MỞ ĐẦU Đồ uống lên men đã được con người biết đến và sử dụng cách đây vài thế kỷ. Ngoài hương vị thơm ngon, nó còn giàu giá trị dinh dưỡng, chứa nhiều vitamin, khoáng chất, acid amin, đường.Nước ta, với đặc điểm nông nghiệp nhiệt đới nên có nguồn nguyên liệu rất phong phú thuận lợi cho việc sản xuất các loại đồ uống lên men. Nắm men là vi sinh vật lên men chủ yếu trong sản xuất đồ uống lên men. Bên cạnh nguyên liệu, giống nam men chính là một mau chốt công nghệ để tao ra những sản phẩm có chất lượng khác nhau.
Sự sinh trưởng, phát triển, khả năng lên men của nắm men chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố môi trường như nguồn carbon, nito, pH môi trường, nồng độ đường. đặc biệt là nhiệt độ và nồng độ cthanol. Trong quá trình lên men, lượng ethanol tích lũy và nhiệt độ lên men tăng, làm cho phan lớn nam men bị ức chế hoặc chết. Do đó các quá trình lên men công nghiệp thường sử dụng các hệ thống giải nhiệt, để điều khiển nhiệt độ lên men, dẫn đến làm tăng chi phí sản xuất.
Do đó, nắm men chịu nhiệt đã và đang được quan tâm nghiên cứu vì chúng có khả năng tăng trưởng và lên men ở nhiệt độ cao, ứng dụng cho quá trình lên men ethanol hoặc trong sản xuất đồ uống lên men. Mục tiêu của dé tài nhăm phân lập nguồn nam men có kha năng chịu nhiệt cao hơn 42°C từ nhiễu nguồn nguyên liệu rau quả ở Việt Nam và khảo sát một số đặc tính sinh hóa của các giống nắm men phân lập được. Từ đó, làm cơ sở cho định hướng sử dụng chúng trong các quá trình lên men. Nội dung nghiên cứu của luận án gồm có 4 phan chính như sau: %* Phần 1: Phân lập nắm men chịu nhiệt.
Sử dụng các dịch trái cây khác nhau như là nguôn vi sinh vật để phân lập. * Phần 2: Định danh sơ bộ giống nắm men phân lập được, dựa vào các đặc điểm hình thái, sinh lý, sinh hóa, bằng các khóa phân loại nắm men. * Phan 3: Khảo sát sơ bộ khả năng lên men của giống nam men phân lập. * Phần 4: Dựng đường cong sinh trưởng của chủng nam men có khả năng lên men tốt nhất.
TONG QUAN TÀI LIEU 2. Nam men và quá trình lên men 2. Đặc điểm hình thái Tế bào nắm men có nhiều hình dạng khác nhau: hình tròn, hình trứng như Saccharomyces cerevisiae, hình elip như Saccharomyces ellipsoideus, hình quả chanh như Saccharomyces apiculatus, đôi khi có hình chai như Saccharomyces ludwigu hoặc hình ống dài như Pichia. Hình dang của tế bào nam men ở các loài khác nhau thì khác nhau, trong cùng một loài hình dang của tế bào có thé thay đổi tùy thuộc vào điều kiện môi trường, điều kiện nuôi cay và tuổi tế bào.
Một số tế bào nam men có hình dai, nối tiếp nhau tạo thành dạng sợi gọi là khuẩn ty giả như Endomyces, Endomycopsi. Nhiều loài nằm men chỉ tạo khuẩn ty giả khi sống trong môi trường thiếu oxy [7]. Tế bào nắm men có kích thước tương đối lớn chiều dài từ 6 - 10 um, có khi 12 - 18 um, chiều ngang từ 4 - 8 um, kích thước của tế bào nam men thay đổi nhiều tùy thuộc vào loài, giống và điều kiện của môi trường sống. Trong môi trường lỏng nhiều loài nắm men có khả năng sinh ra một lớp màng bao bọc như tắm voan mỏng như loài Saccharomyces hoặc dày như loài Drojdiile micodermice.
Trên môi trường đặc, khuẩn lạc nắm men có nhiều hình dạng khác nhau, màu trắng đục, vàng hoặc hong nhạt. Tế bào nắm men trong tự nhiên có thé đứng riêng lẻ hoặc sau khi nay chỗi vẫn dính với nhau tạo thành chuỗi [4]. Đặc điểm sinh san [7] 2. Sinh san vô tính Nay chi là hình thức sinh sản đơn giản nhất của nắm men, khi đó thành tế bào mở ra dé tao ra một chôi.
Chéi phát triển thành tế bào con và có thé tách khỏi tế bào mẹ ngay từ khi còn nhỏ hoặc cũng có thé vẫn không tách ra ngay cả khi lớn bằng tế bào mẹ. Nhiều khi, nhiễu thế hệ vẫn dính vào một tế bao dau tiên dé nảy chdi và tao thành một cành nhiều nhánh tế bào trông giống như cây xương rong. Choi có thé moc ra theo bất kỳ hướng nào (nảy chổi đa cực) hoặc chỉ nảy chổi ở hai cực (nảy chéi lưỡng cực) hoặc chỉ nay chổi ở một cực nhất định (nảy chổi theo một cực). Nam men còn có hình thức sinh sản phân cắt như vi khuẩn.
Có thé hình thành một hay vài vách 2 ngăn dé phân cắt tế bào mẹ thành những tế bào phân cat. Điển hình cho kiểu phân cắt này là các nắm men thuộc chỉ Schizosaccharomyces. Ở một số nam men thuộc ngành Nam đảm, có thé sinh ra dạng bao tử có cuống nhỏ hoặc bào tử băn. Bào tử có cuống nhỏ thường gặp ở các chi nam men Fellomyces, Kockovaella và Sterigmatomyces, khi đó chổi sinh ra trên một nhánh nhỏ và tách ra khi nhánh bị gay.
Bao tử ban được sinh ra trén mot gai nhon cua tế bào nắm men va bị ban ra phia đối diện khi thành thục. Nếu cay các tế bào nắm men sinh bào tử bắn thành hình zich zac trên thạch nghiêng hoặc trên đĩa petri thì sau một thời gian nuôi cay sẽ thấy xuất hiện trên thành ống nghiệm hoặc nắp đĩa petri một hình zich zac khác được hình thành bởi các bào tử bắn lên. Bào tử băn là đặc điểm của nim men thuộc các chi Bensingtonia, Bullera, Deoszegia, Kockovaella, Sporobolomyces. Một số nam men còn có một hình thức sinh sản vô tính nữa, đó là việc hình thành các bào tử đốt.
Khi đó sẽ hình thành các vách ngăn ở đầu các nam men dạng sợi, sau đó tách ra thành các bào tử đốt. Loại này gặp ở các nam men thuộc cả hai ngành: Nam túi và Nam đảm. Thường gặp nhất là ở các chi nam men Galactomyces, Dipodascus (dạng v6 tinh là Geotrichum) va Trichosporon. Nắm men còn có thé tạo thành dạng tản dưới dạng khuẩn ty (soi nắm) hay khuẩn ty giả (giả sợi nắm).
Sinh sản hữu tinh Dạng sinh sản hữu tính ở nắm men là dạng các bào tử túi được sinh ra từ các túi. Có thé xảy ra sự tiếp hợp giữa hai tế bào nắm men tách rời hoặc giữa tế bào mẹ và chổi. Còn có cả sự biến nạp trực tiếp trong | tế bao sinh dưỡng, tế bào này biến thành túi không qua tiếp hợp. Thường trong mỗi túi có 4 hay đôi khi có 8 bào tử túi.
Trong một số trường hop lại chỉ có 1-2 bào tử túi. Bào tử túi ở chi Saccharomyces có dạng hình cầu, hình bau dục, ở chi Hanseniaspora và loài Hansenula anomala có dạng hình mũ, ở loài Hansenula saturnus bao tu túi có dang quả xoài giữa có vành dai như dạng Sao Thổ. Một số bào tử túi có dạng kéo dai hay hình xoăn.Bê mặt bào tử túi có thé nhẫn nhui, có thé xù xì hoặc có gai. Bào tử màng day (hay bào tử áo) là dạng bào tử giúp nắm men vượt qua được điều kiện khó khăn của ngoại cảnh, chứ không phải là hình thức sinh sản.
Một so nâm men còn có thê sinh vỏ nhây. Đặc điểm sinh lý, sinh hóa 2. Khả năng sử dụng các hợp chất cao phân tử [4] “+ Carbonhydrate Đối với nam men, nguén carbon thích hợp nhất là các loại đường như glucose, fructose, saccharose, maltose, rafinose, lactose, dextrin. Các giống thuộc loài Saccharomyces có khả năng đồng hóa được các loại đường hexose và nói chung không đồng hóa được đường pentose.
Các giống nắm men riêng biệt sử dụng các nguồn đường rất khác nhau. Ví dụ: các giống nam men rượu sử dụng đường glucose, các giống nam men bia sử dụng đường maltose. Các tế bào nắm men trước khi sử dụng các loại đường trong môi trường đều phải thực hiện một trong hai quá trình sau: - Hap thụ hoàn toàn các loại đường đó như maltose và maltotriose có khả năng khuếch tán trực tiếp qua màng tế bào. - Thuy phân trong môi trường rồi mới hap thụ như saccharose cần phải thủy phân trước bởi enzyme ngoại bào rồi sau đó các sản phẩm thủy phân này mới được hấp thụ.
Như vậy, đối với các giống nam men chỉ sử dụng các loại đường có trong môi trường mà không có khả năng phân giải nguồn nguyên liệu tinh bột bằng enzyme, cần phải đường hóa các nguyên liệu trước khi tiến hành lên men. “+ Protein Sự phát triển của nấm men liên quan đến kha năng hap thụ nito, chủ yếu là các loại acid amin. Chúng được nắm men sử dụng để tổng hợp protein các hợp chất chứa nitơ khác. Nam men tiêu thụ tốt các acid amine, kém hơn là các peptone va hoàn toàn không tiêu thụ được các protein tự nhiên.
Đối với nam men rượu, không phải tất cả các acid amine đều sử dung được. Người ta chia acid amine thành các nhóm: - Nhóm hấp thu nhanh: isoleucine, triptophane, arginine, valine, histidine, asparatic acid. - Nhóm hap thu cham: trionine, phenylalanine, tyrosine, methionine, serine, glysine, lecine, glutamic acid. - _ Nhóm không hap thu: proline % Lipid Trong suốt quá trình lên men, nắm men hap thụ các acid béo tự do.
Phan lớn chúng được kết hop lại thành các lipid trong thành tế bào nam men. Nam men Saccharomyces cerevisiae và những loài gần với chúng có nhu cầu acid béo không no trong quá trình phát triển ở điều kiện hiếu khí và kị khí. Trong quá trình hô hap nắm men có nhu cau acid béo không no cao gấp 4 lần so với bình thường do tham gia vào quá trình phosphoryl hóa dé tong hop ATP. Khả năng tạo chất kháng sinh của các giống nam men [23] Killer toxin hay còn gọi là zymocine: là các chất kháng sinh được một số giống nắm men và vi nam tiết ra nhằm chống lại sự cạnh tranh giữa các giống cùng loài hoặc giống thuộc ho gan.
Hiện tượng này lần đầu tiên được Bevan và Macower phát hiện năm 1963 trên các giống nam men Saccharomyces. Cho đến nay khả năng sinh zymocine đã được tìm thay ở nhiều giống nắm men thuộc các họ khác nhau như: Pichia, Kluyveromyces, Debaryomyces, Hanseniaspora, Zygosaccharomyces, Candida, Sporidiobolus. Tat cả các zymocine đều được biết đến là các polypeptide hoặc glycoprotein. Đặc tính sinh học có thé được mã hóa trên ARN mạch kép, DNA plasmid và mạch thắng trên chromosome.
Do tính chất chọn lọc rất cao, zymocine có tiềm năng như những chất kháng sinh hữu hiệu chống lại một số bệnh nan y. Quá trình lên men [7] 2. Lên men ethanol Nam men là vi sinh vật hiếu khí tùy tiện.