CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI DO VƯỢT QUÁ GIỚI HẠN PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG Trong quá trình lập pháp lâu dài với nhiều lần sửa đổi, các trường hợp phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng ngày càng được hoàn thiện và bổ sung vào BLHS Việt Nam. Những quy định đó dựa trên sự phân tích, lý luận khoa học chặt chẽ về tính chất, đặc điểm của hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Khái niệm và đặc điểm của các trường hợp phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Phòng vệ chính đáng là một trong những trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự (không phải chịu trách nhiệm hình sự). Phòng vệ chính đang trong nhiều trường hợp cũng có thể gây thiệt hại cho một chủ thể nào đó, nhưng vì nó có những yếu tố làm cho tính nguy hiểm cho xã hội không còn, thậm chí phù hợp với lợi ích của xã hội được xã hội khuyến khích.
Tuy vậy, không phải trường hợp nào cũng được xem là phòng vệ chính đáng mà bất cứ một mức độ kháng cự nào dù nhiều hay ít cũng cần có mức giới hạn của nó. Và khi sự phòng vệ là quá mức cần thiết thì người phòng vệ sẽ phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần thiệt hại mà họ gây ra. Khái niệm các trường hợp phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Các trường hợp phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo Bộ luật Hình sự Việt Nam gồm: giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Theo BLHS 2015 có quy định tại khoản 2 điều 22 BLHS (sửa đổi bổ sung 2017) đã có quy định về vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng: “Vượt quá phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.” Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là trường hợp phòng vệ khi đã có đủ cơ sở làm phát sinh quyền phòng vệ - là sự tấn công của con người, nguy hiểm đáng kể, hành vi trái pháp luật đang hoặc sẽ xảy ra ngay tức khắc và người phòng vệ đã thực 11 hiện đúng nội dung của quyền phòng vệ, nghĩa là đã có những hành vi chống trả gây thiệt hại cho chính kẻ tấn công để bảo vệ mình nhưng đã vượt ra ngoài phạm vi cho phép và gây thiệt hại cho người tấn công rõ ràng quá mức cần thiết, không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công.
Thiệt hại cho kẻ tấn công nhận lại thái quá so với hành vi nguy hiểm mà người tấn công gây ra. Nói cách khác, đây là trường hợp “. Người phòng vệ đã dùng những phương tiện và phương pháp gây ra thiệt hại quá đáng cho người xâm hại mà tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại cũng như hoàn cảnh cụ thể chưa đòi phải dùng các phương tiện và phương pháp đó”. Để đánh giá một người có vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng không cần xác định họ có đủ điều kiện của phòng vệ không? (các điều kiện về phát sinh quyền phòng vệ đã trình bày ở trên).
Hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được điều luật diễn đạt bằng cụm từ “rõ ràng là quá mức cần thiết”. Để đánh giá một hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng rõ ràng là quá mức cần thiết phải dựa vào các điều kiện đánh giá tính cần thiết của hành vi phòng vệ đã trình bày ở trên. Vi phạm các điều đó là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Để đánh giá tính chất “rõ ràng là quá mức cần thiết” của hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng còn phải dựa vào tình tiết cụ thể của vụ việc.
Nhìn chung, cần dựa vào một số các tiêu chí sau: - Tính chất của quan hệ xã hội đang bị đe dọa xâm phạm; - Mức độ thiệt hại do nguồn đe dọa gây ra; - Mức độ của hành vi tấn công; - Tính chất và mức độ nguy hiểm của phương pháp và phương tiện mà người tấn công sử dụng; - Khả năng phòng vệ của người phòng vệ.v…1 Người phòng vệ chính đáng trong những trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu TNHS nếu có lỗi đối với việc vượt quá của mình. Tuy nhiên, TNHS không như những trường hợp bình thường. Điều 51 BLHS 2015 đã coi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là tình tiết giảm nhẹ TNHS. Như vậy vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là việc người phòng vệ vi phạm điều kiện chống trả “một cách cần thiết” của phòng vệ chính đáng.
1 “CÁC TỘI PHẠM DO VƯỢT QUÁ GIỚI HẠN PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (TRÊN CƠ SỞ SỐ LIỆU THỰC TIỄN Ở TÂY NGUYÊN)”, t.g Trần Thị Thanh Tâm, tr. Đặc điểm của các trường hợp phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Pháp luật hình sự quy định có rất nhiều loại tội phạm khác nhau dựa trên cơ sở phân chia về quan hệ xã hội, yếu tố về lỗi. Nhìn chung các tội phạm đều được hợp thành bởi các yếu tố nhất định. Điều này có ý nghĩa trong việc xác định một người đã thực hiện hành vi được cho là tội phạm hay chưa, hay việc thực hiện hành vi đó phạm tội ở mức độ nào.
Theo đó, có 4 yếu tố cấu thành tội phạm. Đó là: chủ thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm, và khách thể của tội phạm. Bất kì một tội phạm nào, không phụ thuộc vào loại tội phạm, mức độ nghiêm trọng đều phải xem xét dưới 4 yếu tố cấu thành tội phạm kể trên. Các tội phạm do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng cũng không phải ngoại lệ.
*Khách thể của các trường hợp phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Tội phạm do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được BLHS Việt Nam 2015 ghi nhận là tội phạm xâm phạm đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Ví dụ, ở Bộ luật Hình sự Việt Nam 2015, tội phạm này có thể xâm phạm đến quyền sống (điều 126 BLHS 2015) và xâm phạm làm tổn hại sức khỏe của con người (điều 136 BLHS 2015). *Mặt khách quan của các trường hợp phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Hành vi khách quan được thể hiện bằng việc chống trả quyết liệt quá mức cần thiết của người bị xâm hại nhằm dập tắt hoàn toàn hành vi xâm hại họ và dẫn tới hậu quả nghiêm trọng. *Chủ thể của các trường hợp phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý.
Về lý trí: khi thực hiện hành vi chống trả lại hành vi xâm hại, người phạm tội đều xác định được làm như vậy là nguy hiểm và có thể gây thiệt hại rất lớn cho người có hành vi xâm hại. Về ý chí: người phạm tội mong muốn thực hiện hành vi tấn công, chống trả lại nhằm dập tắt sự xâm hại. 13 *Mặt chủ quan của các trường hợp phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Tội phạm này được thực hiện bởi bất kỳ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự – tức là người không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác dẫn đến mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Trách nhiệm hình sự của các trường hợp phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Những hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, nghĩa là những hành vi đó không còn nằm trong phạm vi của phòng vệ chính đáng, hành vi đã gây hậu quả quá mức so với hành vi tấn công thì trường hợp này không nằm trong những trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự, người thực hiện hành vi vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với những hành vi gây ra thiệt hại của mình.
Việc chịu trách nhiệm hình sự sẽ tuỳ theo tính chất, mức độ sẽ phát sinh trách nhiệm tương ức với hành vi vượt quá phạm vi cho phép của quyền phòng vệ. Tuy nhiên, bản chất của những hành vi gây thiệt hại trong trường hợp này không có tính nguy hiểm cho xã hội cao như những hành vi phạm tội thông thường. Yếu tố lỗi của người gây ra thiệt hại ở đây không hoàn toàn là lỗi cố ý trực tiếp, người gây ra hành vi thiệt hại ban đầu cũng là “nạn nhân” của những hành vi đe doạ nên mới phát sinh những hành vi phòng vệ, chống trả quá mức rồi mới trở thành “người phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” như vậy. Mục đích của hành vi phòng vệ là bảo vệ kịp thời lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích chính đáng của người công dân khỏi sự xâm hại.
Tất cả những yếu tố đó khẳng định về sự nguy hiểm đối với xã hội của hành vi này là khá thấp so với những tội danh khác nên BLHS cũng có quy định việc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Trường hợp được giảm nhẹ cần thoả mãn những các lý do sau: Thứ nhất, hành vi của người phạm tội trong trường hợp này xuất phát từ động cơ đúng, tích cực nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của mình, lợi ích của Nhà nước, tổ chức hoặc người khác Thứ hai, khi bị tấn công và nhất là khi bị tấn công bất ngờ, người phạm tội khó có điều kiện bình tĩnh lựa chọn biện pháp chống trả thích hợp nên mới có hành vi gây thiệt hại quá mức như vậy. 14 Thứ ba, nạn nhân cũng là người có lỗi vì đã có hành vi tấn công, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tổ chức hoặc người khác. BLHS 2015 đã có quy định và nói về tình tiết định tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng tại điều 126 (tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội) và điều 136 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội).