Tổng quan nghiên cứu

Cháy rừng là một trong những thảm họa sinh thái nghiêm trọng, gây thiệt hại nặng nề về tài nguyên thiên nhiên và kinh tế xã hội. Tại Việt Nam, trung bình mỗi năm xảy ra hàng trăm vụ cháy rừng, thiêu rụi hàng ngàn héc-ta rừng tự nhiên và rừng trồng. Tại huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai — địa bàn sở hữu tổng diện tích tự nhiên 109.570,62 ha với 62.118,93 ha rừng tự nhiên và 10.382,68 ha rừng trồng — từ năm 2000 đến nay ghi nhận bình quân 2 vụ cháy rừng mỗi năm, gây thiệt hại hàng trăm triệu đồng cho ngân sách và môi trường sinh thái.

Phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng truyền thống của Nesterov áp dụng chỉ tiêu khí tượng tổng hợp đòi hỏi phải đo đạc nhiệt độ không khí và nhiệt độ điểm sương vào đúng thời điểm 13 giờ hàng ngày. Điều này tạo ra rào cản lớn trong thực tế do thiếu trang thiết bị chuyên dụng tại các trạm kiểm lâm cơ sở và dữ liệu lúc 13 giờ không được phổ biến rộng rãi trên các bản tin dự báo thời tiết công cộng. Nhằm khắc phục hạn chế này, nghiên cứu đặt mục tiêu xây dựng các hàm phân cấp nguy cơ cháy rừng tuyến tính Fisher dựa trên các yếu tố khí tượng trung bình ngày dễ thu thập.

Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi toàn huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, tập trung vào chuỗi dữ liệu 6 mùa khô liên tục từ tháng 12 năm 2010 đến tháng 4 năm 2015 với tổng cộng 787 ngày quan trắc, kết hợp phân tích nền tảng khí hậu 23 năm (1985–2007). Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi thiết lập mô hình phân cấp đạt độ chính xác tổng thể lên đến 97,1%, cung cấp công cụ dự báo nhanh, tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả phòng cháy chữa cháy rừng cho toàn khu vực Đông Nam Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết sinh thái học cháy rừng của Kimmins và các mô hình quản lý lửa rừng hiện đại. Quá trình phát sinh và lan truyền lửa rừng được phân loại thành ba dạng chính: cháy ngầm (tốc độ 0,5–5,0 m/ngày), cháy dưới tán sàn rừng và cháy tán tầng trên (tốc độ 5–25 m/s). Trong đó, hoạt động của con người chiếm trên 90% nguyên nhân gây cháy, kết hợp với các yếu tố thời tiết cực đoan như nhiệt độ cao, độ ẩm không khí thấp và lượng bốc hơi lớn.

Mô hình nghiên cứu kế thừa hai lý thuyết cốt lõi:

  1. Chỉ tiêu khí tượng tổng hợp Nesterov: Xác định mức độ tích tụ khô hạn lũy kế qua các ngày không mưa hoặc có lượng mưa dưới 5 mm/ngày.
  2. Lý thuyết phân tích biệt số tuyến tính Fisher (Fisher's Linear Discriminant Analysis): Sử dụng khoảng cách Mahalanobis để phân tách tối ưu không gian đa chiều của các biến khí tượng thành 5 cấp nguy cơ cháy rừng riêng biệt.
  3. Đánh giá chế độ khô ẩm theo hệ số thủy nhiệt Selyaninov và phân loại sinh khí hậu học Gaussen - Walter của Thái Văn Trừng, xác định vùng nghiên cứu thuộc cấp chế độ khô ẩm loại II (hơi ẩm) với mùa khô kéo dài 5 tháng.

Các khái niệm chính được vận hành trong nghiên cứu gồm: Cấp nguy cơ cháy rừng (5 cấp từ I đến V), Độ ẩm vật liệu cháy (ngưỡng nguy hiểm dưới 25%), Nhiệt độ điểm sương, Chỉ số khô hạn và Hàm lập nhóm hợp quy chuẩn hóa.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu khí tượng được thu thập chính quy từ Đài khí tượng thủy văn Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm hai bộ dữ liệu độc lập:

  1. Chuỗi dữ liệu khí hậu lịch sử 23 năm (1985–2007) dùng để phân tích quy luật thời tiết dài hạn với các biến: nhiệt độ (T), lượng mưa (P), độ ẩm (Rh), lượng bốc hơi (Bh), số giờ nắng (N) và hệ số thủy nhiệt (K).
  2. Chuỗi dữ liệu vi khí hậu hàng ngày gồm 787 ngày trong 5 tháng mùa khô (tháng 12 đến tháng 4) giai đoạn 2010–2015.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích tập trung vào các tháng mùa khô — giai đoạn có nguy cơ phát sinh cháy rừng cao nhất trong năm. Quy trình phân tích dữ liệu được thực hiện trên phần mềm thống kê chuyên dụng SPSS 10.0 và bảng tính Excel, bao gồm:

  • Phân tích thống kê mô tả, hệ số biến động (CV%) và sai số chuẩn (Se).
  • Kiểm định phân tích phương sai (ANOVA) và tiêu chuẩn Wilks' Lambda để đánh giá mức độ phân tách giữa 5 cấp cháy của 4 biến khí tượng: nhiệt độ trung bình ngày (Wilks' Lambda = 0,344; F = 373,6), độ ẩm không khí (Wilks' Lambda = 0,326; F = 404,0), lượng mưa ngày (Wilks' Lambda = 0,935; F = 13,6) và tốc độ gió (Wilks' Lambda = 0,976; F = 4,8) với mức ý nghĩa thống kê đồng loạt đạt p < 0,001.
  • Lựa chọn biến tối ưu bằng thuật toán lập nhóm từng bước (Stepwise Discriminant Analysis) với tiêu chuẩn đưa vào F > 3,84 và loại bỏ F < 2,71.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã xác lập các phát hiện khoa học định lượng có giá trị cao về khí hậu và quy luật cháy rừng tại Vĩnh Cửu:

  1. Đặc trưng nền khí hậu mùa khô: Nhiệt độ trung bình năm đạt 26,8°C với tổng nhiệt lượng 9.777°C/năm. Lượng mưa trung bình đạt 1.797 mm/năm nhưng phân hóa sâu sắc khi mùa khô kéo dài 5 tháng (tháng 12 đến tháng 4 năm sau) chiếm tới 95,9% số ngày có lượng mưa dưới 5 mm/ngày. Lượng nước bốc hơi trong mùa khô cao gấp 2,7 lần đến 27 lần lượng mưa, trong đó tháng 3 bốc hơi cao nhất đạt 218 mm/tháng.
  2. Phân bố 5 cấp nguy cơ cháy rừng theo chỉ số Nesterov: Trong 787 ngày theo dõi, Cấp I (ít nguy cơ) chiếm 16,1% (127 ngày); Cấp II (có khả năng cháy) chiếm 24,5% (193 ngày); Cấp III (khả năng cháy lớn) chiếm 25,8% (203 ngày); Cấp IV (nguy hiểm) chiếm 18,4% (145 ngày); và Cấp V (cực kỳ nguy hiểm) chiếm 15,1% (119 ngày). Đáng chú ý, Cấp IV tập trung cao nhất vào tháng 3 (58,6%), còn Cấp V tập trung chủ yếu vào tháng 1 (40,3%) và tháng 2 (41,2%).
  3. Độ chính xác vượt trội của mô hình hàm lập nhóm 4 biến: Khi kết hợp 4 biến khí tượng trung bình ngày (T, P, Rh, G), hàm lập nhóm Fisher đã phân loại chính xác 97,1% tổng số ngày vào đúng 5 cấp nguy cơ cháy rừng. Tỷ lệ nhận dạng chính xác từng cấp đạt: Cấp I đạt 100%, Cấp II đạt 98,5%, Cấp IV đạt 98,4%, Cấp III đạt 95,0% và Cấp V đạt 90,9%.

Thảo luận kết quả

Sự biến thiên của các cấp nguy cơ cháy rừng gắn liền với sự sụt giảm nghiêm trọng của độ ẩm không khí và lượng mưa. Khi chuyển từ Cấp I sang Cấp V, độ ẩm không khí trung bình ngày giảm mạnh từ 76,9% xuống 66,6% (chênh lệch 10,3%), trong khi lượng mưa trung bình ngày ở Cấp V hoàn toàn bằng 0,00 mm/ngày. Điều này khiến vật liệu cháy dưới tán rừng rụng khô nhanh chóng, đưa độ ẩm vật liệu cháy xuống dưới ngưỡng tới hạn 25%, tạo điều kiện bùng phát ngọn lửa dữ dội.

So với phương pháp Nesterov truyền thống vốn phụ thuộc vào chỉ số nhiệt độ điểm sương lúc 13 giờ — một thông số kỹ thuật khó đo đạc tại hiện trường — mô hình hàm lập nhóm đã giải quyết triệt để sự phụ thuộc này. Bằng cách sử dụng các chỉ số thời tiết trung bình ngày phổ quát (nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, tốc độ gió), cơ quan quản lý có thể cập nhật cấp cháy ngay từ đầu ngày thông qua dự báo thời tiết công cộng.

Về mặt trực quan hóa, toàn bộ cấu trúc phân loại có thể được biểu diễn rõ nét qua biểu đồ phân tán hai chiều giữa Hàm hợp quy 1 (trục hoành, đóng góp lớn nhất bởi nhiệt độ với hệ số chuẩn hóa 1,107 và độ ẩm 1,060) và Hàm hợp quy 2 (trục tung, dẫn dắt bởi độ ẩm với hệ số chuẩn hóa -0,642). Không gian phân nhóm cho thấy 5 cụm trung tâm tách biệt rõ ràng, không bị chồng lấn, chứng minh tính tin cậy tuyệt đối của thuật toán Fisher.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao năng lực chủ động kiểm soát và giảm thiểu thiệt hại do cháy rừng gây ra tại huyện Vĩnh Cửu, các giải pháp cụ thể được kiến nghị như sau:

  1. Ứng dụng phần mềm tự động hóa dự báo cấp cháy: Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Cửu cần chủ trì đưa bộ 5 hàm phân cấp lập nhóm 4 biến (T, P, Rh, G) vào hệ thống phần mềm cảnh báo sớm hàng ngày. Mục tiêu đạt 100% các trạm kiểm lâm nhận thông tin cấp cháy trước 07 giờ 30 sáng trong suốt 5 tháng mùa khô (tháng 12 đến tháng 4), hoàn thành triển khai trong vòng 3 tháng.
  2. Nâng cấp mạng lưới trạm đo vi khí hậu tự động: Ban Quản lý Khu bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT lắp đặt bổ sung 3 trạm quan trắc tự động tại các phân khu trọng điểm như Mã Đà, Hiếu Liêm và Phú Lý. Mục tiêu giám sát liên tục 24/7 nhiệt độ, độ ẩm và tốc độ gió, giảm thời gian phản ứng dập lửa ban đầu xuống dưới 15 phút, triển khai trong giai đoạn 2024–2025.
  3. Quản lý và xử lý nguồn vật liệu cháy trước mùa khô: Các đơn vị chủ rừng và lâm trường quốc doanh tổ chức phát dọn thực bì cục bộ, tạo băng cản lửa trắng và băng cản lửa xanh với chiều rộng 10–15 m tại các khu vực rừng trồng có nguy cơ cao. Mục tiêu giảm 50% khối lượng vật liệu cháy khô tích tụ trên mặt đất trước ngày 15 tháng 12 hàng năm.
  4. Siết chặt quy chế canh tác nương rẫy và tuần tra cộng đồng: UBND huyện Vĩnh Cửu ban hành chỉ thị cấm tuyệt đối người dân sử dụng lửa đốt dọn rẫy trong những ngày dự báo cấp cháy đạt Cấp IV và Cấp V. Tăng cường lực lượng kiểm lâm phối hợp dân quân địa phương tuần tra 3 ca/ngày tại các tuyến giáp ranh nương rẫy và ven hồ Trị An.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Lực lượng kiểm lâm và cán bộ quản lý rừng: Hạt Kiểm lâm Vĩnh Cửu, Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai và các hạt kiểm lâm lân cận vùng Đông Nam Bộ có thể sử dụng trực tiếp các phương trình hồi quy và bảng hệ số lập nhóm để tác nghiệp dự báo cấp cháy hàng ngày mà không cần trang bị máy đo điểm sương phức tạp.
  2. Ban quản lý các khu bảo tồn và công ty lâm nghiệp: Điển hình là Khu bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai và các ban quản lý rừng phòng hộ, áp dụng luận văn để lập phương án phân vùng nguy cơ cháy theo từng tháng, bố trí hợp lý các nguồn lực tuần tra và phương tiện chữa cháy cơ giới.
  3. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Các nhà khoa học thuộc chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng và Biến đổi khí hậu tham khảo khung phương pháp luận ứng dụng giải thuật thống kê Fisher và khoảng cách Mahalanobis trong mô hình hóa các hiện tượng sinh thái rừng.
  4. Cơ quan hoạch định chính sách lâm nghiệp: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh Đông Nam Bộ sử dụng số liệu làm căn cứ khoa học để hoàn thiện quy chuẩn kỹ thuật dự báo cháy rừng cấp tỉnh, tích hợp vào kế hoạch phòng thủ dân sự và ứng phó biến đổi khí hậu hàng năm.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao cần thay thế hoặc cải tiến phương pháp Nesterov truyền thống?

Phương pháp Nesterov đòi hỏi thông số nhiệt độ và điểm sương lúc 13 giờ, vốn không có sẵn trên các bản tin thời tiết đại chúng và buộc kiểm lâm phải đo thủ công tại hiện trường. Hàm lập nhóm khắc phục triệt để nhược điểm này bằng cách sử dụng các chỉ số thời tiết bình quân ngày dễ tiếp cận với độ chính xác đạt 97,1%.

Thời điểm nào trong năm tại Vĩnh Cửu có nguy cơ cháy rừng cao nhất?

Nguy cơ cháy rừng diễn ra gay gắt trong 5 tháng mùa khô từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau. Trong đó, nguy cơ cháy Cấp IV bùng nổ mạnh nhất vào tháng 3 (chiếm 58,6% số ngày), còn Cấp V cực kỳ nguy hiểm tập trung dày đặc vào tháng 1 (40,3%) và tháng 2 (41,2%).

Mô hình hàm lập nhóm 4 biến có mức độ chính xác như thế nào?

Mô hình phân loại chính xác 97,1% trên tổng số 787 ngày quan trắc thực tế. Trong đó, mức độ nhận diện chuẩn xác của Cấp I đạt tuyệt đối 100%, Cấp II đạt 98,5%, Cấp IV đạt 98,4%, Cấp III đạt 95,0% và Cấp V đạt 90,9%, đảm bảo độ tin cậy rất cao cho công tác phòng cháy.

Biến số khí tượng nào đóng vai trò quan trọng nhất trong việc phân cấp cháy?

Kết quả phân tích biệt số cho thấy nhiệt độ không khí trung bình ngày và độ ẩm tương đối là hai nhân tố có ý nghĩa phân loại mạnh nhất với hệ số hàm chuẩn hóa lần lượt đạt 1,107 và 1,060, tác động trực tiếp đến tốc độ mất nước của thảm mục rừng.

Trong trường hợp thiếu số liệu gió hoặc mưa, có thể áp dụng mô hình rút gọn không?

Nghiên cứu đã xây dựng sẵn dạng hàm 3 biến (Nhiệt độ, Lượng mưa, Độ ẩm) và 2 biến (Nhiệt độ, Độ ẩm). Các dạng hàm rút gọn này vẫn đảm bảo độ tin cậy cao, giúp các trạm kiểm lâm vùng sâu vùng xa linh hoạt tính toán khi điều kiện thu thập số liệu bị hạn chế.

Kết luận

  • Xác lập toàn diện quy luật khí hậu 23 năm tại huyện Vĩnh Cửu với mùa khô khắc nghiệt kéo dài 5 tháng và 95,9% số ngày mùa khô có lượng mưa dưới 5 mm.
  • Chuẩn hóa phân bố 787 ngày mùa khô thành 5 cấp nguy cơ cháy rừng theo chỉ tiêu Nesterov, phát hiện tháng 1, 2 và 3 là đỉnh điểm nguy hiểm (Cấp IV và Cấp V).
  • Xây dựng thành công hệ thống phương trình hàm lập nhóm Fisher tuyến tính với 4 biến trung bình ngày, đạt độ chính xác dự báo thực nghiệm lên tới 97,1%.
  • Đơn giản hóa quy trình dự báo cháy rừng, chuyển đổi từ việc phụ thuộc vào số liệu chuyên sâu lúc 13 giờ sang sử dụng dữ liệu khí tượng công cộng thường nhật.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc phục vụ công tác quản lý tài nguyên rừng bền vững tại Đồng Nai và nhân rộng cho toàn vùng Đông Nam Bộ.

Các cơ quan quản lý lâm nghiệp địa phương cần khẩn trương số hóa bộ phương trình này vào hệ thống giám sát cảnh báo cháy rừng tự động ngay trước mùa khô tới để bảo vệ an toàn cho hơn 72.000 ha rừng tự nhiên và rừng trồng tại Vĩnh Cửu.