CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế đặc biệt trong sự phát triển của kinh tế hàng hóa dịch vụ. Như một quy luật tất yếu, hoạt động kinh doanh của NHTM nói chung và hoạt động cho vay, cấp tín dụng nói riêng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất định. Rủi ro đó chính là nợ xấu của NHTM và thực trạng này đặt ra vấn đề xử lý nợ xấu của NHTM nhằm đạt được mục tiêu an toàn và hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
Để làm rõ hơn về bản chất của nợ xấu và xử lý nợ xấu tại NHTM, trước hết cần làm rõ một số vấn đề lý luận về xử lý nợ xấu và pháp luật về xử lý nợ xấu của NHTM. Những vấn đề lý luận về nợ xấu của ngân hàng thương mại. Khái niệm nợ xấu của ngân hàng thương mại. Trong khoa học kinh tế cũng như khoa học pháp lý, khái niệm nợ xấu của Ngân hàng thương mại đã được đề cập đến trong nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án … Tuy nhiên, với nhiều mức độ đề cập và nghiên cứu khác nhau cũng chưa làm rõ tạo cơ sở lý luận giải quyết vấn đề nợ xấu tại các NHTM hiện nay ở Việt Nam.
Thực tiễn hiện nay cho thấy có nhiều quan điểm khác nhau về nợ xấu nói chung và nợ xấu tại NHTM nói riêng. Bản chất của sự khác biệt này là do cách tiếp cận, góc nhìn khác nhau. Để làm rõ khái niệm trên, trước hết cần hiểu rõ khái niệm “nợ xấu” là gì? Nợ xấu thường được nhắc đến với các thuật ngữ “bad debt”, “non- performing loans” (NPL), “doubtful del debt” chỉ các khoản nợ khó đòi hoặc các khoản vay có vấn đề hoặc khoản nợ không trả được (defaulted loans) mà ngân hàng không thể thu lợi từ nó hay các khoản cho vay bắt đầu được đưa vào nợ xấu khi đã quá hạn trả nợ gốc và lãi 90 ngày trở lên [1]. Dưới góc độ kinh tế học thì nợ xấu là các khoản nợ dưới chuẩn có thể quá hạn hoặc bị nghi ngờ về khả năng thanh toán của người vay cũng như khả năng thu hồi vốn của người cho vay.
Đây là khoản nợ mà người đi vay (có thể là cá nhân hoặc pháp nhân) không thể trả cho người cho vay khi đến hạn thanh toán đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Hay cũng có thể nói nợ xấu là khoản nợ phát sinh từ các giao dịch mà con nợ (tổ chức, cá nhân) không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bên chủ nợ tại một thời điểm nhất định theo thỏa thuận được xác lập trong hợp đồng giữa các bên hoặc do pháp luật quy định và con nợ bị nghi ngờ về khả năng trả nợ. 8 Theo quan điểm của Ngân hàng thế giới (World Bank) thì “nợ xấu” là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản. Theo quan điểm này, các khoản nợ được coi là dưới chuẩn bao gồm các khoản nợ đã thỏa thuận lại như cơ cấu nợ, gia hạn nợ… hoặc bị quá hạn từ 90 đến 180 ngày và các khoản nợ bị nghi ngờ khi không chắc chắn thu hồi được toàn bộ khoản nợ dựa trên các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng, có khả năng thất thoát và đã quá hạn từ 180 đến 360 ngày [1].
Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống kê – Liên hợp quốc thì: “Về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”. Theo Ủy ban Basel về giám sát Ngân hàng (BCBS), trong các hướng dẫn về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi [5]. Theo quan điểm này, BCBS không đưa ra thời gian quá hạn chi trả mà có thể là 31 - 89 ngày, 90 - 179 ngày, hoặc trên 180 ngày như một số quốc gia trên thế giới hiện nay. Nguyên nhân mà BCBS đưa ra khi coi các khoản nợ quá hạn từ 31-89 ngày được coi là nợ xấu do một số quốc gia tuy nhiên các khoản nợ quá hạn 90 ngày trở lên được coi là nợ xấu vẫn được coi là tiêu chí phổ biến nhất ở nhiều quốc gia.
Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay mà người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ trong tương lai hoặc các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ [6]. Theo quan điểm của Ngân Hàng Thương Mại trung ương Châu Âu (European Central Bank - ECB): Nợ xấu là những khoản cho vay không có khả năng thu hồi hoặc có thể không được thu hồi đầy đủ cho NHTM. Cụ thể: (i) Những khoản cho vay không có khả năng thu hồi như: Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ người mắc nợ; người mắc nợ bỏ trốn hoặc bị mất tích; không còn tài sản để thanh toán nợ; những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ; những khoản nợ mà khách nợ châm dứt hoạt 9 động kinh doanh, thanh lý tài sản hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ. (ii) Những khoản cho vay có thể không được thu hồi đầy đủ cho ngân hàng: Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản đưa ra để thế chấp không đủ để trả nợ cho chủ nợ.
Như vậy, theo quan điểm của NHTM Trung ương Châu Âu ECB, thì nợ xấu được định nghĩa qua hai yếu tố: khoản vay không có khả năng được thu hồi, và mặc dù được thu hồi nhưng giá trị thu hồi là không đầy đủ. Quan điểm này được tiếp cận dựa trên kết quả thu hồi nợ của NHTM. Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) định nghĩa về nợ xấu thì “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ (người vay phá sản)” [13]. Với quan điểm này, nợ xấu được tiếp cận dựa trên thời gian quá hạn trả nợ và khả năng trả nợ của khách hàng.
Khả năng trả nợ của khách hàng ở đây có thể là toàn bộ số gốc và lãi hoặc một phần gốc và lãi. Định nghĩa này của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã được thừa nhận rộng rãi trên thế giới và được coi là tiêu chí phổ biến hiện nay. Theo pháp luật Việt Nam hiện nay, khái niệm nợ xấu của Ngân hàng thương mại đã được quy định tại Nghị quyết 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội và Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định “nợ xấu” là các khoản nợ thuộc nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ), nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Theo đó: - Nợ nhóm 3: thời gian quá hạn từ 90 – 180 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại.
- Nợ nhóm 4: thời gian quá hạn từ 181 – 360 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại. - Nợ nhóm 5: thời gian quá hạn trên 360 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại [36]. Từ những tiêu chí trên, nợ xấu theo quan điểm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được xác định dựa trên hai yếu tố: đã quá hạn trên 90 ngày hoặc các khoản nợ đã được cơ cấu lại thời hạn trả nợ mà khách hàng vẫn bị nghi ngờ về khả năng trả nợ. Tuy nhiên, việc các NHTM tiếp cận theo yếu tố nào là phụ thuộc vào khả năng và điều kiện tiến hành phân loại nợ.
10 Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm sau: Nợ xấu của ngân hàng thương mại là những khoản nợ khó đòi bao gồm cả nợ gốc và lãi quá hạn từ 90 ngày trở lên hoặc các khoản nợ lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập vào nợ gốc, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hay gia hạn nợ hoặc các khoản nợ chưa trả dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ việc trả nợ được thực hiện đầy đủ và đúng hạn dựa trên cơ sở hợp đồng giữa TCTD và khách hàng. Đặc điểm của nợ xấu của ngân hàng thương mại. Xuất phát từ bản chất của nợ xấu là các khoản tiền mà NHTM cho khách hàng vay nhưng khi đến kỳ hạn thu hồi nợ lại không thể đòi được do các yếu tố chủ quan từ chính phía khách hàng hoặc do các nguyên nhân khách quan bên ngoài tác động vào. Tỷ lệ nợ xấu càng cao thì mức độ rủi ro của NHTM càng lớn và hiện nay các NHTM đang áp dụng nhiều biện pháp để giảm tỷ lệ này xuống.
Mục đích của giảm tỷ lệ nợ xấu nhằm tránh thất thoát nguồn vốn và đảm bảo hoạt động kinh doanh của NHTM do ảnh hưởng đến mức trích lập dự phòng của các NHTM. Đặc điểm của nợ xấu của NHTM bao gồm: Thứ nhất, nợ xấu của NHTM thường phát sinh trong hoạt động tín dụng của NHTM, trên cơ sở hợp đồng mà ở đây là hợp đồng cấp tín dụng, một số hình thức và loại hợp đồng phổ biến như là hợp đồng đồng tín dụng, hợp đồng chiết khấu, hợp đồng bao thanh toán.