CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG SÂM NGỌC LINH 1. Cơ sở lý luận về phát triển bền vững Phát triển vừa là động lực, vừa là mục tiêu phấn đấu của xã hội loài người ở bất kỳ thời đại nào. Nó là một quá trình xã hội đạt đến mức thỏa mãn các nhu cầu mà xã hội ấy coi là thiết yếu. Theo Liên hiệp quốc: “Mục tiêu của phát triển là tạo ra một môi trường thuận lợi cho phép con người được hưởng cuộc sống lâu dài, mạnh khỏe và sáng tạo.
Chân lý đơn giản nhưng đầy sức mạnh này rất bị người ta quên mất trong lúc theo đuổi của cải vật chất và tài chính”. Nói cách khác, phát triển là tạo điều kiện tốt nhất cho con người được thỏa mãn các nhu cầu sống, được hưởng những thành tựu về văn hóa và tinh thần, có đủ tài nguyên cho một cuộc sống sung túc, được sống trong một môi trường trong lành, được hưởng các quyền cơ bản của con người và được bảo đảm an ninh, an toàn, không bạo lực [3] [16]. Tác giả Amartya Sen (2002) cho rằng nội dung cốt lõi của vấn đề phát triển là tăng trưởng kinh tế, tiến bộ công nghệ và thay đổi chính trị cần được xem xét, hoặc cần được làm rõ sự đóng góp của chúng cho việc mở rộng các quyền tự do của con người, nhất là quyền tự do thoát khỏi nạn đói và suy dinh dưỡng. Thị trường là động cơ của tăng trưởng kinh tế, phát triển lành mạnh các thị trường cũng chính là một trong những mục tiêu của phát triển, bởi vì chúng hàm chứa những quyền tự do quan trọng, trong đó là có quyền tự do trao đổi và giao dịch [32], [33].
Cách tiếp cận về phát triển của Amartya Sen mở rộng hơn về cách tiếp cận coi “con người là trung tâm của phát triển” được nhiều nhà kinh tế học thừa nhận. Nhà kinh tế học Gunnar Myrdal lại cho rằng có một số nhóm các nhân tố “giá trị phát 6 triển” như tăng trưởng kinh tế, tăng mức sống, giảm bất bình đẳng xã hội và kinh tế, độc lập, đoàn kết dân tộc, dân chủ hóa chính trị, những thay đổi tích cực về cấu trúc gia đình, văn hóa của các xã hội nông nghiệp, công nghiệp hóa và bảo vệ môi trường tác động đến phát triển [30]. Điều này có nghĩa là khi nhận thức về phát triển không chỉ nhận thức những nội dụng cốt lõi của phát triển mà còn phải nhận thức cả những nhóm nhân tố tác động đến quá trình phát triển. Mục tiêu của mỗi quốc gia là tạo ra sự tiến bộ toàn diện, mà tăng trưởng kinh tế chỉ là một điều kiện quan trọng.
Sự tiến bộ của quốc gia trong một giai đoạn nhất định được xem xét trên hai mặt: sự gia tăng về kinh tế và sự tiến bộ về xã hội. Sự gia tăng về kinh tế được thay bằng thuật ngữ tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế tác động thúc đẩy sự tiến bộ về mọi mặt xã hội, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý là nội dung của phát triển kinh tế [13]. Phát triển kinh tế bao hàm ý nghĩa rộng hơn, nó không chỉ bao gồm những thay đổi về số lượng như tăng trưởng kinh tế, mà còn bao gồm cả những thay đổi về chất lượng cuộc sống.
Như vậy, phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình hoàn thiện, nâng cao về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô số lượng và chất lượng về cơ cấu kinh tế xã hội. Đó là sự tiến bộ, thịnh vượng nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống tốt đẹp hơn [39]. Từ lâu con người đã chú ý đến các mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với các vấn đề xã hội và môi trường; giữa chúng có mối quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau.
Môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển kinh tế, ngược lại phát triển kinh tế là nguyên nhân gây nên những biến đổi về môi trường và những sự bất bình đẳng trong xã hội. Thực tiễn đã chứng minh, có giai đoạn phát triển kinh tế được đặt lên hàng đầu, chú trọng đến tốc độ tăng trưởng, coi nhẹ các yếu tố khác như: xã hội, văn hóa, môi trường, quyền con người, đã để lại những hậu quả nặng nề cho môi trường, văn hóa và xã hội. Đối lập với quan điểm trên là quan điểm “tăng trưởng bằng không hoặc âm” để bảo vệ nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường văn hóa và xã hội. Để giải quyết những mâu thuẫn này, các nhà khoa học đề xuất một con đường phát triển theo hướng bền vững [30].
7 Xuất phát từ những góc độ khác nhau các nhà kinh tế đã đưa ra những quan điểm khác nhau về bền vững. Theo WECD (1987), phát triển bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu của hiện tại không ảnh hưởng đến khả năng của các thế hệ tương lai để đáp ứng nhu cầu riêng của họ. Starik và Rands (1995) định nghĩa tính bền vững như là khả năng của một hoặc nhiều thực thể, để tồn tại và phát triển (hoặc không thay đổi hoặc trong điều kiện phát triển) cho khoảng thời gian dài giữa các cấp độ liên quan trong các hệ thống liên quan [76]. Từ định nghĩa được cung cấp bởi OECD, tính bền vững cũng có liên quan rộng rãi việc thực hiện hoặc thực hiện trong ba trụ cột của phát triển bền vững hay còn gọi là ba yếu tố cơ bản với sự nhấn mạnh vào hiệu quả của môi trường, xã hội và kinh tế để cải thiện chất lượng cuộc sống của con người.
Elkington (1998, 2004) chỉ ra các khái niệm về tính bền vững như là giao điểm của ba thành phần (Sơ đồ 1. Mặc dù nghiên cứu đề cập đến các khái niệm về 3 trụ cột, nhưng sự tích hợp giữa ba chiều không hoàn toàn đầy đủ. Các nghiên cứu cho thấy việc thiếu sự đánh giá, phân tích tính tương tác giữa ba yếu tố sẽ không làm rõ được tính bền vững của sự phát triển, đặc biệt là sự chi phối bởi các vấn đề môi trường đến kinh tế, văn hóa xã hội [50] [75]. Hầu hết các học giả đồng ý về khái niệm của ba trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường.
Nhưng quan điểm về bền vững vẫn là chủ đề gây tranh cãi và cần phát triển hơn nữa. Trước đó, Costanza và Patten (1995) đã giải thích sự bền vững như là các dự đoán dựa trên hiện tại của hành động để thực hiện trong tương lai và hy vọng sẽ đạt được sự bền vững, tức là phải giữ được tỷ lệ thu hoạch ở mức độ hợp lý theo sự thay đổi tự nhiên, từ đó dẫn đến hệ thống được khai thác bền vững [43]. Tính bền vững là giao điểm của hiệu quả 3 trụ cột Nguồn: Carter, C.S, 2008; Normansyah Syahruddin, 2012 Trong công trình nghiên cứu này, chúng ta xem xét quan điểm của phát triển bền vững theo xu hướng chủ đạo của ba trụ cột. Do đó bằng cách bền vững, các đơn vị, tổ chức và nhóm hộ có thể và sẽ đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn và duy trì vị thế của mình trong các mục tiêu quản lý các hoạt động xã hội và môi trường [40] [51].
Phát triển bền vững nông nghiệp 1. Khái niệm Trong những năm gần đây thuật ngữ phát triển bền vững trong nông nghiệp có những cách gọi khác nhau: “phát triển bền vững nông nghiệp”, “phát triển nông nghiệp bền vững” hay “nông nghiệp bền vững”, “ nông nghiệp hữu cơ” nhưng tùy thuộc vào quan niệm khác nhau mà các nhà kinh tế đưa ra các khái niệm khác nhau: Theo quan điểm của Tổ chức nông lương thế giới - FAO (1998), Phát triển bền vững nông nghiệp (bao gồm nông, lâm và thủy sản) là quá trình quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, định hướng sự thay đổi về công nghệ, thể chế theo cách sao cho bảo đảm được thành tựu và vẫn thỏa mãn không ngững những nhu cầu của con người trong hiện tại và cho cả các thế hệ mai sau. Sự phát triển bền vững như vậy, sẽ bảo vệ được nguồn tài nguyên như đất, nước, nguồn gen động thực vật, đảm bảo không tổn hại đến môi trường, không giảm cấp tài nguyên, sẽ phù hợp về kỹ thuật và công nghệ, có hiệu quả về kinh tế và được chấp nhận về mặt xã hội [48]. Theo Ủy ban kỹ thuật của FAO: “Nền nông nghiệp bền vững bao gồm việc quản lý có hiệu quả nguồn lực để thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người mà vẫn duy trì hay làm tăng thêm chất lượng của môi trường và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên” [46] [49].
9 Conway và Barbier (1990) mô tả nông nghiệp bền vững là khả năng duy trì năng suất cho dù chúng ta xem xét một lĩnh vực, một trang trại hoặc một quốc gia. Maureen (1990) dẫn quan điểm của Hội đồng nghiên cứu quốc gia Mỹ cho rằng “nông nghiệp bền vững” tương ứng với nông nghiệp tùy cơ ứng biến, chứa một phổ đa dạng về các loại hình canh tác, trong đó mỗi loại hình lại có khả năng thích ứng với một kích cỡ trang trại cụ thể trong những điều kiện cụ thể về điều kiện tự nhiên, đất đai và con người. Do vậy, không thể có một khuôn mẫu chung về phát triển nông nghiệp bền vững cho các vùng khác nhau, các trang trại khác nhau [44] [63]. Theo Bill Mollison (1994) thì “nông nghiệp bền vững” là một hệ thống được thiết kế để chọn môi trường bền vững cho sự sống con người.
Đó là một hệ thống ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực về kinh tế, có khả năng thỏa mãn những nhu cầu của con người mà không bóc lột đất đai, không làm ô nhiễm môi trường. Nông nghiệp bền vững sử dụng những đặc tính vốn có của cây trồng, vật nuôi kết hợp với đặc trưng của cảnh quan và cấu trúc, trên những diện tích đất sử dụng thấp nhất, nhờ vậy con người có thể tồn tại được, sử dụng nguồn tài nguyên phong phú trong thiên nhiên một cách bền vững mà không liên tục hủy diệt sự sống trên trái đất [2] [16]. Ở Việt Nam, những khái niệm về nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp bền vững mới được đề cập trong vài thập kỷ gần đây, các nhà khoa học nông nghiệp nhận thấy các giới hạn của một nền nông nghiệp thâm canh cao độ, đặc biệt là các giới hạn về sinh thái môi trường. Trong nghiên cứu phát triển nông nghiệp bền vững các nhà khoa học nước ta cũng như trên thế giới đặc biệt quan tâm đến việc phát triển nông nghiệp bền vững vùng cao.