qua đào tạo, cùng sự vắng bóng của cơ chế phân phối lợi ích rõ ràng giữa doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng bản địa.
Cơ chế phân chia lợi ích kinh tế được luận văn đề xuất cụ thể ra sao? Nghiên cứu kiến nghị thành lập Quỹ phát triển du lịch cộng đồng trích 10% đến 15% từ phí dịch vụ du lịch để tái thiết hạ tầng và hỗ trợ an sinh xã hội. Cơ chế này đảm bảo người dân giữ quyền cung cấp dịch vụ ẩm thực, lưu trú và bán nông sản, hạn chế tối đa việc rò rỉ lợi nhuận ra ngoài địa phương.
Quy trình nghiên cứu của luận văn có thể chuyển giao áp dụng cho các địa phương khác không? Khung phương pháp điều tra 5 bước theo mô hình KSAP kết hợp phân tích SPSS có tính chuẩn hóa cao. Mô hình này hoàn toàn có thể tùy biến và ứng dụng hiệu quả cho các cộng đồng dân tộc thiểu số tại vùng núi phía Bắc và Tây Nguyên có điều kiện tự nhiên, văn hóa tương đồng.
Kết luận
- Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận vững chắc về du lịch cộng đồng và sáng kiến giảm nghèo STEP theo chuẩn mực quốc tế.
- Khảo sát thực chứng quy mô 350 phiếu làm sáng tỏ thực trạng và tiềm năng phát triển của cộng đồng người Dao chiếm 94,5% dân số xã Ba Vì.
- Đo lường chính xác khoảng trống năng lực qua mô hình KSAP, chỉ ra 82% người dân sẵn sàng tham gia nhưng thiếu hụt kỹ năng thực hành.
- Đề xuất hệ thống 4 giải pháp khả thi về cơ chế chia sẻ lợi ích 10% đến 15%, đào tạo nhân lực, sản phẩm đặc thù và nâng cấp hạ tầng.
- Xây dựng mô hình gắn kết bền vững 3 bên giữa chính quyền, doanh nghiệp lữ hành và người dân địa phương.
Công trình đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho chiến lược phát triển du lịch thủ đô giai đoạn 2016 - 2020. Các bên liên quan cần nhanh chóng phối hợp hiện thực hóa các khuyến nghị, đưa du lịch cộng đồng Ba Vì trở thành điểm sáng kinh tế - văn hóa bền vững của khu vực miền núi Hà Nội.