Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nấm rễ nội cộng sinh (Arbuscular Mycorrhizal - AM) là nhóm vi sinh vật đất có vai trò thiết yếu trong việc hỗ trợ hệ thống rễ thực vật hấp thu nước và các khoáng chất khó tan (đặc biệt là phospho), đồng thời tăng cường khả năng chống chịu stress phi sinh học (khô hạn, độ mặn) và hạn chế áp lực từ các sinh vật gây bệnh vùng rễ như tuyến trùng và nấm hại. Nhóm cây họ Cà (Solanaceae), đặc biệt là cây cà chua (Solanum lycopersicum L.) và ớt (Capsicum annuum L.), đóng vai trò nông sản chủ lực với sản lượng và diện tích canh tác lớn trên toàn cầu. Tuy nhiên, áp lực độc canh và thâm canh liên tục đã làm tích lũy mầm bệnh trong đất, suy giảm độ phì nhiêu và ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cũng như chất lượng cây trồng.

Để giải quyết vấn đề trên theo hướng sinh học bền vững, đề tài “Phân lập nấm rễ nội cộng sinh (Arbuscular Mycorrhizal) từ đất trồng cây họ cà và xác định cây kí chủ nhân nuôi phù hợp” được thực hiện nhằm khai thác nguồn vi sinh vật bản địa và xây dựng quy trình nhân nuôi sinh khối nấm rễ.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể:

  1. Đánh giá khả năng phân lập và định danh các loài nấm rễ nội cộng sinh từ mẫu đất vùng rễ cây họ cà thu thập tại thực địa.
  2. Khảo sát khả năng nhân nuôi và phát triển sinh khối của một số loài nấm rễ AM (Gigaspora sp. bản địa và Rhizophagus irregularis) trên các cây ký chủ khác nhau (bắp, lúa, cà chua) ở các mật độ chủng và khoảng thời gian nuôi cấy khác nhau.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nấm rễ nội cộng sinh AM phân lập từ đất vùng rễ cây họ cà (giống cà chua Rita, 50 - 65 ngày tuổi); mẫu nấm chuẩn Rhizophagus irregularis; các cây ký chủ gồm bắp (ngô F1), lúa và cà chua.
  • Phạm vi không gian: Mẫu đất được thu thập tại 5 ruộng thuộc 3 huyện của tỉnh Lâm Đồng. Các thí nghiệm phân lập, định danh và nhân sinh khối được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Bảo vệ Thực vật và Trại thực nghiệm Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 08/2022 đến tháng 02/2023.
  • Giới hạn đề tài: Giới hạn thu mẫu đất vùng rễ cây họ cà tại địa bàn tỉnh Lâm Đồng và phương pháp định danh dựa trên đặc điểm hình thái học của bào tử theo khóa phân loại quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và phân loại học

Nấm rễ nội cộng sinh AM thuộc ngành Glomeromycota, gồm 4 bộ, 8 họ, 10 chi và khoảng 150 loài được ghi nhận (phổ biến gồm Glomus, Gigaspora, Acaulospora, Scutellospora, Rhizophagus, Paraglomus, Cetraspora, Archaeospora). Cấu trúc cộng sinh trong rễ thực vật bao gồm:

  • Sợi nấm (Hyphae): Sợi nội bào và ngoại bào, đường kính biến thiên từ 2 - 30 µm, tạo mạng lưới hấp thu khoáng chất ngoài vùng kiệt rễ.
  • Bụi (Arbuscules): Cấu trúc phân nhánh dạng chùm cây nhỏ trong tế bào vỏ rễ, là vị trí trung tâm trao đổi chất dinh dưỡng (nấm cung cấp phospho, khoáng chất; cây chủ cung cấp đường và lipid).
  • Túi (Vesicles): Chỗ phình của sợi nấm chứa khoảng 58,2% lipid khối lượng khô, đóng vai trò tích lũy dinh dưỡng và bảo tồn cấu trúc (không xuất hiện ở chi Gigaspora và Scutellospora).
  • Tế bào phụ trợ (Auxiliary cells): Cấu trúc túi ngoài rễ, có gai (đặc trưng của Gigaspora) hoặc trơn nhẵn (ở Scutellospora).
  • Bào tử (Spores): Cơ quan sinh sản vô tính có vách dày nhiều lớp, màu sắc từ trong suốt, vàng, nâu nhạt đến nâu đen, đóng vai trò phân loại hình thái.

Tài liệu khóa phân loại được sử dụng gồm: Gerdemann (1963), Walker & Sanders (1986), Walker & Schüßler (2010), Morton & Redecker (2001, 2006), Schenck & Pérez (1990) và hệ thống phân loại của Bảo tàng Nấm Mycorrhiza Quốc tế (INVAM - Đại học West Virginia).

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Hạng mục Quy trình và thông số kỹ thuật thực hiện
Thu thập mẫu đất Gạt bỏ 3 cm tầng đất mặt; lấy mẫu đất vùng rễ ở độ sâu 3 - 15 cm, cách gốc 10 cm (khoảng 500 g/mẫu); phơi khô tự nhiên trong bóng mát, bảo quản kín ở 2 - 5°C tối thiểu 4 ngày trước khi xử lý.
Tách chiết bào tử Phương pháp sàng ướt qua hệ thống rây kích thước 1000 µm, 250 µm, 32 µm và 25 µm; kết hợp ly tâm phân đoạn tỷ trọng trong dung dịch đường sucrose 50% ở tốc độ 2500 vòng/phút trong 5 phút. Tách đơn bào tử bằng pipet Pasteur dưới kính hiển vi quang học.
Nhuộm và phân tích hình thái Sử dụng dung dịch PVLG (100 mL nước cất + 100 mL acid lactic + 10 mL glycerol + 16,6 g polyvinyl alcohol) và thuốc thử Melzer (100 mL nước cất + 100 g chloral hydrat + 1,5 g iodine + 5 g potassium iodide). Tiêu bản được ép vỡ có kiểm soát và quan sát dưới vật kính 40X. Nhuộm rễ kiểm tra xâm nhiễm bằng Trypan blue 0,05% và KOH 10%.
Bố trí thí nghiệm nhân nuôi in vivo Giá thể cát và xơ dừa (tỷ lệ 5 cát : 1 xơ dừa), khử trùng bằng nồi hấp 2 lần/ngày liên tục 3 ngày. Chậu nhựa kích thước đáy lớn R = 30 cm, đáy bé r = 20 cm, cao h = 20 cm. Hạt giống bắp, lúa, cà chua được khử trùng bề mặt bằng Ethanol 70% và nước cất vô trùng.
Thiết kế nghiệm thức Thí nghiệm 2 yếu tố: Yếu tố A (Loại cây ký chủ: Bắp, Lúa, Cà chua); Yếu tố B (Mật độ chủng: ĐC - 0 bào tử, NT1 - 5 bào tử, NT2 - 10 bào tử, NT3 - 15 bào tử/chậu). Mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần (3 chậu/lần lặp lại), duy trì chế độ thiếu dinh dưỡng.
Thu thập và xử lý số liệu Đếm số lượng bào tử trong 100 g giá thể sau 1, 2 và 4 tháng nhân nuôi. Số liệu được tổng hợp trên Microsoft Excel 2010 và phân tích phương sai (ANOVA) bằng phần mềm SAS 9.0.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp các công trình nghiên cứu về phân loại học, cấu trúc chức năng và sinh thái học của nấm rễ nội cộng sinh AM:

  • Tổng quan đặc điểm thực vật học của họ Cà (Solanaceae), trọng tâm là cây cà chua (Solanum lycopersicum L.) với sản lượng toàn cầu 186 triệu tấn trên diện tích 5.983 nghìn ha và cây ớt (Capsicum annuum L.) với 36 triệu tấn trên diện tích 2.990 nghìn ha (theo số liệu FAO, 2020).
  • Hệ thống hóa các dạng cộng sinh: Ngoại cộng sinh (Ectomycorrhizal), nội cộng sinh (Endomycorrhizal gồm các nhóm Monotropoid, Orchid, Arbutoid, Ericoid, Arbuscular) và nội-ngoại cộng sinh (Ectendomycorrhizal).
  • Mô tả chi tiết cơ chế nảy mầm của bào tử, sự hình thành giác bám (appressorium), xâm nhập vách tế bào biểu bì rễ, phát triển hệ sợi nội bào và bụi trao đổi chất. Tổng hợp bảng phân loại hình thái bào tử của 15 loài thuộc các chi Glomus, Acaulospora, Entrophospora, Sclerocystis, Glomites và Gigaspora theo phân loại của Gerdemann (1963).
  • Điểm luận các nghiên cứu trong nước (Trần Thị Dạ Thảo 2012, Trần Thị Như Hằng 2012, Đỗ Thị Xuân 2016, Lưu Thị Dung 2018, Nguyễn Vũ Phong 2021) và quốc tế (Vos 2011, Wimaralathne 2014, Eke 2016) về tính đa dạng loài và hiệu quả sinh học của AM trong việc cải thiện sinh khối và ức chế nấm bệnh (Fusarium solani f. sp. phaseoli).

Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Trình bày toàn bộ thiết kế thực nghiệm, thiết bị, quy chuẩn vật liệu và các bước tiến hành:

  • Tiêu chuẩn mẫu đất thu thập tại 5 điểm ruộng thuộc tỉnh Lâm Đồng trên cây cà chua Rita từ 50 - 65 ngày tuổi.
  • Quy trình sàng ướt kết hợp ly tâm tỷ trọng đường sucrose 50% ở 2500 vòng/phút nhằm thu hồi tối đa bào tử nguyên vẹn từ 100 g đất mẫu.
  • Công thức pha chế dung dịch định danh PVLG, chất thử phản ứng vách Melzer và dung dịch nhuộm rễ Trypan blue 0,05%.
  • Quy chuẩn giá thể nhân nuôi (5 cát : 1 xơ dừa khử độc và tiệt trùng nhiệt ẩm) cùng phương pháp chủng nấm Gigaspora sp. và Rhizophagus irregularis trên 3 nhóm cây ký chủ theo sơ đồ nghiệm thức 4 x 3.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

1. Định danh nấm rễ nội cộng sinh từ đất trồng cây họ cà bằng hình thái học

Khảo sát các mẫu đất vùng rễ cà chua tại Lâm Đồng ghi nhận sự hiện diện của 3 chi nấm AM chính:

  • Chi Gigaspora chiếm tỷ lệ cao nhất: 63,4%.
  • Chi Acaulospora chiếm: 27,4%.
  • Chi Glomus chiếm: 9,7%.
  • Các chủng nấm chưa định danh chiếm: 1,9%.

Chi Gigaspora chiếm ưu thế tuyệt đối nên được chọn làm đối tượng nghiên cứu hình thái chi tiết và nhân nuôi. Bào tử Gigaspora phân lập có dạng hình cầu đến gần cầu, không có cuống hoặc cuống bào tử phình to dạng củ hành; bề mặt nhẵn phẳng, thành bào tử dày từ 1 - 3 lớp, màu sắc biến thiên từ vàng nhạt, nâu nhạt đến nâu đen hoặc đen, đường kính bào tử dao động từ 87,5 - 175 µm.

2. Kết quả nhân nuôi chi Gigaspora trên cây bắp, lúa và cà chua

Số lượng bào tử thu được trong 100 g giá thể sau các mốc thời gian 1 tháng, 2 tháng và 4 tháng được thống kê chi tiết:

Bảng 1: Kết quả nhân nuôi Gigaspora sau 1 tháng (bào tử/100 g giá thể)

Cây trồng (A) ĐC (0 bào tử) NT 5 bào tử NT 10 bào tử NT 15 bào tử Trung bình A
Bắp 0 31,33 41,00 54,33 42,22 a
Cà chua 0 24,33 36,23 49,33 36,67 b
Lúa 0 21,00 31,00 43,00 31,67 b
Trung bình B 0 25,56 c 36,11 b 48,89 a

Ghi chú thống kê sau 1 tháng: $CV = 10,65%$; $F_A = 16,29^{}$; $F_B = 79,75^{}$; $F_{AxB} = 0,14^{ns}$. Cây bắp cho mật độ bào tử trung bình cao nhất (42,22 bào tử), khác biệt có ý nghĩa thống kê ($p < 0,01$) so với cà chua và lúa. Mức chủng 15 bào tử cho hiệu quả cao nhất (48,89 bào tử).

Bảng 2: Kết quả nhân nuôi Gigaspora sau 2 tháng (bào tử/100 g giá thể)

Cây trồng (A) ĐC (0 bào tử) NT 5 bào tử NT 10 bào tử NT 15 bào tử Trung bình A
Bắp 0 35,33 49,00 71,67 52,00 a
Cà chua 0 20,93 34,33 42,33 34,00 b
Trung bình B 0 30,33 c 41,67 b 57,00 a

Ghi chú thống kê sau 2 tháng: $CV = 9,48%$; $F_A = 87,77^{}$; $F_B = 64,70^{}$; $F_{AxB} = 9,19^{**}$. Cây bắp tiếp tục cho hiệu quả nhân nuôi vượt trội với trung bình 52,00 bào tử; nghiệm thức bắp chủng 15 bào tử đạt mật độ cao nhất (71,67 bào tử).

Bảng 3: Kết quả nhân nuôi Gigaspora sau 4 tháng (bào tử/100 g giá thể)

Cây trồng (A) ĐC (0 bào tử) NT 5 bào tử NT 10 bào tử NT 15 bào tử Trung bình A
Bắp 0 34,67 49,33 67,67 50,56 a
Cà chua 0 24,00 38,33 48,67 37,00 b
Lúa 0 31,67 44,33 56,67 44,22 a
Trung bình B 0 30,11 c 44,00 b 57,67 a

Ghi chú thống kê sau 4 tháng: $CV = 11,37%$; $F_A = 16,59^{}$; $F_B = 68,44^{}$; $F_{AxB} = 0,82^{ns}$. Cây bắp (50,56 bào tử) và lúa (44,22 bào tử) nằm trong cùng nhóm có mật độ bào tử cao vượt trội so với cà chua (37,00 bào tử). Nghiệm thức bắp kết hợp liều chủng 15 bào tử duy trì mật độ cao (67,67 bào tử/100 g đất).

3. Kết quả nhân nuôi Rhizophagus irregularis trên cây bắp, lúa và cà chua sau 4 tháng

Bảng 4: Kết quả nhân nuôi Rhizophagus irregularis sau 4 tháng (bào tử/100 g giá thể)

Cây trồng (A) ĐC (0 bào tử) NT 5 bào tử NT 10 bào tử NT 15 bào tử Trung bình A
Bắp 0 0,71 c 0,71 c 3,45 a 1,62 a
Cà chua 0 0,71 c 0,71 c 0,71 c 0,71 b
Lúa 0 0,71 c 0,71 c 2,32 b 1,24 a
Trung bình B 0 0,71 b 0,71 b 2,16 a

Ghi chú thống kê: $CV = 29,79%$; $F_A = 15,06^{}$; $F_B = 50,14^{}$; $F_{AxB} = 15,06^{**}$. Kết quả cho thấy loài Rhizophagus irregularis rất khó nhân nuôi trong điều kiện giá thể chậu in vivo. Ở các mức chủng 5 và 10 bào tử, nấm không thể sống sót và phát triển (chỉ số 0,71 là giá trị chuyển đổi thống kê khi không quan sát thấy bào tử sống). Ở mức chủng 15 bào tử, nấm có khả năng sống sót nhưng mật độ đạt rất thấp (bắp đạt 3,45 bào tử; lúa đạt 2,32 bào tử; cà chua không sống được).


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  1. Thành phần phân loại nấm AM trong đất họ cà tại Lâm Đồng: Xác định được 3 chi nấm rễ cộng sinh hiện diện trong đất vùng rễ cà chua, trong đó chi Gigaspora chiếm tỷ lệ ưu thế (63,4%), tiếp theo là Acaulospora (27,4%), Glomus (9,7%) và các chủng chưa định danh (1,9%).
  2. Xác định cây ký chủ và liều lượng chủng phù hợp cho chi Gigaspora:
    • Cây bắp (ngô) là ký chủ tối ưu nhất trong cả 3 giai đoạn khảo sát (1, 2 và 4 tháng), đạt số lượng bào tử trung bình từ 42,22 đến 52,00 bào tử/100 g giá thể.
    • Mật độ chủng khởi đầu 15 bào tử/chậu cho hiệu suất nhân giống cao nhất ở tất cả các loại cây (đạt từ 48,89 đến 57,67 bào tử/100 g giá thể). Cặp tổ hợp tối ưu nhất là cây bắp chủng 15 bào tử, đạt mật độ đỉnh 71,67 bào tử/100 g giá thể sau 2 tháng nhân nuôi.
  3. Đánh giá khả năng thích ứng của Rhizophagus irregularis: Loài nấm này có tỷ lệ sống sót và khả năng nhân sinh khối rất thấp trong điều kiện giá thể cát xơ dừa nhân tạo khi chủng mật độ thấp ($\le 10$ bào tử); chỉ ghi nhận sự sống sót hạn chế khi chủng ở mức 15 bào tử trên cây bắp (3,45 bào tử) và lúa (2,32 bào tử).

Giải pháp và kiến nghị

  • Sử dụng cây bắp (ngô F1) làm cây ký chủ mục tiêu để nhân nuôi sinh khối nấm rễ nội cộng sinh chi Gigaspora bản địa.
  • Thiết lập quy trình nhân nuôi chuẩn hóa: Giá thể cát và xơ dừa (tỷ lệ 5:1), khử trùng nhiệt ẩm liên tục 3 ngày, chủng mật độ tối thiểu 15 bào tử/chậu trong điều kiện kiểm soát dinh dưỡng để kích thích nấm xâm nhiễm và hình thành bào tử mới.
  • Thời gian thu hoạch giá thể chứa bào tử tối ưu cho chi Gigaspora trên cây bắp là từ 2 đến 4 tháng sau khi chủng.

Đóng góp học thuật và thực tiễn

Khóa luận đã cung cấp dẫn liệu thực nghiệm về cấu trúc thành phần nấm AM bản địa tại vùng chuyên canh rau họ Cà ở tỉnh Lâm Đồng, khẳng định tính ưu thế của chi Gigaspora. Đồng thời, công trình hoàn thiện quy trình tách chiết, làm tiêu bản nhuộm hình thái học và xác lập bộ thông số kỹ thuật nhân nuôi in vivo trên hệ giá thể cát - xơ dừa.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế

  • Địa bàn thu thập mẫu đất chỉ giới hạn trong phạm vi 3 huyện thuộc tỉnh Lâm Đồng và trên đối tượng cây cà chua Rita, chưa bao quát các vùng sinh thái trồng họ Cà khác (miền Bắc, Đồng bằng sông Cửu Long).
  • Việc định danh chỉ dựa trên đặc điểm hình thái học của bào tử dưới kính hiển vi quang học, chưa áp dụng các công cụ sinh học phân tử (giải trình tự vùng gen 18S rDNA hoặc ITS) để phân loại chính xác đến cấp độ loài.
  • Loài nấm chuẩn Rhizophagus irregularis chưa đạt hiệu quả nhân nuôi mong muốn do điều kiện giá thể và phương pháp nuôi cấy trong chậu chưa tối ưu cho đặc tính sinh học của loài này.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Ứng dụng kỹ thuật PCR và giải trình tự DNA để định danh chính xác các loài thuộc chi Gigaspora, Acaulospora và Glomus đã phân lập.
  • Nghiên cứu tối ưu hóa môi trường nuôi cấy in vitro (như nuôi cấy mô rễ biến nạp gen rễ tóc) cho các loài khó nhân nuôi in vivo như Rhizophagus irregularis.
  • Thử nghiệm đánh giá hiệu lực sinh học của chế phẩm nấm Gigaspora sau nhân sinh khối trong việc nâng cao khả năng hấp thu phospho và ức chế các bệnh truyền qua đất (héo rũ do nấm, héo xanh vi khuẩn, tuyến trùng nốt sưng) trên cây cà chua và ớt ngoài đồng ruộng thực tế.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu: Thuộc các ngành Bảo vệ thực vật, Nông học, Công nghệ sinh học nông nghiệp và Vi sinh vật học đất.
  • Giá trị thực hành nổi bật:
    • Quy trình chi tiết phương pháp sàng ướt kết hợp ly tâm phân đoạn tỷ trọng bằng sucrose 50% để thu hồi bào tử nấm AM từ đất.
    • Công thức pha chế và quy trình làm tiêu bản hiển vi với dung dịch cố định PVLG và thuốc thử Melzer.
    • Hệ thống dữ liệu thực nghiệm về thiết kế thí nghiệm nhân nuôi nấm rễ in vivo và xử lý thống kê 2 yếu tố trên phần mềm SAS.

Câu hỏi thường gặp

1. Thành phần các chi nấm rễ nội cộng sinh AM phân lập từ đất trồng cà chua tại Lâm Đồng có tỷ lệ phân bố như thế nào?

Kết quả khảo sát hình thái từ các mẫu đất vùng rễ cà chua tại Lâm Đồng cho thấy sự xuất hiện của 3 chi chính: chi Gigaspora chiếm tỷ lệ cao nhất với 63,4%, chi Acaulospora chiếm 27,4%, chi Glomus chiếm 9,7%, và các chủng chưa định danh chiếm 1,9%.

2. Cây ký chủ nào cho hiệu quả nhân nuôi chi nấm Gigaspora tốt nhất và mật độ đạt bao nhiêu?

Cây bắp (ngô) là cây ký chủ cho hiệu quả nhân nuôi cao nhất. Ở thời điểm 1 tháng, bắp đạt trung bình 42,22 bào tử/100 g giá thể; sau 2 tháng đạt 52,00 bào tử/100 g giá thể; và sau 4 tháng đạt 50,56 bào tử/100 g giá thể. Khi chủng ở mật độ 15 bào tử/chậu, nghiệm thức trên cây bắp đạt mật độ bào tử cao nhất là 71,67 bào tử sau 2 tháng và 67,67 bào tử sau 4 tháng.

3. Khả năng nhân nuôi loài nấm Rhizophagus irregularis trên giá thể in vivo đạt kết quả ra sao?

Loài Rhizophagus irregularis cho thấy khả năng nhân nuôi trên hệ giá thể cát - xơ dừa rất thấp. Ở các nghiệm thức chủng 5 và 10 bào tử, nấm không sống sót được trên cả 3 loại cây ký chủ (bắp, lúa, cà chua). Khi tăng liều lượng chủng lên 15 bào tử, nấm có thể tồn tại nhưng mật độ sau 4 tháng rất thấp (trên bắp đạt 3,45 bào tử, trên lúa đạt 2,32 bào tử, trên cà chua đạt 0,71 bào tử / 100 g giá thể).

4. Quy trình xử lý và thành phần giá thể nhân nuôi nấm AM trong nghiên cứu được chuẩn bị như thế nào?

Giá thể nhân nuôi được phối trộn theo tỷ lệ 5 phần cát : 1 phần xơ dừa (xơ dừa đã được ngâm nước 24 giờ để loại bỏ độc tố/chất chát). Hỗn hợp giá thể sau đó được khử trùng bằng nồi hấp tiệt trùng liên tục trong 3 ngày (mỗi ngày hấp 2 lần) trước khi đưa vào chậu sạch để tiến hành gieo hạt và chủng bào tử.

5. Dung dịch nhuộm và quan sát cấu trúc bào tử AM gồm những loại hóa chất nào?

Nghiên cứu sử dụng hai hệ dung dịch:

  • Dung dịch PVLG: 100 mL nước cất + 100 mL acid lactic + 10 mL glycerol + 16,6 g polyvinyl alcohol, khuấy ở 60°C trong 4 giờ.
  • Thuốc thử Melzer: 100 mL nước cất + 100 g chloral hydrat + 1,5 g iodine + 5 g potassium iodide. Bào tử được đặt trong giọt dung dịch trên lam kính, đậy lamen, ép vỡ có kiểm soát và ủ cố định 24 giờ trước khi quan sát dưới kính hiển vi quang học độ phóng đại 40X.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Hải Yến đã phân lập và xác định được tính ưu thế của chi nấm rễ nội cộng sinh Gigaspora (chiếm 63,4%) trong đất trồng cà chua tại tỉnh Lâm Đồng. Nghiên cứu chứng minh cây bắp (ngô) là cây ký chủ phù hợp nhất để nhân nuôi sinh khối nấm Gigaspora trên giá thể cát - xơ dừa (tỷ lệ 5:1) với mật độ chủng 15 bào tử/chậu, đạt sinh khối tối ưu từ 2 đến 4 tháng nuôi cấy. Ngược lại, loài Rhizophagus irregularis thể hiện khả năng thích ứng kém với phương pháp nhân nuôi in vivo trong chậu khi sử dụng mật độ chủng thấp. Công trình đã xây dựng thành công quy trình thực nghiệm đồng bộ từ khâu thu mẫu, phân lập sàng ướt, nhuộm định danh hình thái đến nhân sinh khối nấm rễ phục vụ nghiên cứu bảo vệ thực vật.