Luận án tiến sĩ về pháp luật cho thuê lại lao động ở Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Luận án tiến sĩ pháp luật về cho thuê lại lao động ở Việt Nam phân tích lý luận và thực tiễn, cung cấp cái nhìn sâu sắc về vấn đề này.

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

206
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu pháp luật cho thuê lại lao động tại Việt Nam

Nghiên cứu pháp luật về cho thuê lại lao động tại Việt Nam là một lĩnh vực đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và chuyên gia. Hoạt động này không chỉ giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí nhân sự mà còn tạo ra cơ hội việc làm cho nhiều người lao động. Tuy nhiên, việc áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này vẫn còn nhiều thách thức. Bài viết sẽ phân tích các khía cạnh lý luận và thực tiễn của pháp luật về cho thuê lại lao động.

1.1. Khái niệm và vai trò của cho thuê lại lao động

Cho thuê lại lao động là hình thức mà một doanh nghiệp cung cấp lao động cho một doanh nghiệp khác. Hình thức này giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí và tăng cường tính linh hoạt trong quản lý nhân sự. Theo Bộ luật Lao động, hoạt động này được quy định rõ ràng nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động.

1.2. Lịch sử phát triển pháp luật về cho thuê lại lao động tại Việt Nam

Pháp luật về cho thuê lại lao động tại Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể từ khi Bộ luật Lao động năm 2012 được ban hành. Các quy định đã được cập nhật và sửa đổi để phù hợp với thực tiễn và xu hướng toàn cầu. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết để đảm bảo quyền lợi cho người lao động.

II. Những thách thức trong việc áp dụng pháp luật về cho thuê lại lao động

Mặc dù pháp luật về cho thuê lại lao động đã được quy định, nhưng việc thực hiện vẫn gặp nhiều khó khăn. Các doanh nghiệp thường gặp phải những vấn đề liên quan đến việc xác định quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Điều này dẫn đến nhiều tranh chấp và khó khăn trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động.

2.1. Vấn đề về quyền lợi của người lao động

Người lao động trong quan hệ cho thuê lại lao động thường không được đảm bảo quyền lợi như những người lao động trực tiếp. Điều này gây ra sự bất bình đẳng và ảnh hưởng đến động lực làm việc của họ. Cần có các quy định rõ ràng hơn để bảo vệ quyền lợi của người lao động.

2.2. Trách nhiệm của bên cho thuê và bên sử dụng lao động

Trách nhiệm của bên cho thuê và bên sử dụng lao động trong hợp đồng cho thuê lại lao động cần được quy định rõ ràng. Việc thiếu sót trong quy định này có thể dẫn đến những tranh chấp không đáng có và ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động.

III. Phương pháp cải thiện pháp luật về cho thuê lại lao động

Để cải thiện pháp luật về cho thuê lại lao động, cần có những giải pháp đồng bộ từ việc hoàn thiện quy định pháp luật đến việc nâng cao nhận thức của các bên liên quan. Các doanh nghiệp cần được hướng dẫn rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ này.

3.1. Hoàn thiện quy định pháp luật

Cần xem xét và sửa đổi các quy định hiện hành để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong việc thực hiện. Các quy định cần phải rõ ràng và cụ thể hơn để tránh những hiểu lầm và tranh chấp trong thực tiễn.

3.2. Tăng cường đào tạo và hướng dẫn cho doanh nghiệp

Doanh nghiệp cần được đào tạo về các quy định pháp luật liên quan đến cho thuê lại lao động. Việc này không chỉ giúp họ hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình mà còn giúp bảo vệ quyền lợi của người lao động.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về cho thuê lại lao động

Nghiên cứu về cho thuê lại lao động đã chỉ ra rằng hoạt động này có thể mang lại nhiều lợi ích cho cả doanh nghiệp và người lao động. Tuy nhiên, để đạt được điều này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và doanh nghiệp trong việc thực hiện các quy định pháp luật.

4.1. Kết quả thực tiễn từ các doanh nghiệp

Nhiều doanh nghiệp đã áp dụng hình thức cho thuê lại lao động thành công, giúp họ tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều doanh nghiệp chưa nắm rõ các quy định pháp luật, dẫn đến việc vi phạm quyền lợi của người lao động.

4.2. Các mô hình thành công trong cho thuê lại lao động

Một số mô hình cho thuê lại lao động thành công đã được triển khai tại Việt Nam, giúp tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động. Những mô hình này cần được nhân rộng và áp dụng rộng rãi hơn trong tương lai.

V. Kết luận và tương lai của pháp luật về cho thuê lại lao động tại Việt Nam

Pháp luật về cho thuê lại lao động tại Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện. Cần có những nghiên cứu sâu hơn để đảm bảo quyền lợi cho người lao động và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp. Tương lai của hoạt động này phụ thuộc vào sự hợp tác giữa các bên liên quan trong việc thực hiện các quy định pháp luật.

5.1. Định hướng phát triển pháp luật trong tương lai

Cần có những định hướng rõ ràng trong việc phát triển pháp luật về cho thuê lại lao động để phù hợp với xu hướng toàn cầu và nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động.

5.2. Tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi người lao động

Bảo vệ quyền lợi của người lao động trong quan hệ cho thuê lại lao động là một yếu tố quan trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững của thị trường lao động tại Việt Nam.

24/07/2025
Luận án tiến sĩ pháp luật về cho thuê lại lao động ở việt nam những vấn đề lý luận và thực tiễn

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài Luận án CTLLĐ là vấn đề đặc thù của quan hệ việc làm và là thực tiễn mới gần đây của thị trường lao động không những ở Việt Nam mà còn trên phạm vi toàn cầu, nên là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều các công trình nghiên cứu khác nhau. Nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu về chủ đề CTLLĐ, pháp luật CTLLĐ, tác giả Luận án sắp xếp thành 03 nhóm để và đánh giá tình hình nghiên cứu: (1) Các nghiên cứu về lý luận CTLLĐ và pháp luật CTLLĐ; (2) Các nghiên cứu về thực trạng CTLLĐ và điều chỉnh pháp luật đối với CTLLĐ; (3) Các nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật CTLLĐ. Các nghiên cứu về lý luận cho thuê lại lao động và pháp luật cho thuê lại lao động (1) Sách.

- Có một cuốn sách chuyên khảo riêng về chủ đề này ở Việt Nam đến thời điểm này là "Tài liệu nghiên cứu CTLLĐ" do Nhà xuất bản Lao động - Xã hội phát hành năm 2011 gồm 447 trang. Đây là ấn phẩm được xuất bản với mục đích cung cấp thông tin tham khảo trong quá trình soạn thảo BLLĐ (sửa đổi) năm 2012, với 9 bài viết nghiên cứu và lược in nội dung Luật của Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc về CTLLĐ. Nội dung của cuốn sách đề cập đến: (i) Nguồn gốc hình thành CTLLĐ trên thế giới, quan điểm của ILO và kinh nghiệm xây dựng pháp luật điều chỉnh một số quốc gia về CTLLĐ; (ii) Một số vấn đề lý luận, nội dung pháp luật, kinh nghiệm xây dựng pháp luật qua các thời kỳ của Nhật Bản, Hàn Quốc về CTLLĐ; (iii) Thực tiễn hoạt động CTLLĐ của Việt Nam 18 trong bối cảnh chưa có pháp luật điều chỉnh và sự cần thiết phải có pháp luật điều chỉnh hoạt động này trong bối cảnh sửa đổi BLLLĐ. Các nội dung cuốn sách, đặc biệt là các nghiên cứu của chuyên gia ILO, chuyên gia Hàn Quốc, Nhật Bản về những vấn đề lý luận CTLLĐ (khái niệm CTLLĐ và sự phân định CTLLĐ với các hoạt động cung ứng dịch vụ hoặc khoán việc), sẽ được Luận án tham khảo, kế thừa để làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về CTLLĐ.

Các kinh nghiệm, bài học rút ra trong từng giai đoạn xây dựng pháp luật của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và các kiến nghị nội dung pháp lý về CTLLĐ cũng sẽ được Luận án kế thừa để phân tích cơ sở lý luận về pháp luật CTLLĐ và đề xuất hoàn thiện pháp luật về CTLLĐ ở Việt Nam. - Một số quyển sách của Văn phòng ILO tại Hà nội đã xuất bản những năm qua, có nội dung và thời lượng tương đối ít đề cập đến CTLLĐ trong cụm chủ đề nội dung lớn hơn như: “Hướng dẫn cho các cơ quan việc làm tư nhân - Quy chế giám sát và thực thi” của ILO; "Quan hệ việc làm: Tài liệu hướng dẫn Khuyến nghị số 198 của Tổ chức Lao động quốc tế" xuất bản năm 2011. Nội dung các tài liệu này đề cập đến: (i) CTLLĐ như là một quan hệ việc làm đặc thù, khác với quan hệ việc làm thông thường là có sự tham gia của nhiều bên; (ii) CTLLĐ là một nhiệm vụ mà không cơ quan việc làm công nào được thực hiện, chỉ cơ quan việc làm tư nhân được thực hiện; (iii) Nêu quan điểm ILO với các quốc gia thành viên là "Chính sách quốc gia ít nhất phải bao gồm các nội dung và biện pháp nhằm: bảo đảm các tiêu chuẩn áp dụng được với tất cả các hình thức thỏa thuận mang tính hợp đồng, bao gồm cả những thỏa thuận liên quan tới nhiều bên, để NLĐ có được sự bảo vệ thích đáng"; (iv) Nêu một số điển hình tốt của một số quốc gia trong việc đưa ra các nguyên tắc bảo vệ NLĐ làm việc theo hình thức CTLLĐ với 2 nguyên tắc rất quan trọng là: (1) Đối xử bình đẳng giữa NLĐ thuê lại và NLĐ chính thức của bên thuê lại lao động, và (2) Trách nhiệm liên đới và trách nhiệm của từng bên trong bảo vệ quyền lợi tại nơi 19 làm việc của NLĐ thuê lại. Nội dung các tài liệu này, sẽ được Luận án kế thừa để làm sáng tỏ thêm vấn đề lý luận CTLLĐ và nội dung pháp luật cần có để điều chỉnh hoạt động CTLLĐ.

- Ở nước ngoài, trong phạm vi tiếp cận được, tác giả Luận án có nghiên cứu một số cuốn sách sau đây: Sách "Temporary Work: The Gendered Rise of a Precarious Employment Relationship" (Tạm dịch là "CTLLĐ: Sự trỗi dậy giới tính của một mối quan hệ việc làm nguy hiểm") của tác giả Leah F. Vosko với 400 trang được xuất bản tại Đại học Toronto năm 2000. Đây là cuốn sách đầu tiên, phân tích sâu về CTLLĐ ở Canada dưới lăng kính giới tính. Cuốn sách xem xét một số xu hướng quan trọng, bao gồm: sức lao động là hàng hóa; sự suy giảm của công việc toàn thời gian, cả năm như là một tiêu chuẩn trong bối cảnh mới; và đặc điểm giới tính của các mối quan hệ việc làm này.

Theo tác giả cuốn sách, dù hình thành trong khoảng thời gian từ cuối thế kỷ 19 đến cuối thế kỷ 20 nhưng đến nay CTLLĐ đã phát triển và đang trở thành tiêu chuẩn cho một nhóm NLĐ trên thị trường lao động; nhấn mạnh bản chất công việc, hình thức việc làm đang thay đổi (sự lan rộng của các hình thức việc làm phi tiêu chuẩn); sự gia tăng tham gia của phụ nữ vào lực lượng lao động làm công việc tạm thời) và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện chính sách lao động theo xu hướng bảo vệ lao động nữ trong quan hệ việc làm tạm thời này. Kết quả nghiên cứu của cuốn sách này, nhất là xu hướng trỗi dậy mới về hình thức việc làm tạm thời (sự tham gia ngày càng đông hơn của lực lượng lao động nữ) và kết luận, khuyến nghị chính sách bảo đảm bình đẳng giới trong quan hệ CTLLĐ sẽ được tác giả Luận án kế thừa trong phần lý luận và kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Sách "Temporary Agency Work and Globalisation: Beyond Flexibility and Inequality" (Tạm dịch: "Cho thuê lại lao động và Toàn cầu hóa: Vượt khỏi Sự linh hoạt và Bất bình đẳng") của tác giả Huiyan Fu - giảng viên chính Trường Đại học Regent London, Anh -, do Gower Publishing 20 company phát hành tại Anh và Mỹ năm 2015, gồm 211 trang 3. Nội dung cuốn sách đề cập đến: (i) CTLLĐ ngày càng phát triển trong thế giới việc làm ngày nay, như là một phần tất yếu của quá trình toàn cầu hóa.

CTLLĐ được đặc trưng bởi một cấu trúc quan hệ việc làm tam giác; là ngành nghề kinh doanh phát triển với tư cách là một ngành công nghiệp mới được thể chế hóa trong pháp luật các quốc gia, với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng trong những thập kỷ gần đây trên nhiều vùng rộng lớn trên toàn cầu; (ii) Về cơ bản, CTLLĐ là một phần của quá trình chuyển đổi cơ cấu rộng rãi về công việc và việc làm theo chủ nghĩa tự do kiểu mới, là lĩnh vực mẫu mực để xem xét chủ nghĩa tư bản 'linh hoạt' ngày nay với tồn tại tất yếu là "bất bình đẳng"; (iii) Bằng cách kết hợp giữa nguồn nhân lực toàn cầu với địa phương, phân tích vĩ mô và vi mô, lý thuyết và điều tra thực tiễn, cuốn sách đã đưa ra một cái nhìn tổng thể, tươi mới về sự linh hoạt và bất bình đẳng về lao động đối với hoạt động CTLLĐ, góp phần đưa ra các hành động thực tế và điều kiện thúc đẩy hợp tác xuyên quốc gia có hiệu quả về CTLLĐ. Nội dung cuốn sách này rất hữu ích về lý luận CTLLĐ trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự thừa nhận của CTLLĐ trong bối cảnh toàn cầu hòa và các khuyến nghị chính sách nêu trong sách sẽ được Luận án kế thừa, làm giàu thêm lý luận về khái niệm CTLLĐ, sự hình thành, bản chất và ý nghĩa của CTLLĐ trong thế giới việc làm của thị trường lao động. Sách "Outsourcing Economics: Global Value Chains in Capitalist Development" (Tạm dịch: "Kinh tế thuê ngoài: Chuỗi giá trị toàn cầu trong sự phát triển của chủ nghĩa tư bản"), của tác giả William Milberg - Trưởng khoa, Giáo sư kinh tế - và Deborah Winkler do Đại học Cambridge phát hành năm 2013, gồm 380 trang 4. Nội dung cuốn sách bàn về hiện tượng, xu hướng và hiệu quả kinh tế của việc thuê ngoài trong nền kinh tế.

Theo đó, toàn cầu hóa như là một hiện tượng thuần túy của kinh tế thị trường. Thị trường được bao hàm trong một tập hợp về thể chế, lao động, chính phủ, doanh nghiệp - và kinh tế chia sẻ tạo ra sự bất cân xứng về quyền lực 21 làm ảnh hưởng đến phân phối lợi nhuận từ toàn cầu hóa. Việc thuê ngoài cho phép các doanh nghiệp giảm đầu tư trong nước, tập trung vào tài chính và chuyển đổi cổ phiếu ngắn hạn nên đã làm giảm việc làm trong nước và tăng bất bình đẳng thu nhập ở các quốc gia thiếu các tổ chức hỗ trợ NLĐ. Mặc dù "kinh tế thuê ngoài" được có tác dụng nâng cao hiệu quả trong chuỗi giá trị toàn cầu, nhưng chưa đủ để cải thiện mức lương hoặc tiêu chuẩn lao động.

Cuốn sách cũng đề xuất khung lý thuyết về thương mại và phát triển trong kinh tế thuê ngoài theo quan điểm của các tác giả. Nội dung của cuốn sách, sẽ được Luận án kế thừa để làm sáng tỏ thêm về: sự hình thành của hoạt động CTLLĐ; bản chất, ý nghĩa, vai trò và sự "nở rộ" của CTLLĐ trong nền kinh tế thị trường có liên hệ đến thực tế số liệu các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay (với đa số doanh nghiệp thâm dụng lao động hoạt động lắp ráp, gia công, dệt may, da giày, thủy sản) để đề xuất giải pháp tạo lập hành lang pháp lý hỗ trợ các tổ chức hỗ trợ NLĐ thuê lại. (2) Đề tài nghiên cứu khoa học Đề tài nghiên cứu khoa học của Bộ LĐTBXH năm 2010, "Thực trạng và giải pháp đối với hoạt động CTLLĐ ở Việt Nam" (Cử nhân Đặng Đức San và Thạc sĩ Mai Đức Thiện là Ban chủ nhiệm) và Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường của Đại học Luật Hà nội năm 2011 “CTLLĐ - một hướng điều chỉnh của pháp luật lao động Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” (TS. Nguyễn Xuân Thu làm chủ nhiệm đề tài, mã số LH2011-05/ĐHL-HN).

Đây là 2 công trình nghiên cứu khoa học trong bối cảnh soạn thảo BLLĐ năm 2012.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ