Tổng quan luận án
Hệ thống tổ chức tín dụng là hợp tác xã (TCTD là HTX) tại Việt Nam được hình thành từ năm 1993 thông qua đề án thí điểm xây dựng hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) nhằm thay thế mô hình hợp tác xã tín dụng cũ bị suy yếu và đổ vỡ. Trải qua hơn hai thập kỷ vận hành, mạng lưới TCTD là HTX đã phát triển với 1.182 QTDND, đạt quy mô bình quân 1.448 thành viên trên mỗi quỹ (theo Báo cáo kết quả hoạt động năm 2020 của Hiệp hội QTDND Việt Nam). Hệ thống này giữ vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tại khu vực nông nghiệp, nông thôn, vùng sâu, vùng xa — những địa bàn mà mạng lưới phòng giao dịch và chi nhánh của các ngân hàng thương mại chưa tiếp cận đầy đủ.
Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn hoạt động của hệ thống TCTD là HTX đã bộc lộ nhiều bất cập nghiêm trọng:
- Một số QTDND tăng trưởng quy mô vốn quá nhanh, mở rộng địa bàn hoạt động vượt quá năng lực quản trị và kiểm soát nội bộ.
- Phát sinh nhiều sai phạm trong hoạt động cho vay và vi phạm các quy định về quản trị, điều hành, kiểm toán.
- Tính liên kết hệ thống giữa các tổ chức thành viên với đầu mối liên kết còn lỏng lẻo; xuất hiện tình trạng một số quỹ xa rời nguyên tắc cốt lõi "vì thành viên và xuất phát từ thành viên".
- Hiện tượng một số doanh nghiệp lợi dụng danh nghĩa QTDND để trục lợi các chính sách ưu đãi của Nhà nước dành cho mô hình kinh tế tập thể.
Nguyên nhân căn bản của các hiện tượng trên bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ của khung khổ pháp luật. Các quy phạm điều chỉnh TCTD là HTX nằm rải rác ở nhiều văn bản luật và dưới luật, thường xuyên bị sửa đổi, thiếu tính ổn định, xuất hiện nhiều điểm mâu thuẫn và bất cập giữa các tầng nấc văn bản. Đề án "Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015" ban hành kèm theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ đã chuyển đổi mô hình 3 cấp (QTDND cơ sở, QTDND khu vực, QTDND trung ương) thành mô hình 2 cấp với đầu mối là Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam. Tuy nhiên, việc vận hành mô hình này trên thực tế vẫn đối mặt với khoảng trống pháp lý lớn. Do đó, việc nghiên cứu chuyên sâu về đề tài "Pháp luật về tổ chức tín dụng là hợp tác xã" của nghiên cứu sinh Đỗ Mạnh Phương (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2020) mang tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận nền tảng về TCTD là HTX và pháp luật điều chỉnh TCTD là HTX.
- Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành, chỉ ra những hạn chế, bất cập cùng nguyên nhân cốt lõi.
- Xây dựng quan điểm và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật về TCTD là HTX tại Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu (được xác định cụ thể thành 3 nhiệm vụ):
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về TCTD là HTX, bao gồm khái niệm, đặc thù pháp lý so với các loại hình TCTD khác, các loại hình tổ chức, vai trò kinh tế - xã hội, hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh, nội dung và các yếu tố chi phối.
- Khảo sát, phân tích thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng từ năm 1993 đến nay (trọng tâm từ năm 2010 đến năm 2020), chỉ rõ những vướng mắc, khiếm khuyết trong 05 nhóm quan hệ pháp luật cốt lõi.
- Luận giải các quan điểm hoàn thiện và kiến nghị các sửa đổi, bổ sung cụ thể đối với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh TCTD là HTX.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật điều chỉnh loại hình TCTD tổ chức dưới mô hình hợp tác xã và thực tiễn thi hành các quy định này tại Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung giải quyết 05 vấn đề pháp lý cơ bản: (1) Mô hình tổ chức hệ thống TCTD là HTX; (2) Điều kiện và thủ tục thành lập TCTD là HTX; (3) Cơ cấu tổ chức quản trị, điều hành và kiểm soát; (4) Hoạt động kinh doanh tiền tệ - tín dụng; (5) Tổ chức lại, giải thể, phá sản TCTD là HTX.
- Phạm vi không gian: Tập trung tại Việt Nam, có nghiên cứu so sánh kinh nghiệm pháp luật của các quốc gia như Đức, Canada, Hà Lan, Mỹ, Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc, Pakistan.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát tiến trình phát triển pháp luật từ năm 1993 đến năm 2020, trọng tâm là giai đoạn thi hành Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và Luật Hợp tác xã năm 2012.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan theo từng nhóm chủ đề chuyên biệt:
Các công trình nghiên cứu ngoài nước
- Nhóm nghiên cứu về lý luận và bản chất mô hình: Charles D. Matthews (1965) phân tích hai trường phái đối lập về việc ưu đãi miễn thuế và kiểm soát đối với hiệp hội tín dụng. C. Axworthy (1981) nghiên cứu lịch sử phát triển của hiệp hội tín dụng tại Canada, dấu ấn của Alphonse Desjardins và Moses Coady, đồng thời đặt ra ba câu hỏi pháp lý về tư cách kinh doanh tài chính, ngân hàng và thu nhập chịu thuế. Eric Rasmusen (1998) phân biệt ngân hàng hợp tác và ngân hàng cổ phần dựa trên cấu trúc quyền lực kiểm soát và phân phối lợi nhuận. Fischer (1998) chứng minh vai trò cung cấp tín dụng của HTX tài chính đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa và khu vực nông thôn. Silvio Goglio và Andrea Leonardi (2010) khảo cứu nguồn gốc HTX tín dụng tại Đức qua ba mô hình lịch sử của Hermann Schulze-Delitzsch, Friedrich Wilhelm Raiffeisen và Wilhelm Haas.
- Nhóm nghiên cứu về mô hình tổ chức, thành lập và an toàn hoạt động: Saeed Quresbi, Ijaz Nabi và Rashid Faruqee (1996) nghiên cứu HTX lao động nông thôn tại Pakistan, đề xuất quy định về vốn tối thiểu và điều kiện đăng ký. Ryan Mattson (1999) phân tích tranh chấp pháp lý trong vụ kiện NCUA v. First National Bank & Trust Co. dẫn tới việc ban hành Đạo luật CUMAA năm 1998 tại Mỹ về mối liên kết nghề nghiệp - đoàn thể của thành viên. Michelle D. Monse (1992) xem xét trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp của luật sư khi đại diện cho các quỹ tiết kiệm. Daniel Porath (2006) ước tính xác suất vỡ nợ của ngân hàng tiết kiệm và HTX tín dụng tại Đức dựa trên số liệu của Deutsche Bundesbank. Tara Deelchand và Carol Padgett (2009) nghiên cứu mối quan hệ giữa rủi ro, vốn và hiệu quả tại các ngân hàng HTX Nhật Bản giai đoạn 2003-2006. Giovanni Ferri (2012) phân tích cơ hội, thách thức và sự cần thiết của khung pháp lý đặc thù cho HTX tín dụng trong bối cảnh hậu khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Các công trình nghiên cứu trong nước
- Nghiên cứu về mô hình và tính liên kết hệ thống: PGS.TS Nguyễn Ngọc Oánh (2000) nghiên cứu mô hình tổ chức hệ thống Quỹ tín dụng ở Việt Nam và kinh nghiệm Desjardins (Canada). Đỗ Mạnh Hùng (2000) nghiên cứu giải pháp tăng cường liên kết hệ thống. Phạm Quang Vinh (2001) làm rõ tính hai mặt giữa mục tiêu tương trợ thành viên và mục tiêu lợi nhuận, cơ chế điều hòa vốn. TS. Trần Quang Khánh (2003, 2004, 2014) khảo sát đặc trưng tổ chức mô hình QTDND, giải pháp bảo đảm an toàn hệ thống và cơ cấu lại TCTD là HTX đến năm 2020. Nguyễn Hữu Tuệ / TS. Doãn Hữu Tuệ (2002, 2009, 2010) đề xuất hoàn thiện bộ phận liên kết phát triển hệ thống và thành lập Liên minh các QTDND. TS. Nguyễn Đình Lưu (2008) phân kỳ lịch sử phát triển và đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống QTDND. Bùi Chính Hưng (2004) phân tích mô hình tín dụng hợp tác xóa đói giảm nghèo.
- Nghiên cứu dưới góc độ luật học: Phan Thị Kim Liên (2006) với khóa luận về pháp luật bảo đảm an toàn hoạt động QTDND. ThS. Trần Văn Kiên (2009) với luận văn về các vấn đề pháp lý của QTDND cơ sở. Văn Tạo (2003) phân tích thuật ngữ pháp lý "TCTD hợp tác" trong Luật Các tổ chức tín dụng 1997.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Đa số các công trình nghiên cứu trong nước trước đây tiếp cận TCTD là HTX dưới góc độ kinh tế học, tài chính - ngân hàng, hoặc được thực hiện trước khi Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và Luật Hợp tác xã năm 2012 có hiệu lực. Các công trình luật học trước đó chủ yếu dừng lại ở việc mô tả quy định hoặc tiếp cận phạm vi hẹp ở cấp QTDND cơ sở. Luận án của NCS Đỗ Mạnh Phương là công trình nghiên cứu luật học chuyên sâu, toàn diện đầu tiên đánh giá tổng thể hệ thống pháp luật điều chỉnh TCTD là HTX tại Việt Nam theo mô hình 2 cấp mới, giải quyết đồng bộ từ nền tảng lý luận đến 05 nhóm quan hệ pháp luật thực định cốt lõi.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Khái niệm bản chất tổ chức: Luận án phân tích bản chất pháp lý của HTX dựa trên lý thuyết doanh nghiệp tập thể (Cooperative Enterprises / Cooperative Corporations theo tài liệu của Tim Mazzarol 2009, 2011 và Dante Cracogna 2013). Luận án đối thoại và phản biện quan điểm của PGS.TS Dương Đăng Huệ và nguyên Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đặng Huy Đông (cho rằng HTX không phải là doanh nghiệp), khẳng định HTX là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt có tư cách pháp nhân, nơi mục tiêu lợi nhuận đóng vai trò là phương tiện để thực hiện mục tiêu xã hội tương trợ thành viên.
- Lý thuyết tài chính vi mô và tín dụng hợp tác: Phân biệt mô hình TCTD là HTX với các định chế tài chính vi mô thuần túy dựa trên các nghiên cứu của Joanna Ledgerwood (2000), CGAP (2004), Nguyễn Kim Anh và Lê Thanh Tâm (2013). Khẳng định tính đặc thù về cơ chế sở hữu, quản trị dân chủ bình đẳng (mỗi thành viên một phiếu biểu quyết không phụ thuộc vốn góp) và giới hạn phạm vi hoạt động theo địa bàn, đối tượng thành viên.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án là công trình nghiên cứu khoa học pháp lý định tính kết hợp tổng hợp số liệu thực tiễn, áp dụng đồng bộ các phương pháp:
- Phương pháp tiếp cận lịch sử: Khảo cứu quá trình hình thành, biến đổi của hệ thống HTX tín dụng từ Chỉ thị 15/CT-TU ngày 27/3/1956, Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính năm 1990, Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 đến Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.
- Phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật và tổng hợp, khái quát hóa: Rà soát các quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Hợp tác xã, Luật Doanh nghiệp, Luật Phá sản và các thông tư hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để chỉ ra mâu thuẫn, khoảng trống pháp luật.
- Phương pháp so sánh luật học: Khảo cứu khung pháp lý và mô hình tổ chức TCTD là HTX tại Đức (mô hình Schulze-Delitzsch, Raiffeisen, Haas), Canada (mô hình Desjardins), Mỹ (quy định của NCUA, Đạo luật CUMAA), Nhật Bản, Hà Lan.
- Phương pháp thống kê, khảo sát và phỏng vấn chuyên gia: Thu thập, phân loại và xử lý dữ liệu hoạt động thực tế của hệ thống QTDND và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam từ các báo cáo chuyên ngành của Hiệp hội QTDND Việt Nam và Ngân hàng Nhà nước.
Nguồn tư liệu và danh mục bảng biểu
Luận án sử dụng dữ liệu thống kê chính thức phản ánh thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống TCTD là HTX tại Việt Nam:
| STT |
Tên bảng biểu trong luận án |
Trang trong văn bản |
| 1 |
Bảng 1: Số liệu tổng số QTDND và tổng số thành viên của hệ thống QTDND từ năm 2015 đến 2019 |
79 |
| 2 |
Bảng 2: Số lượng QTDND thành lập BKS và không thành lập BKS |
106 |
| 3 |
Bảng 3: Số liệu về nguồn vốn huy động của hệ thống QTDND (đơn vị: triệu đồng) |
119 |
| 4 |
Bảng 4: Số liệu về dư nợ cho vay của hệ thống QTDND (đơn vị: triệu đồng) |
121 |
| 5 |
Bảng 5: Số liệu về nguồn vốn huy động của Ngân hàng HTX Việt Nam (đơn vị: triệu đồng) |
128 |
| 6 |
Bảng 6: Số liệu về dư nợ cho vay của Ngân hàng HTX Việt Nam (đơn vị: triệu đồng) |
128 |
| 7 |
Bảng 7: Số liệu về tiền gửi của các QTDND tại Ngân hàng HTX Việt Nam và dư nợ cho vay của Ngân hàng HTX Việt Nam đối với các QTDND (đơn vị: triệu đồng) |
129 |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận về tổ chức tín dụng là hợp tác xã và pháp luật điều chỉnh tổ chức tín dụng là hợp tác xã
Chương 1 xây dựng hệ thống khái niệm và khung lý thuyết hoàn chỉnh về TCTD là HTX:
- Khái niệm và thuật ngữ: Phân tích sự tiến triển thuật ngữ từ "HTX tín dụng" (Pháp lệnh 1990), "TCTD hợp tác" (Khoản 5 Điều 20 Luật Các TCTD 1997) đến "TCTD là HTX" (Điều 70 Luật Các TCTD 2010). Chỉ ra hạn chế kỹ thuật lập pháp của định nghĩa năm 2010 khi sử dụng cấu trúc ngữ pháp dạng câu có đầy đủ chủ - vị làm danh từ, đồng thời tồn tại song song cả định nghĩa khái quát và liệt kê nhưng chưa phản ánh đầy đủ đặc thù về rủi ro, liên kết hệ thống và phạm vi hoạt động.
- Ba đặc trưng cơ bản:
- Là doanh nghiệp tập thể tổ chức dưới hình thức HTX: Luận án chứng minh HTX là doanh nghiệp đặc biệt. Việc áp dụng nguyên tắc một thành viên một phiếu biểu quyết không làm mất tư cách doanh nghiệp, tương tự như quy định đối với thành viên hợp danh trong công ty hợp danh (Điểm a Khoản 1 Điều 176 Luật Doanh nghiệp 2014) hay tổ chức bảo hiểm tương hỗ (Điều 59 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 sửa đổi 2010 và Khoản 2 Điều 22 Nghị định 28/2005/NĐ-CP).
- Mục tiêu hoạt động chính là tương trợ thành viên: Nguyên tắc "vì thành viên và xuất phát từ thành viên" định hướng việc khai thác nguồn vốn tại chỗ đáp ứng nhu cầu sản xuất, đời sống, hạn chế nạn cho vay nặng lãi; lợi nhuận chỉ là phương tiện bảo đảm an toàn tài chính.
- Phạm vi hoạt động bị giới hạn: Hạn chế về đối tượng khách hàng (ưu tiên người nghèo, người thu nhập thấp là thành viên) và địa bàn hành chính, ngành nghề.
- Lý luận về pháp luật điều chỉnh: Phân tích các yếu tố chi phối việc xây dựng pháp luật, bao gồm điều kiện kinh tế - xã hội nông thôn, trình độ dân trí, tính liên kết tương hỗ cộng đồng và yêu cầu an toàn hệ thống tài chính quốc gia.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về tổ chức tín dụng là hợp tác xã ở Việt Nam
Chương 2 đánh giá thực trạng pháp luật và dữ liệu thi hành qua 05 nội dung cụ thể:
- Về mô hình tổ chức hệ thống: Khảo sát 3 giai đoạn: (i) Giai đoạn 1993-2000 (thí điểm QTDND 3 cấp); (ii) Giai đoạn 2000-2013 (hoàn thiện mô hình với QTDND Trung ương); (iii) Giai đoạn 2013 đến nay (chuyển đổi QTDND Trung ương thành Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam theo mô hình 2 cấp). Chỉ ra hạn chế về cơ chế điều hòa vốn, sự thiếu vắng các định chế hỗ trợ chuyên biệt như quỹ bảo đảm an toàn, công ty kiểm toán hệ thống.
- Về thành lập TCTD là HTX: Đánh giá các tiêu chuẩn, điều kiện cấp phép thành lập QTDND và Ngân hàng Hợp tác xã (vốn pháp định, tư cách thành viên, địa bàn hoạt động). Thực tiễn cho thấy xuất hiện tình trạng thành viên hình thức, doanh nghiệp lợi dụng quy định thành lập để trục lợi chính sách.
- Về cơ cấu tổ chức quản trị, điều hành: Phân tích thẩm quyền, trách nhiệm của Đại hội thành viên, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát (BKS) và Tổng giám đốc (Giám đốc). Số liệu Bảng 2 (trang 106) phản ánh thực trạng nhiều QTDND chưa kiện toàn hoặc không thành lập BKS chuyên trách, dẫn tới buông lỏng kiểm soát nội bộ.
- Về hoạt động kinh doanh: Phân tích quy định huy động vốn, cấp tín dụng và điều hòa vốn qua các số liệu thực tế tại Bảng 3, Bảng 4, Bảng 5, Bảng 6 và Bảng 7 (trang 119-129). Thực tiễn cho thấy tình trạng cho vay ngoài thành viên vượt tỷ lệ cho phép, sai lệch mục đích vay vốn, mất cân đối nguồn vốn tiền gửi và dư nợ giữa QTDND với Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam.
- Về tổ chức lại, giải thể, phá sản: Đánh giá quy trình sáp nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể và áp dụng Luật Phá sản đối với TCTD là HTX (trang 143-150). Chỉ ra sự lúng túng trong xử lý các QTDND yếu kém bị kiểm soát đặc biệt do vướng mắc giữa quy định pháp luật ngân hàng và pháp luật hợp tác xã.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức tín dụng là hợp tác xã
Chương 3 đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp đồng bộ (trang 150-177):
- Quan điểm hoàn thiện: Bảo đảm giữ vững bản chất hợp tác xã tương trợ thành viên; nâng cao tính an toàn hệ thống; bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất giữa Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Hợp tác xã và pháp luật chuyên ngành liên quan; phù hợp với chuẩn mực quản trị và thực tiễn nông thôn Việt Nam.
- Các nhóm giải pháp cụ thể:
- Hoàn thiện mô hình tổ chức hệ thống: Xác định rõ địa vị pháp lý, vai trò đầu mối điều hòa vốn và chức năng kiểm tra, giám sát của Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam đối với các QTDND thành viên; hoàn thiện quy chế hình thành các quỹ an toàn hệ thống.
- Hoàn thiện quy định về thành lập: Chuẩn hóa điều kiện kết nạp thành viên, siết chặt tiêu chuẩn về mối liên kết địa bàn/nghề nghiệp để ngăn ngừa doanh nghiệp núp bóng; điều chỉnh mức vốn góp tối thiểu và tỷ lệ vốn góp tối đa của một thành viên.
- Hoàn thiện cơ cấu quản trị, điều hành, kiểm soát: Nâng cao tiêu chuẩn chuyên môn của thành viên Hội đồng quản trị, Ban điều hành; bắt buộc thành lập Ban kiểm soát chuyên trách tại tất cả các QTDND; quy định rõ trách nhiệm giải trình và chế tài xử lý vi phạm đối với người quản lý.
- Hoàn thiện quy định về hoạt động kinh doanh: Quy định chặt chẽ tỷ lệ cho vay đối với khách hàng chưa phải là thành viên; mở rộng các dịch vụ ngân hàng cơ bản phục vụ khu vực nông nghiệp nông thôn; hoàn thiện quy chế pháp lý về điều hòa vốn giữa Ngân hàng Hợp tác xã và các QTDND.
- Hoàn thiện pháp luật về tổ chức lại, giải thể, phá sản: Xây dựng cơ chế xử lý nhanh đối với các QTDND bị kiểm soát đặc biệt; quy định rõ ràng về trình tự giải thể tự nguyện, bắt buộc và phá sản đặc thù cho mô hình TCTD là HTX nhằm bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và ổn định trật tự an ninh xã hội địa phương.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án mang lại các đóng góp khoa học cụ thể:
-
Về phương diện lý luận:
- Chuẩn hóa khái niệm TCTD là HTX dưới góc độ luật học, làm rõ bản chất kinh tế - pháp lý của HTX là một loại hình "doanh nghiệp đặc biệt", phân biệt với các loại hình doanh nghiệp thương mại và các tổ chức tài chính vi mô.
- Luận giải sâu sắc ba đặc trưng pháp lý bản chất: tính chất sở hữu tập thể, mục tiêu tương trợ liên kết thành viên và phạm vi hoạt động bị giới hạn theo đối tượng/địa bàn.
- Làm sáng tỏ cấu trúc mô hình hệ thống 2 cấp và mối liên kết pháp lý giữa ngân hàng đầu mối (Ngân hàng Hợp tác xã) và các định chế thành viên cơ sở (QTDND).
-
Về phương diện thực tiễn và hoàn thiện lập pháp:
- Cung cấp bức tranh toàn diện và hệ thống số liệu cụ thể về thực trạng thi hành pháp luật điều chỉnh TCTD là HTX tại Việt Nam từ năm 1993 đến năm 2020.
- Phát hiện các mâu thuẫn, khoảng trống pháp luật trong quy định về thành lập, quản trị kiểm soát, cấp tín dụng và xử lý giải thể/phá sản.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp lập pháp cụ thể, có giá trị ứng dụng trực tiếp cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Hợp tác xã và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát đối với 05 nhóm nội dung pháp lý trọng yếu (mô hình, thành lập, quản trị điều hành, hoạt động, tổ chức lại/giải thể/phá sản) tại Việt Nam trong khung thời gian chủ yếu từ năm 2010 đến năm 2020. Luận án không đi sâu vào các khía cạnh kỹ thuật hạch toán kế toán hoặc các công cụ tài chính phái sinh phức tạp do tính chất hoạt động đơn giản của mô hình TCTD là HTX tại Việt Nam.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu khung pháp lý điều chỉnh hoạt động chuyển đổi số, ngân hàng số và ứng dụng công nghệ tài chính (Fintech) trong hệ thống TCTD là HTX; cơ chế liên kết quốc tế và kiểm toán độc lập chuyên biệt cho hệ thống ngân hàng hợp tác.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư): Là tài liệu tham khảo giá trị phục vụ công tác rà soát, đánh giá hiệu quả thi hành luật và hoạch định chính sách hoàn thiện khung khổ pháp lý cho hệ thống QTDND và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam.
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật hệ thống về chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Ngân hàng, phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu về thể chế kinh tế tập thể, thị trường tài chính nông thôn.
- Đối với các nhà quản trị hệ thống QTDND và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam: Cung cấp cơ sở pháp lý và giải pháp nhận diện, phòng ngừa rủi ro pháp lý trong hoạt động quản trị, điều hành và kiểm soát nội bộ tại đơn vị.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án giải quyết tranh luận lý luận về việc hợp tác xã có phải là doanh nghiệp như thế nào?
Luận án phân tích các căn cứ thực định và lý luận quốc tế (Cooperative Enterprises), phản biện quan điểm tách rời HTX khỏi doanh nghiệp. Tác giả chứng minh rằng HTX là một loại hình "doanh nghiệp đặc biệt". Mặc dù có đặc thù về mục tiêu xã hội tương trợ thành viên và áp dụng nguyên tắc bình đẳng biểu quyết (tương tự như công ty hợp danh theo Điều 176 Luật Doanh nghiệp 2014 và tổ chức bảo hiểm tương hỗ theo Nghị định 28/2005/NĐ-CP), HTX vẫn mang đầy đủ bản chất của một chủ thể kinh doanh, tổ chức kinh tế độc lập có tư cách pháp nhân.
2. Quy mô hệ thống QTDND tại thời điểm luận án nghiên cứu đạt mức nào?
Tính đến thời điểm nghiên cứu (năm 2020), hệ thống TCTD là HTX tại Việt Nam bao gồm 1.182 QTDND cơ sở với số lượng thành viên bình quân là 1.448 thành viên trên một quỹ (theo Báo cáo kết quả hoạt động năm 2020 của Hiệp hội QTDND Việt Nam).
3. Khái niệm "TCTD là HTX" trong Luật Các tổ chức tín dụng 2010 có những điểm hạn chế nào theo phân tích của tác giả?
Luận án chỉ ra ba hạn chế chính: (i) Về mặt ngôn ngữ tiếng Việt, việc dùng cụm "TCTD là HTX" mang cấu trúc của một câu hoàn chỉnh chứ không phải là danh từ/danh ngữ chuẩn; (ii) Duy trì cách định nghĩa vừa khái quát vừa liệt kê tạo kẽ hở và bất cập khi áp dụng pháp luật; (iii) Định nghĩa mới chỉ nêu hình thức tổ chức và mục tiêu hoạt động mà chưa chỉ ra được các đặc trưng cốt lõi về rủi ro, tính liên kết hệ thống và phạm vi hoạt động bị giới hạn.
4. Mô hình tổ chức hệ thống TCTD là HTX tại Việt Nam đã trải qua các giai đoạn phát triển nào?
Hệ thống trải qua ba giai đoạn: Giai đoạn 1993-2000 (thí điểm mô hình 3 cấp gồm QTDND cơ sở, QTDND khu vực, QTDND trung ương); Giai đoạn 2000-2013 (hoàn thiện mô hình với vai trò của QTDND trung ương); Giai đoạn 2013 đến nay (chuyển đổi QTDND trung ương thành Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam, xác lập mô hình 2 cấp gắn với việc củng cố mối liên kết hệ thống).
5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp pháp lý lớn nào ở Chương 3?
Luận án đề xuất 05 nhóm giải pháp: (1) Hoàn thiện pháp luật về mô hình tổ chức hệ thống; (2) Hoàn thiện quy định điều kiện, thủ tục thành lập; (3) Hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản trị, điều hành và kiểm soát; (4) Hoàn thiện quy chế hoạt động kinh doanh tiền tệ, cấp tín dụng và điều hòa vốn; (5) Hoàn thiện pháp luật về tổ chức lại, giải thể và phá sản đặc thù cho TCTD là HTX.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Pháp luật về tổ chức tín dụng là hợp tác xã" của tác giả Đỗ Mạnh Phương (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2020) là công trình nghiên cứu khoa học pháp lý toàn diện, có hệ thống về khung pháp luật điều chỉnh mô hình tín dụng tập thể tại Việt Nam. Luận án đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về bản chất doanh nghiệp đặc biệt và các nguyên tắc vận hành của TCTD là HTX, đồng thời đánh giá sâu sắc thực trạng áp dụng pháp luật trong 05 nhóm nội dung trọng yếu từ năm 1993 đến năm 2020. Các quan điểm và kiến nghị lập pháp được đề xuất trong luận án đóng góp cơ sở khoa học xác đáng cho việc hoàn thiện thể chế ngân hàng và pháp luật kinh tế tập thể tại Việt Nam.