Chương 1. Lý luận về TCTD là HTX và pháp luật về TCTD là HTX Chương 2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về TCTD là HTX Chương 3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về TCTD là HTX 7 PHẦN TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước TCTD là HTX không chỉ tồn tại và phát huy vai trò ở các nước nghèo, các nước đang phát triển mà ở các nước phát triển như Mỹ, Canada, Hà Lan, Đức,… TCTD là HTX cũng rất phát triển và đóng vai trò to lớn trong việc giải quyết nhu cầu tín dụng của người dân ở các địa bàn nông thôn và các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, đến thời điểm Luận án này được triển khai nghiên cứu số lượng các công trình, các bài viết về TCTD là HTX vẫn khá khiêm tốn. Xét trong mối liên quan với nội dung nghiên cứu của Luận án, ở mức độ khái quát có thể sắp xếp các công trình nghiên cứu ngoài nước về TCTD là HTX thành các nhóm với các nội dung nghiên cứu cụ thể sau đây: Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến khía cạnh lý luận của luận án Năm 1965, Charles D.
Matthews trong bài viết “Quy chế kiểm soát đối với hiệp hội tín dụng một số vấn đề và giải pháp”3 đã nghiên cứu và chỉ rõ có hai trường phái quan điểm đối lập về vai trò của hiệp hội tín dụng trong nền kinh tế. Trường phái quan điểm thứ nhất cho rằng; nên phát triển mạnh hơn các hiệp hội tín dụng và các hiệp hội tín dụng cần phải được hưởng những ưu đãi, miễn thuế, không bị kiểm soát chặt chẽ, không phải mua bảo hiểm cổ phần. Trường phái quan điểm thứ hai cho rằng; nên loại bỏ các hiệp hội tín dụng hoặc chí ít cần phải có quy chế kiểm soát chặt chẽ hơn đối với các hiệp hội tín dụng và các hiệp hội tín dụng phải đóng thuế. Qua nghiên cứu, phân tích của mình, tác giả cho rằng sự tồn tại của các hiệp hội tín dụng là tất yếu, cộng đồng tài chính phải chấp nhận nó như là một thành phần trong guồng máy tài chính quốc gia và các hiệp hội tín dụng phải được hưởng những ưu đãi so với các NHTM.
Đối với liên hiệp hiệp hội tín dụng quốc gia, tác giả cho rằng vấn đề không phải là cần thiết hay không, mà vấn đề là tổ chức quản lý như thế nào, nên có 3 Charles D. Matthews (1965), credit Unions-Regulatory Control Development-Problems-Recommendations. 8 một thỏa hiệp giữa các ngân hàng với các hiệp hội tín dụng, theo đó các ngân hàng sẽ chấp nhận sự tồn tại và vai trò của các hiệp hội tín dụng và ngược lại các hiệp hội tín dụng phải mua bảo hiểm cổ phần và phải đóng thuế. Axworthy có bài viết “Hiệp hội tín dụng ở Canada những vật cản trên con đường dẫn tới thành công”4.
Phần thứ nhất của bài viết nghiên cứu về lịch sử ra đời của hiệp hội tín dụng trên thế giới và ở Canada, phân tích các đặc thù của các mô hình hiệp hội tín dụng của Đức và Italia cũng như những đóng góp của Alphonse Desjardins và Moses Coady với mô hình hiệp hội tín dụng của Canada. Phần thứ hai của bài viết nghiên cứu về những nguyên tắc cơ bản, đặc thù trong tổ chức và hoạt động của hiệp hội tín dụng. Để có cơ sở để ban hành các quy định điều chỉnh hiệp hội tín dụng, tác giả đặt ra ba câu hỏi: (1) Hiệp hội tín dụng có phải là tổ chức kinh doanh tài chính không; (2) Hiệp hội tín dụng có phải là ngân hàng không; (3) Lợi nhuận chi trả cho các thành viên có phải là thu nhập chịu thuế? Theo phân tích của tác giả với những đặc thù về mục tiêu hoạt động và mối quan hệ mật thiết giữa các thành viên, cần phải có một quy chế pháp lý riêng điều chỉnh các hiệp hội tín dụng. Năm 1998, tác giả Eric Rasmusen công bố bài viết “Ngân hàng hợp tác và ngân hàng cổ phần”5.
Trong nghiên cứu của mình tác giả đã phân tích, đánh giá về những lợi thế và bất lợi của ngân hàng hợp tác, sự khác biệt giữa các ngân hàng hợp tác so với các ngân hàng cổ phần. Theo tác giả, ngân hàng tiết kiệm hợp tác, hiệp hội tín dụng và tất cả những hiệp hội liên quan đến tiền tiết kiệm đều được gọi là ngân hàng hợp tác, còn lại là ngân hàng cổ phần. Sự khác biệt giữa hai mô hình trên ở chỗ ai kiểm soát ngân hàng và hưởng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của ngân hàng đem lại. Fischer có bài viết “HTX tài chính: Giải pháp thị trường cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ và tài trợ nông thôn”6.
Bài viết nghiên cứu về nhiệm vụ, mục tiêu và các đặc trưng của HTX tài chính để điều tra mức độ phù hợp trong việc tài trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các nước đang phát triển. Bài viết đã chứng minh được vai trò hết sức quan trọng của các HTX tài chính. Với những đặc thù về quy mô, tính liên kết, mục tiêu hoạt động… các HTX tín dụng là những trung 4 C. Axworthy (1981), Credit unions in Canada: the dilemma of success, tr.
5 Eric Rasmusen (1998), Mutual banks and Stock banks, tr. Fischer (1998), Financial cooperative: A “market solution” to SME and rural financing. 9 gian tài chính phù hợp để cấp tín dụng cho các hộ gia đình nghèo, các vùng nông thôn và các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bài viết cũng đã chứng minh sự tồn tại của các HTX tín dụng là tất yếu và đặt ra yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện, nâng cao vai trò của các HTX tín dụng.
Năm 2010, hai tác giả Silvio Goglio và Andrea Leonardi có bài viết “Nguồn gốc của HTX tín dụng từ góc độ lý luận và lịch sử”7. Vấn đề nguồn gốc của HTX tín dụng của Đức được các học giả nghiên cứu theo quan điểm lịch sử và học thuyết. Các tác giả đã nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển HTX tín dụng ở Đức qua việc phân tích, đánh giá các mô hình HTX tín dụng của Hermann Schulze Delitzsch, mô hình của Raiffeisen và mô hình của Wilhelm Haas. Nếu như mô hình HTX tín dụng của Schulze đã áp dụng nguyên lý sáng lập, quan tâm nhiều hơn tới lợi ích kinh tế trước mắt và các đặc điểm tâm lý và đạo đức của những người tham gia, thì mô hình HTX tín dụng theo quan điểm của Raiffeisenian lại quan tâm nhiều hơn đến trách nhiệm vô hạn, sự tích tụ của một quỹ bất khả phân, việc cấp tín dụng cho các ứng viên có công, và đặc biệt là quan tâm đến lợi ích chung hơn là lợi ích của các thành viên.
Theo Schulze Delitzsch, HTX tín dụng được coi là có “nguồn gốc” tôn giáo, thì Raiffeisenian lại không chấp nhận bất cứ thiên hướng thần bí và tôn giáo nào. Wilhelm Haas chính là người đã kết nối, phối hợp hai mô hình của Schulze Delitzsch và của Raiffeisenian tạo ra một mô hình HTX tín dụng kết hợp được những ưu điểm và khắc phục được những hạn chế trong các mô hình trên. Mô hình của Haas đã bất chấp những chỉ trích của chủ nghĩa xã hội, cái mà xem nó như là một nỗ lực “tư sản hóa” của giai cấp công nhân và do đó chỉ dung túng các HTX sản xuất và tiêu dùng chứ không phải là ngân hàng hợp tác đã sớm được nghiên cứu và áp dụng ở một số vùng của châu Âu. Với những nội dung đã phân tích có thể thấy, nghiên cứu về nguồn gốc của HTX của hai tác giả Silvio Goglio và Andrea Leonardi gắn liền với điều kiện lịch sử, kinh tế - xã hội của nước Đức.
Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về mô hình tổ chức hệ thống các TCTD là HTX 7 Silvio Goglio, Andrea Leonardi (2010), The roots of cooperative credit from a theoretical and historical perspective. 10 Năm 1996, các tác giả Saeed Quresbi, Ijaz Nabi, và Rashid Faruqee có bài viết “Tài trợ nông thôn để phát triển và xóa đói giảm nghèo” 8. Trong bài viết của mình, các tác giả đã đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện tổ chức và hoạt động của hệ thống các HTX lao động nông thôn tại Pakistan và một trong các giải pháp được các tác giả đề xuất là hoàn thiện mô hình tổ chức hệ thống các HTX (cấp thôn, cấp liên minh, cấp tỉnh). Tuy nhiên, mô hình tổ chức hệ thống các HTX được các tác giả đề cập, mới chỉ dừng lại ở trong phạm vi một tỉnh, chứ không phải trên phạm vi toàn quốc.
Trong bài viết “Nguồn gốc của HTX tín dụng từ góc độ lý luận và lịch sử”9, các tác giả Silvio Goglio và Andrea Leonardi không chỉ giải quyết được vấn đề nguồn gốc của hợp tác tín dụng ở Đức, bằng việc phân tích các mô hình HTX tín dụng khác nhau, các tác giả còn chỉ ra được những những đặc thù, mối liên kết trong các HTX tín dụng. Thứ ba, nhóm các công trình nghiên cứu về thành lập TCTD là HTX Theo hiểu biết của NCS, tính đến thời điểm Luận án được thực hiện có hai công trình nghiên cứu ngoài nước đề cập, nghiên cứu các vấn đề liên quan đến thành lập TCTD là HTX Một là, bài viết “Tài trợ nông thôn để phát triển và xóa đói giảm nghèo” của các tác giả Saeed Quresbi, Ijaz Nabi, và Rashid Faruqee. Trong bài viết, trên cơ sở đánh giá vai trò của các HTX lao động nông thôn Sindl trong việc đáp ứng nhu cầu tín dụng nông thôn ở Pakistan, các tác giả đã đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện tổ chức và hoạt động của hệ thống các HTX lao động nông thôn tại Pakistan. Một trong các giải pháp được các tác giả đề xuất là hoàn thiện quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, điều kiện đối với việc đăng ký HTX (vốn tổi thiểu, tiền gửi và vốn góp)10.
Hai là, bài viết “Ngân hàng thắng cục bộ - Hiệp hội tín dụng thắng toàn cục: Nghiên cứu ảnh hưởng của phán quyết của tòa trong vụ Cơ quan quản lý hiệp hội tín dụng quốc gia kiện Ngân hàng Quốc gia Đệ nhất và Hệ quả của Công ty ủy thác đối với Hiệp hội tín dụng nghề nghiệp” của tác giả Ryan Mattson được thực hiện năm 8 Saeed Quresbi, Ijaz Nabi, và Rashid Faruqee (1996), Rural Finance for Growth and Poverty Alleviation. 9 Silvio Goglio, Andrea Leonardi, tlđd. 10 Saeed Quresbi, Ijaz Nabi, và Rashid Faruqee (1996), tlđd.