Luận văn về pháp luật giao kết và thực hiện hợp đồng lao động tại Công ty Cổ phần Xây dựng số 10

Luận văn phân tích pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng lao động tại công ty cổ phần xây dựng số 10, cung cấp cái nhìn thực tiễn.

Trường đại học

Trường Đại học Thương mại

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

76
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

1.1. Khái quát chung về hợp đồng lao động và giao kết, thực hiện hợp đồng lao động

1.2. Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh về giao kết và thực hiện hợp đồng lao động

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ GIAO KẾT; THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 10

2.1. Tổng quan về Công ty Cổ phần Xây dựng số 10 và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động giao kết và thực hiện hợp đồng lao động tại Công ty

2.2. Thực trạng pháp luật điều chỉnh về giao kết và thực hiện hợp đồng lao động

2.3. Thực tiễn thực hiện pháp luật điều chỉnh về giao kết và thực hiện hợp đồng lao động tại Công ty Cổ phần Xây dựng số 10

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

3.1. Phương hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng lao động

3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng lao động

3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng lao động tại Công ty Cổ phần Xây dựng số 10

3.4. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu pháp luật hợp đồng lao động tại Công ty Cổ phần Xây dựng số 10

Nghiên cứu pháp luật về hợp đồng lao động tại Công ty Cổ phần Xây dựng số 10 là một chủ đề quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Hợp đồng lao động không chỉ là văn bản pháp lý mà còn là công cụ thiết yếu để bảo vệ quyền lợi của người lao độngngười sử dụng lao động. Việc hiểu rõ các quy định pháp luật liên quan đến hợp đồng lao động sẽ giúp các bên tham gia thực hiện đúng nghĩa vụ và quyền lợi của mình.

1.1. Khái niệm và vai trò của hợp đồng lao động

Hợp đồng lao động (HĐLĐ) là thỏa thuận giữa người lao độngngười sử dụng lao động về việc làm, quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên. HĐLĐ đóng vai trò quan trọng trong việc xác lập mối quan hệ lao động, đảm bảo quyền lợi cho người lao độngngười sử dụng lao động.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu pháp luật lao động

Nghiên cứu pháp luật lao động giúp nhận diện các vấn đề pháp lý trong việc giao kết và thực hiện HĐLĐ. Điều này không chỉ giúp nâng cao nhận thức cho các bên mà còn góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật lao động tại Việt Nam.

II. Những thách thức trong việc thực hiện hợp đồng lao động tại Công ty Cổ phần Xây dựng số 10

Việc thực hiện hợp đồng lao động tại Công ty Cổ phần Xây dựng số 10 gặp phải nhiều thách thức. Các vấn đề như tranh chấp hợp đồng lao động, sự thiếu hiểu biết về quyền lợi và nghĩa vụ của người lao độngngười sử dụng lao động là những yếu tố chính dẫn đến khó khăn trong việc thực hiện hợp đồng.

2.1. Các vấn đề thường gặp trong giao kết hợp đồng

Trong quá trình giao kết hợp đồng, nhiều người lao động không nắm rõ các điều khoản, dẫn đến việc không thực hiện đúng nghĩa vụ. Điều này có thể gây ra tranh chấp hợp đồng lao động.

2.2. Thiếu sót trong thực hiện hợp đồng lao động

Nhiều công ty chưa thực hiện đầy đủ các quy định về quyền lợi của người lao động, dẫn đến sự không hài lòng và xung đột trong mối quan hệ lao động.

III. Phương pháp nghiên cứu pháp luật về hợp đồng lao động

Để nghiên cứu pháp luật về hợp đồng lao động tại Công ty Cổ phần Xây dựng số 10, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học. Việc sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh sẽ giúp làm rõ các vấn đề pháp lý liên quan đến HĐLĐ.

3.1. Phương pháp phân tích quy định pháp luật

Phân tích các quy định pháp luật hiện hành về HĐLĐ giúp nhận diện những điểm mạnh và yếu trong hệ thống pháp luật lao động.

3.2. Phương pháp khảo sát thực tiễn

Khảo sát thực tiễn tại Công ty Cổ phần Xây dựng số 10 sẽ cung cấp thông tin quý giá về việc thực hiện HĐLĐ, từ đó đưa ra các giải pháp cải thiện.

IV. Ứng dụng thực tiễn của pháp luật về hợp đồng lao động tại Công ty Cổ phần Xây dựng số 10

Việc áp dụng pháp luật về hợp đồng lao động tại Công ty Cổ phần Xây dựng số 10 đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số vấn đề cần được giải quyết để nâng cao hiệu quả thực hiện HĐLĐ.

4.1. Kết quả đạt được trong thực hiện hợp đồng lao động

Công ty đã thực hiện tốt các quy định về quyền lợi của người lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho việc làm và phát triển nghề nghiệp.

4.2. Những hạn chế trong thực tiễn áp dụng

Mặc dù có nhiều kết quả tích cực, nhưng vẫn còn tồn tại những hạn chế trong việc thực hiện HĐLĐ, như việc chưa đầy đủ thông tin về quyền lợi cho người lao động.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho nghiên cứu hợp đồng lao động

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy rằng việc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng lao động là cần thiết. Định hướng tương lai cần tập trung vào việc cải thiện quy định pháp luật và nâng cao nhận thức cho các bên liên quan.

5.1. Đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật

Cần có những điều chỉnh trong quy định pháp luật để phù hợp với thực tiễn và bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người lao động.

5.2. Tăng cường đào tạo và nâng cao nhận thức

Đào tạo cho người lao độngngười sử dụng lao động về quyền lợi và nghĩa vụ của họ sẽ giúp giảm thiểu tranh chấp hợp đồng lao động.

14/07/2025
Luận văn tmu pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng lao động thực tiễn thực hiện tại công ty cổ phần xây dựng số 10

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG 1. Khái quát chung về hợp đồng lao động và giao kết, thực hiện hợp đồng lao động 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của hợp đồng lao động Trong thực tế, hợp đồng lao động (HĐLĐ) với tư cách là hình thức pháp lý để tuyển dụng lao động (hiểu theo nghĩa bao gồm cả quá trình tuyển chọn và sử dụng lao động) thì ngoài hình thức HĐLĐ còn có hình thức tuyển dụng và biên chế nhà nước. Song, đây là hình thức tuyển dụng mang tính chất hành chính, kế hoạch hóa (theo tiêu chí biên chế), chủ yếu áp dụng với các đối tượng làm việc trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp của nhà nước (công chức), chế độ, quyền lợi của người lao động (NLĐ) được đảm bảo từ ngân sách,.

Vì vậy, nó không còn phù hợp với quan hệ lao động trong các doanh nghiệp. Do đó, chỉ có HĐLĐ mới là hình thức pháp lý phù hợp và nó còn được coi là hình thức chủ yếu để thiết lập quan hệ lao động trong các doanh nghiệp. Khái niệm của hợp đồng lao động Bộ luật Lao động là văn bản luật có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm những chế định điều chỉnh các quan hệ về lao động và các quan hệ liên quan nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của NLĐ, động lực quan trong cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong các giai đoạn. Trong hệ thống pháp luật lao động, chế định hợp đồng lao động là chế định chủ yếu, chiếm vị trí quan trọng và giữ vai trò trung tâm, điều chỉnh quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường.

Vì vậy, 10 việc thống nhất một khái niệm về HĐLĐ là rất cần thiết. Tổ chức lao động quốc tế đã ra định nghĩa về HĐLĐ có tính chất khái quát và phản ánh được bản chất của HĐLĐ nói chung. Theo đó, HĐLĐ được định nghĩa là: “Một thỏa thuận ràng buộc pháp lý giữa một người sử dụng lao động và một công nhân, trong đó xác lập các điều kiện và chế độ việc làm”. Khái niệm này có thể coi là có tính khái quát theo nghĩa đã phản ánh được bản chất của hợp đồng nói chung, phù hợp với quan niệm “hợp đồng, định nghĩa một các đơn giản nhất là những thỏa thuận có giá trị pháp lý rang buộc các bên” đồng thời xác định được bên trong HĐLĐ, một phần nội dung của quan hệ.

Nhưng nhược điểm là việc xác định một bên của quan hệ là công nhân, rõ ràng đã thu hẹp nhóm chủ thể này và chưa nêu rõ được bản chất HĐLĐ. BLLĐ được Quốc hội nước ta thông qua ngày 23/06/1994 và có hiệu lực từ ngày 01/01/1995 (được sửa đổi, bổ sung ngày 02/04/2002 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2003) là cơ sở pháp lý điều chỉnh các quan hệ lao động (QHLĐ), trong đó đã định nghĩa HĐLĐ như sau: “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuân giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động”. Cách tiếp cận về HĐLĐ như trên là khá đầy đủ và chi tiết. Sau 20 năm thi hành, BLLĐ hiện hành cơ bản đã đi vào thực tiễn cuộc sống, tạo hành lang pháp lý cho các chủ thể thiết lập QHLĐ.

Tuy nhiên đến nay, tình hình kinh tế - xã hội của đất nước nói chung, của thị trường lao động, QHLĐ nói riêng đã có những đổi mới đòi hỏi BLLĐ cần phải được sửa đổi bổ sung thêm. BLLĐ năm 2012 đưa ra khái niệm về HĐLĐ như sau: “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người 11 lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động”. Cũng giống như khái niệm về HĐLĐ trong BLLĐ năm 1994 sửa đổi, khái niệm này cũng chỉ ra được chủ thể và nội dung của HĐLĐ. Tuy nhiên, khái niệm HĐLĐ của BLLĐ 2012 thể hiện tính khái quát hơn và phản ánh được bản chất của HĐLĐ, các yếu tố cơ bản cấu thành nên HĐLĐ.

Có thể thấy, khai niệm về HĐLĐ trong thực tế có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Nhưng nói chung, giữa các khai niệm này đều ít nhiều có điểm tương đồng. Đó là sự thống nhất ý chí của các bên về nội dung của hợp đồng mà các bên muốn đạt được. Đây là loại quan hệ lao động tiêu biểu và cũng là hình thức sử dụng lao động phổ biến trong nền kinh tế thị trường.

Đặc điểm của hợp đồng lao động HĐLĐ mang những đặc điểm nói chung của hợp đồng đó là sự tự do, tự nguyện và bình đẳng của các chủ thể trong quan hệ. Song, với tư cách là hình thức pháp lý của quá trình trao đổi, mua bán một loại hàng hóa đặc biệt - hàng hóa sức lao động, đặc trưng của HĐLĐ có thể được xem xét ở những nội dung sau: Một là, HĐLĐ tạo ra sự phụ thuộc pháp lý của NLĐ và người sử dụng lao động (NSDLĐ). Có thể coi đây là đặc trưng cơ bản, tiêu biểu nhất để phân biệt HĐLĐ với hợp đồng dân sự, thương mại. Trong quá trình thực hiện HĐLĐ, NSDLĐ có quyền ra các mệnh lệnh, chỉ thị, còn NLĐ có nghĩa vụ thực hiện.

Quyền năng này được pháp luật công nhận và trao cho NSDLĐ và quyền này là quyền đặc thù của NSDLĐ trong quan hệ pháp luật lao động. Ngoài ra, NSDLĐ là người bỏ ra tài sản để kinh doanh, vì vậy họ có quyền quản lý, phân công sắp xếp NLĐ một cách khoa học, hợp lý để khai 12 thác triệt để năng lực của NLĐ mang lại nhiều giá trị vật chất cho mình nhằm hướng tới tối đa hóa quyền sở hữu đối với tài sản. Hai là, HĐLĐ được thực hiện liên tục trong thời gian nhất định hay vô hạn định. Thời gian của HĐLĐ có thể được xác lập từ ngày có hiệu lực đến một thời điểm nào đó song cũng có thể không xác định trước thời hạn kết thúc.

Theo quy định hiện hành, có ba loại HĐLĐ đó là không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn và HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng. Việc lựa chọn loại HĐLĐ để ký kết phải dựa trên tính chất, đặc thù của từng loại công việc. Ba là, Sự thỏa thuận của các bên trong HĐLĐ thường bị khống chế bời những giới hạn pháp lý nhất định. Trong tất cả các quan hệ hợp đồng, sự thỏa thuận của các bên phải luôn đảm bảo các nguyễn tắc chung đó là bình đẳng, tự do, không trái pháp luật.

Trong quan hệ HĐLĐ, các bên tham gia cũng phải đảm bảo và tuân thủ nguyên tắc chung này. Ngoài ra, HĐLĐ còn luôn bị chi phối bởi nguyên tắc quyền lợi của NLĐ là tối đa và nghĩa vụ là tối thiểu. Tóm lại, trong quan hệ HĐLĐ, các bên có quyền tự do thỏa thuận nhưng sự thỏa thuận đó phải tuân thủ quy định pháp luật và phải theo hường có lợi cho NLĐ. Bời lẽ, một bên của HĐLĐ là NLĐ luôn cần được bảo vệ để duy trì và phát triền sức lao động, tránh các trường hợp NLĐ vì gặp khó khăn mà phải chấp nhận các điều khoản bất lợi do NSDLĐ đưa ra.

Bốn là, HĐLĐ do đích danh NLĐ thực hiện, NLĐ phải trực tiếp thực hiện công việc vủa mình mà không được tự ý chuyển giao cho người khác mà không được sự đồng ý của NSDLĐ. Đây cũng là một đặc điểm nổi bật chỉ có ở quan hệ pháp luật HĐLĐ mà không có trong các quan hệ dân sự hay trong hợp đồng thương mại, người ký hợp đồng có thể ủy quyền hoặc thuê người khác thực hiện, đảm bảo đúng nghĩa vụ 13 hai bên đã thỏa thuận.NSDLĐ không chỉ quan tâm đến trình độ chuyên môn của NLĐ mà còn quan tâm đến đạo đức, ý thức, phẩm chất,. tức nhân cách của NLĐ. Mà những yếu tố này tồn tại ở mỗi NLĐ là khác nhau.

Chính vì vậy, NLĐ phải đích danh thực hiện công việc của mình mà không được tự ý chuyển giao cho người khác. Mặc dù vây, theo quy định tại khoản 4 Điều 30 BLLĐ năm 1994 sửa đổi, NLĐ cũng có thể dịch chuyển nghĩa vụ lao động của mình cho người khác nếu được sự đồng ý của NSDLĐ. Tuy nhiên, theo BLLĐ năm 2012 thì công việc theo HĐLĐ phải do NLĐ thực hiện. BLLĐ mới không đề cập đến vấn đề NLĐ có thể dịch chuyển công việc của mình cho người khác khi được sự đồng ý của NSDLĐ.

Năm là, Đối tượng HĐLĐ là việc làm có trả công. HĐLĐ cũng là một loại quan hệ mua bán nhưng khác với quan hệ mua bán khác, đối tượng của HĐLĐ không phải là hàng hóa bình thường mà là một loại hàng hóa đặc biệt luôn tồn tại và gắn với cơ thể NLĐ - hàng hóa sức lao động. Vì vậy, khi NSDLĐ mua hàng hóa sức lao động tức là họ được sở hữu một quá trình lao động mà biểu hiện thông qua thời gian làm việc, trình độ chuyên môn, ý thức kỷ luật,.Việc xác định đối tượng của HĐLĐ là việc làm có trả công không chỉ có ý nghĩa trong việc đưa ra căn cứ để phân biệt HĐLĐ với các hợp đồng khác có nội dung tương tự mà còn có ý nghĩa với chính QHLĐ, chẳng hạn ở khía cạnh xác định chủ thể trong QHPL. Vai trò của hợp đồng lao động - HĐLĐ là hình thức, căn cứ pháp lý chủ yếu làm phát sinh, thay đổi và chấm dứt quan hệ PLLĐ trong DN.

Mối quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ được điều chỉnh chủ yếu thông qua HĐLĐ. Chế độ ký kết HĐLĐ được áp dụng rộng rãi trong mọi thành phần kinh tế. Hình thức pháp lý chủ yếu làm phát sinh QHPL ngày nay chính là HĐLĐ. 14 - Nội dung của HĐLĐ liên quan đến hầu hết các chế định của BLLĐ và là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.

Thông thường, trong một bản HĐLĐ phải có những nội dung chủ yếu như: công việc phải làm, thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, tiền lương, thời hạn hợp đồng,. Nội dung của HĐLĐ trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến hầu hết các chế định của PLLĐ. Hơn nữa, khi xảy ra tranh chấp lao động cá nhân thì nội dung trong HĐLĐ sẽ là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền giải quyết. - HĐLĐ là công cụ pháp lý hữu hiệu để Nhà nước quản lý lao động.

Việc ký kết một HĐLĐ cụ thể là công việc của từng NLĐ và NSDLĐ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu pháp luật về hợp đồng lao động tại Công ty Cổ phần Xây dựng số 10" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp luật liên quan đến hợp đồng lao động, cũng như thực tiễn áp dụng tại một công ty cụ thể. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng lao động, mà còn chỉ ra những thách thức và giải pháp trong việc thực hiện các quy định này.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về hợp đồng lao động và thực tiễn thực hiện tại công ty cổ phần bmsgroup global thành phố hà nội, nơi cung cấp cái nhìn tổng quát về hợp đồng lao động trong một công ty khác. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về hợp đồng lao động và thực tiễn thực hiện tại ngân hàng agribank hòa bình cũng là một nguồn tài liệu quý giá cho những ai muốn tìm hiểu thêm về thực tiễn áp dụng trong lĩnh vực ngân hàng. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo Luận văn tốt nghiệp giao kết và thực hiện hợp đồng lao động tại công ty cổ phần thương mại và dịch vụ kỹ thuật việt trường thành để có cái nhìn sâu hơn về quy trình giao kết hợp đồng lao động trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và có cái nhìn toàn diện hơn về pháp luật lao động tại Việt Nam.