chương I của Luật Du lịch Việt Nam 2005 quy định như sau: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dung nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” (Luật Du lịch 44/2005/QH11 ngày 14/06/2005). Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch văn hóa gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vi vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để tạo thành các sản phẩm du lịch.
Để hấp dẫn và đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, các sản phẩm du lịch cần phải đa dạng, phong phú, đặc sắc và mới mẻ. Chính sự phong phú và đa dạng, đặc sắc của tài nguyên du lịch tạo nên sự hấp dẫn của sản phẩm du lịch. Vì vậy tài nguyên du lịch là tiền đề, điều kiện cần thiết để phát triển và thu hút khách du lịch nói chung và khách du lịch quốc tế nói riêng. Tài nguyên du lịch càng phong phú, đặc sắc và hấp dẫn càng nhiều thì mức độ thu hút và hiệu quả kinh doanh càng cao.
Ẩm thực Ẩm thực là một hệ thống đặc biệt về quan điểm truyền thống và thực hành nấu ăn, thường gắn liền với một nền văn hóa cụ thể. Nó thường được đặt tên theo 10 vùng hoặc nền văn hóa hiện hành. Một món ăn chủ yếu chịu ảnh hưởng của các thành phần có sẵn tại địa phương hoặc thông qua thương mại, buôn bán trao đổi. Những thực phẩm mang màu sắc tôn giáo cũng có những ảnh hưởng rất lớn tới ẩm thực.
Nếu như trong các sản phẩm du lịch, tài nguyên du lịch là một yếu tố tạo nên những sản phẩm du lịch riêng biệt của từng khu vực thì ẩm thực chính là nét riêng hơn hết và đặc sắc thể hiện rõ nét nhất về khu vực du lịch đó. Du khách khi đi du lịch ngoài việc quan tâm đến danh lam thắng cảnh, con người và cuộc sống nơi đến thì họ thích thú nhất trong chuyến đi là có thể thưởng thức những món ăn lạ và đặc biệt của điểm đến. Vì vậy, ẩm thực là một yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định sự đánh giá và sự lưu tâm của du khách khi đi đến một địa điểm du lịch bất kỳ. Cơ sở hạ tầng, kỹ thuật phục vụ du lịch 1.
Cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng xã hội Cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng xã hội là những phương tiện vật chất không phải do tổ chức du lịch xây dựng. Đó là hệ thống bao gồm nhà ga, sân bay, bến cảng, đường sắt, đường bộ, hệ thống thông tin, hệ thống điện nước, khu vui chơi giải trí … Quan trọng nhất trong việc phục vụ ngành du lịch là hệ thống giao thông vận tải (gồm đường hàng không, đường thủy và đường bộ là chủ yếu). Nó được xây dựng để phục vụ nhân dân địa phương và sau nữa là phục vụ cả khách du lịch đến thăm đất nước hoặc vùng du lịch. Đây là cơ sở có tầm quan trọng đặc biệt vì nó nằm sát ngay nơi du lịch, nó quyết định nhịp độ phát triển du lịch và trong chừng mực nào đó còn quyết định chất lượng phục vụ du lịch.
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch gồm toàn bộ nhà cửa và phương tiện kỹ thuật giúp cho việc phục vụ để thõa mãn các nhu cầu của khách du lịch như: khách sạn, nhà hàng, phương tiện giao thông vận tải các khu giải trí, nhà hàng, công viên, hệ thống điện nước của cơ sở du lịch (hoặc khu du lịch). Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đóng vai trò cực kì quan trọng trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Cơ sở vật chất càng hiện đại, phong phú và đầy tính mởi mẻ sẽ thu hút được một lượng khách du lịch lớn và tăng doanh thu kinh doanh. Nguồn nhân lực phục vụ tại địa phương Đội ngũ lao động cũng là một yếu tố tác động quan trọng ảnh hưởng đến khả năng phục vụ của các sản phẩm du lịch.
Lao động du lịch đa phần là lao động kĩ thuật, nên rất cần sự chuyên nghiệp cao và chuẩn bị kĩ càng. Đặc điểm của những người lao động trong ngành nghề du lịch là thường xuyên tiếp xúc với nhiều khách hàng có tâm lý khác biệt nhau, làm việc trong môi trường lao động phức tạp và phải biết chịu đựng áp lực từ công việc. Vậy nên điều kiện rất cần thiết là phải tổ chức một đội ngũ lao động có chuyên môn cao, tinh thần phục vụ tốt để tạo cảm giác thân thiện, hòa đồng và vui vẻ đối với khách du lịch. Đội ngũ lao động có chuyên môn cũng là một thách thức to lớn đối với ngành du lịch cũng như tạo nên sự khác biệt giữa các đối thủ cạnh tranh trong ngành nghề.
Doanh nghiệp kinh doanh du lịch (DNKDDL) là một bộ phận cơ bản của ngành du lịch, tình hình các doanh nghiệp này sẽ ảnh hưởng rõ rệt tới số lượng cũng như chất lượng của các sản phẩm du lịch. Nếu như muốn phát triển đa dạng hóa và nâng cao chất lượng du lịch thì tất yếu phải có sự trợ giúp và hợp tác tích cực của các DNKDDL này. Doanh nghiệp kinh doanh du lịch bao gồm: các công ty du lịch; doanh nghiệp kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng và các doanh nghiệp kinh doạnh khác. Nếu các DNKDDL càng lớn mạnh và có sự kết hợp hoàn hảo thì đây chính là một lợi thế cực kì to lớn để phát triển các sản phẩm, dịch vụ du lịch và nâng cao khả năng cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường quốc tế.
Các chính sách phát triển thu hút du lịch quốc tế Chính sách phát triển du lịch quốc tế là những quy định, quyết định, nghị định mà chính phủ ban hành nhằm giải quyết các vấn đề và thúc đẩy phát triển ngành du lịch quốc tế. Để phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Chính phủ cần có hệ thống chính sách phát triển du lịch phù hợp bao gồm chính sách dài hạn và chính sách cấp bách và thể hiện trong chiến lược, quy hoạch, các chương trình, đề án phát triển du lịch. Chính sách phải đảm bảo khuyến khích, huy động tập trung nguồn lực, khai thác tối ưu tiềm năng, thế mạnh của đất nước; bảo tồn và phát huy được những giá trị truyền thống; nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Các nhóm chính sách ưu tiên chủ yếu: 12 + Chính sách dài hạn bao gồm: nhóm chính sách khuyến khích du lịch; nhóm chính sách kiểm soát chất lượng du lịch; nhóm chính sách tăng cường hợp tác đối tác Công tư; nhóm chính sách phát triển du lịch bền vững.
+ Chính sách cấp bách: chính sách đầu tư tập trung cho các khu du lịch trọng điểm quốc gia có sức cạnh tranh cao trong thị trường quốc tế; chính sách đầu tư phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng vùng, quốc gia có sức cạnh tranh khu vực và quốc tế; chính sách bảo vệ môi trường tại các khu, tuyến điểm, cơ sở dịch vụ du lịch; chính sách phát triển nguồn nhân lực du lịch; chính sách về xúc tiến quảng bá tại các thị trường trọng điểm; chính sách phát triển du lịch cộng đồng. Bên cạnh thì chính phủ cần tăng cường công tác quy hoạch và quản lý chuyên nghiệp hơn để xây dụng phát triển du lịch theo đúng định hướng và tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế. Môi trường du lịch Môi trường du lịch bao gồm môi trường du lịch tự nhiên và môi trường du lịch nhân văn. Bất kỳ hoạt động du lịch nào cũng diễn ra trong phạm vi môi trường du lịch.
Nghĩa là ở đâu có du lịch là nơi đó có môi trường du lịch (Nguyễn Minh Huệ, 2008, tr. Xét về môi trường tự nhiên thì luôn đòi hỏi việc khai thác tài nguyên thiên nhiên gắn liền tôn tạo và giữ gìn môi trường thì môi trường du lịch nhân văn đòi hỏi là du lịch không có nạn nói thách, chèo kéo khách, xô xát tranh giành mà cần phải là lịch sự, văn minh, ân cần và ôn hòa của người dân địa phương. Vấn đề an toàn cho khách du lịch là vấn đề cần được quan tâm nhất. Điều này trở thành trở ngại lớn và không được đảm bảo nếu như khu vực du lịch là nơi có vùng dân trí thấp, đời sống nhân dân khó khăn nghèo khổ.
Như ta đã biết, khách du lịch khi lựa chọn địa điểm du lịch thì không chỉ quan tâm đến môi trường du lịch tự nhiên mà họ còn quan tâm đến sức khỏe, sự an toàn về thân thể và tài sản cũng như tình hình an ninh quốc gia hay địa phương đó. Cho nên vấn đề về chính trị, hòa bình, an ninh xã hội phải được đảm bảo. Đối với những vùng, quốc gia nơi có tình hình chính trị không ổn định như nội chiến kéo dài, bạo động liên tục, mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo thì chắc chắn sự thu hút du lịch quốc tế ở quốc gia đó sẽ không thể đạt được. Sự cần thiết thu hút khách du lịch quốc tế đến tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2014-2020 1.
Phát triển tiềm năng du lịch của tỉnh Tây Ninh Tây Ninh có đường biên giới chung với Campuchia dài 240 km với 2 cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và Xa Mát. Ngoài ra, Tây Ninh còn có 4 cửa khẩu quốc gia và 14 cửa khẩu tiểu ngạch. Là tỉnh nằm giữa 2 thành phố lớn là TP. Hồ Chí Minh và Phnom Penh (Campuchia) trên các trục giao thông đường Xuyên Á, Quốc lộ 22… Đây là điều kiện thuận lợi cho địa phương kết nối kinh tế trong nước và quốc tế, mở ra cơ hội phát triển, đặc biệt là du lịch.
Đầu năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 201 về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.