Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THƢƠNG LƢỢNG TẬP THỂ VÀ PHÁP LUẬT VỀ THƢƠNG LƢỢNG TẬP THỂ 1. Quan niệm về thƣơng lƣợng tập thể 1. Định nghĩa thương lượng tập thể Theo Từ điển tiếng Việt thì “thương lượng” là quá trình trong đó có hai hay nhiều bên có lợi ích chung và lợi ích riêng không đồng nhất cùng ngồi với nhau để thảo luận nhằm tìm kiếm một thỏa thuận chung. Theo Từ điển Luật học thì “Thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế, theo đó, các bên tự bàn bạc để thống nhất cách thức loại trừ tranh chấp mà không cần tới sự tác động hay giúp đỡ của người thứ ba”.
Theo Văn phòng Lao động quốc tế thì mặc cả là một quá trình qua đó đi tới một thỏa thuận giữa người mua và người bán về giá cả hàng hóa và dịch vụ. Trên thị trường lao động liên tục diễn ra quá trình này giữa NSDLĐ và NLĐ, nó được gọi là thương lượng [29]. Trong quan hệ lao động, thương lượng được hiểu là một quá trình thỏa thuận để đạt được sự thống nhất ý chí giữa NLĐ và NSDLĐ về việc mua bán, sử dụng hàng hóa sức lao động và giải quyết những vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động. Thương lượng trong quan hệ lao động được thực hiện giữa NLĐ và NSDLĐ, được gọi là thương lượng cá nhân về quan hệ lao động cá nhân xác lập trên cơ sở hợp đồng, hoặc thương lượng tập thể được thực hiện giữa đại diện của một số hoặc tập thể NLĐ với một số NSDLĐ hoặc đại diện của những người sử dụng lao động nhằm thống nhất về những vấn đề trong quan hệ lao động mang tính tập thể.
Từ điển Luật học đã giải thích “thương lượng tập thể là việc bàn bạc, thỏa thuận giữa đại diện của tập thể người lao động và người sử dụng lao 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động nhằm đạt tới sự thỏa thuận về nội dung của thỏa ước lao động tập thể trong doanh nghiệp”. Cách giải thích này dễ làm cho người đọc có cách hiểu không đầy đủ về chủ thể, nội dung, phạm vi của thương lượng tập thể và thương lượng tập thể chỉ diễn ra tại doanh nghiệp. Trên thế giới, thương lượng tập thể là một khái niệm mang nhiều hình thái khác nhau, không nhất thiết phải có một định nghĩa được chấp nhận trên toàn thế giới. Tuy nhiên, ILO đã cố gắng đưa ra một định nghĩa chung nhất tại Công ước số 98 về áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể, sau đó được xác định rõ ràng như một khái niệm khi Hội nghị Lao động Quốc tế năm 1981 thông qua Công ước số 154.
Tại Điều 2 Phần I Công ước 154 về xúc tiến thương lượng tập thể năm 1981 đã định nghĩa như sau: Vì mục đích của Công ước này, thuật ngữ “thương lượng tập thể” là chỉ tất cả các cuộc thương lượng, diễn ra giữa người sử dụng lao động, một nhóm người sử dụng lao động hay một hoặc nhiều tổ chức của người sử dụng lao động (giới chủ) với một hay nhiều tổ chức của người lao động nhằm: a. Xác định điều kiện làm việc và các điều khoản việc làm; b. Điều tiết các mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động; c. Điều tiết các mối quan hệ giữa người lao động hoặc tổ chức của người sử dụng lao động với một hay nhiều tổ chức của người lao động [16, Điều 2].
Theo như cách tiếp cận này của ILO thì có thể thấy khái niệm thương lượng dưới góc độ pháp lý không gắn với những thỏa thuận có tính chất cá nhân giữa NSDLĐ với NLĐ. Việc thương lượng được thực hiện giữa các đại diện của hai giới để nhằm đạt được một nội dung liên quan đến quyền, lợi ích của cả một tập thể người lao động (cao hơn một thỏa thuận lao động cá nhân, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoặc mang tính định hướng cho sự phát triển quan hệ lao động). Nội dung của thương lượng tập thể bao hàm nội dung của quan hệ lao động nhằm điều tiết mối quan hệ lao động hướng quan hệ này đi theo hướng ổn định và hài hòa về lợi ích. Bên cạnh đó, Công ước 154 đã khẳng định “tự do thương lượng tập thể” chính là quyền phải được xúc tiến thực hiện.
Đồng thời, định nghĩa này được ILO đưa ra chỉ là định nghĩa mở vì điều tiếp theo nêu “luật pháp hay thông lệ quốc gia có thể quy định”, phạm vi áp dụng của thuật ngữ “thương lượng tập thể”, vì mục đích của Công ước này, cũng có thể được mở rộng cho cả các cuộc thương lượng với “đại diện người lao động” được bầu, chứ không chỉ với các cán bộ công đoàn được ủy nhiệm [29]. Về mặt chủ thể tham gia thương lượng tập thể, hiểu theo nghĩa rộng, có một số quan điểm cho rằng thương lượng tập thể có thể xem như một hình thức đối thoại xã hội ở mức cao nhất. Theo đó khái niệm “Đối thoại xã hội” để chỉ cách thức hoạt động của “cơ chế ba bên”, là quá trình hợp tác, chia sẻ lợi ích và trách nhiệm giữa ba đối tác xã hội là Nhà nước, NLĐ và NSDLĐ. Gần đây, khái niệm này trong những trường hợp cụ thể đã được sử dụng với nghĩa rộng hơn, tức là có thêm sự tham gia rộng rãi của các đối tác xã hội khác trong những trường hợp nhất định vì mục tiêu ổn định phát triển kinh tế - xã hội.
Bên cạnh đó, theo tác giả Nguyễn Thu Ba, về cơ bản, thương lượng tập thể là một cách thức vận hành “cơ chế hai bên” được thực hiện chủ yếu bởi NSDLĐ và NLĐ, cụ thể là: Thương lượng tập thể trong quan hệ lao động còn được gọi là “tham vấn tập thể”, theo cách hiểu thông thường là quá trình một hoặc một nhóm người sử dụng lao động cùng với một hoặc nhiều tổ chức hoặc các đại diện của người lao động thảo luận và đàm phán với nhau một cách tự nguyện về các điều khoản và điều kiện việc 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com làm mà hai bên đều chấp nhận và sự thỏa thuận đó có giá trị trong một thời gian xác định [2]. Định nghĩa chính thức về thương lượng tập thể được quy định tại Điều 66 BLLĐ mà theo đó: Việc tập thể lao động thảo luận, đàm phán với người sử dụng lao động nhằm mục đích sau đây: 1. Xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ; 2. Xác lập các điều kiện lao động mới làm căn cứ để tiến hành ký kết thoả ước lao động tập thể; 3.
Giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động [24, Điều 66]. Như vậy, qua việc nghiên cứu các quan điểm khác nhau về thương lượng tập thể có thể hiểu một cách khái quát về thương lượng tập thể là quá trình thỏa thuận, đàm phán giữa đại diện NLĐ với NSDLĐ hoặc đại diện của NSDLĐ nhằm xác lập những nội dung chung liên quan đến lợi ích tập thể NLĐ và NSDLĐ trong quan hệ lao động ở các cấp độ khác nhau hoặc để giải quyết những vướng mắc, bất đồng về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Theo đó, thương lượng tập thể có một số đặc điểm sau cần lưu ý: Về chủ thể thương lượng tập thể, các bên tham gia là NSDLĐ hoặc đại diện của NSDLĐ và đại diện NLĐ do NLĐ bầu hoặc cử ra. Khi tham gia thương lượng, NLĐ sử dụng sức mạnh tập thể của mình để thương lượng với NSDLĐ qua đó hạn chế sự bất bình đẳng, đồng thời, thông qua thương lượng tập thể NLĐ và NSDLĐ sẽ tăng cường hiểu biết lẫn nhau, chia sẻ thông tin cũng như thông cảm với nhau từ đó giúp khắc phục mặt trái của cơ chế thị trường, góp phần xây dựng mối quan hệ hài hòa, ổn định.
Ngoài hai chủ thể cốt lõi như trên, thực tế nhiều quốc gia trên thế giới còn có sự xuất hiện của bên thứ ba trong quá trình thương lượng. Sự tham gia của chủ thể thứ ba này 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com do sự thỏa thuận trước của các bên hoặc theo luật định. Trong quá trình thương lượng, tại bất kỳ một cuộc họp nào, không một ai hay một tổ chức nào được phép tham dự với tư cách đại diện của cả hai bên. Mọi chủ thể phải xác định ngay từ đầu mình tham gia với tư cách là tổ chức của NLĐ hay tổ chức của NSDLĐ.
Đây là một quy tắc bất thành văn của ILO. Tùy theo loại hình, quy mô và tập quán của mỗi nước mà đại diện cho NLĐ là tổ chức công đoàn (nghiệp đoàn) hoặc các đại diện do các thành viên bầu ra. Pháp luật Việt nam cũng như pháp luật của hầu hết các nước khác đều thừa nhận tổ chức công đoàn là đại diện chính thức cho tập thể NLĐ. Về mục đích của việc tiến hành thương lượng tập thể chủ yếu là để thiết lập các thỏa thuận chung về những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ lao động.
Do đó, thương lượng tập thể hướng tới việc phòng ngừa, hạn chế hoặc trực tiếp giải quyết được các xung đột và tranh chấp trong quan hệ lao động; tôn trọng, khẳng định vị trí pháp lý của các bên; tăng hiệu quả sản xuất, kinh doanh và tính cạnh tranh trong doanh nghiệp; thiết lập quan hệ lao động hài hòa, ổn định bền vững; thúc đẩy tính dân chủ, bình đẳng, công khai của mỗi bên trong quan hệ lao động; tạo môi trường mang tính hiện đại hóa, tính bền vững và hòa nhập vào môi trường lao động quốc tế; là cơ sở để xây dựng khung pháp luật lao động hoàn thiện, đồng bộ, khoa học và mang tính khả thi cao [11]. Về phạm vi tiến hành thương lượng tập thể có thể diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau như cấp bộ phận doanh nghiệp, cấp doanh nghiệp, cấp địa phương, cấp ngành…và tương ứng với phạm vi vận dụng cơ chế thương lượng tập thể sẽ có thể hình thành các bản thỏa ước tập thể các cấp nếu quá trình thương lượng tập thể thành công. Về phương thức tiến hành thương lượng có thể được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau. Các bên có thể gặp nhau liên tục hoặc định kỳ 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hàng năm hoặc một khoảng thời gian nào đó để tiến hành thương lượng.