MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hàng năm nƣớc ta đã xảy ra hàng trăm vụ cháy rừng, thiêu hủy hàng ngàn héc ta rừng khác nhau (Đặng Vũ Cẩn và Hoàng Kim Ngũ, 1992) [1]; Phạm Ngọc Hƣng, 2001) [4]. Ở khu vực Vĩnh Cửu, từ năm 2000 đến nay, mỗi năm cũng có khoảng 2 vụ cháy rừng, làm thiệt hại hàng trăm triệu đồng. Vì thể, vấn đề phòng chống cháy rừng và hạn chế những hậu quả xấu do cháy rừng gây ra là một việc làm cần thiết.
Hiện nay các cấp dự báo nguy cơ cháy rừng ngắn hạn và dài hạn ở nƣớc ta đƣợc xây dựng trên cơ sở áp dụng chỉ tiêu khí tƣợng tổng hợp (P) của Nesterov (1940) (Phạm Ngọc Hƣng, 2001) [4]. Ƣu điểm của hai phƣơng pháp này là đơn giản, dễ tính toán. Hai phƣơng pháp này cũng có nhiều nhƣợc điểm. Một là chúng chƣa tính hết các yếu tố có ảnh hƣởng đến cháy rừng.
Hai là, để tính đƣợc các cấp cháy, hàng ngày dự báo viên phải đo đạc nhiệt độ không khí trung bình tại hiện trƣờng vào lúc 13 giờ. Ba là chỉ số P đƣợc phân chia quá rộng và khi P thay đổi một vài đơn vị thì cấp cháy cũng thay đổi. Bốn là dự báo viên phải theo dõi liên tục ngày có mƣa hay không có mƣa trong tháng. Mức độ nguy cơ cháy rừng không chỉ có quan hệ chặt chẽ với nhiệt độ không khí và độ thiếu hụt bão hòa hơi nƣớc, mà còn với nhiều yếu tố khác nhƣ lƣợng mƣa, độ ẩm không khí, tốc độ gió, khối lƣợng và tình trạng vật liệu cháy…Mặt khác, biến động của những yếu tố khí hậu hàng ngày có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Vì thế, phân cấp mức độ nguy cơ cháy rừng có thể đƣợc dự đoán theo nhiều yếu tố khí hậu khác nhau. Phƣơng pháp này cho phép hạn chế một phần những nhƣợc điểm của phƣơng pháp dự báo các cấp nguy cơ cháy rừng theo chỉ tiêu khí tƣợng tổng hợp (P) của Nesterov. Xuất phát từ đó, đề tài luận văn này ứng dụng hàm lập nhóm tuyến tính Fisher với nhiều biến khí tƣợng trung bình ngày để Nghiên cứu phân cấp nguy cơ cháy rừng bằng hàm lập nhóm ở khu vực Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Ý nghĩa của đề tài Về lý luận, đề tài góp phần xây dựng phƣơng pháp phân cấp nguy cơ cháy rừng.
Về thực tiễn, đề tài cung cấp phƣơng pháp dự đoán cấp nguy cơ cháy rừng dựa trên những biến số dễ đo đạc. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Các kiểu và nguyên nhân cháy rừng Cháy rừng là sự lan truyền không định hƣớng của lửa theo diện tích rừng (Kimmins, 1998 [7]). Cháy rừng đƣợc phân chia thành ba kiểu: (1) cháy ngầm, (2) cháy dƣới tán rừng hay cháy tầng dƣới, (3) cháy tán rừng hay cháy tầng trên (Phạm Ngọc Hƣng, 2001 [4]).
Cháy ngầm là cháy các vật liệu hữu cơ (thảm mục và than bùn) tích tụ dƣới mặt đất. Đặc điểm của cháy ngầm là tốc độ lan truyền chậm (0,5 - 5,0 m/ngày), không hình thành ngọn lửa, khói rất ít. Cháy dƣới tán rừng (hay cháy bề mặt sàn rừng) là cháy lớp vật rụng trên sàn rừng, thảm cây bụi, thảm cỏ và lớp cây tái sinh phân bố dƣới tán rừng. Đây là loại cháy thƣờng hay xảy ra.
Tốc độ cháy dƣới tán rừng thay đổi tùy theo nguồn vật liệu cháy (vật rụng, xác chết của cây rừng, thảm cây bụi và thảm cỏ, cây tầng dƣới, cây gỗ tầng trên) và thời tiết (ẩm độ, nhiệt độ, gió). Cháy tán rừng hay cháy tầng trên là cháy tầng tán quần thụ. Loại cháy này xảy ra do ảnh hƣởng lan truyền từ cháy tầng dƣới. Cháy tầng trên cũng có thể xảy ra với tốc độ nhanh (15 - 25 m/s) hoặc tốc độ chậm (5 - 15 m/s).
Cháy rừng là do kết quả của những hoạt động bất cẩn hoặc hoạt động vô ý thức của con ngƣời và sấm sét; trong đó hoạt động của con ngƣời là nguyên nhân chủ yếu. Vì thế, lửa đƣợc xem là một yếu tố của nhóm sinh vật, bởi vì nó gắn liền với hoạt động của con ngƣời (Kimmins, 1998 [7]; Phạm Ngọc Hƣng, 2001 [4]). Những yếu tố ảnh hƣởng đến cháy rừng Cháy rừng xảy ra do nhiều yếu tố khác nhau nhƣ khí hậu (nhiệt độ, mƣa, độ ẩm không khí, lƣợng nƣớc bốc hơi, tốc độ gió…), nguồn vật liệu cháy, vùng sinh thái, tập quán canh tác và ý thức của cộng đồng (Kimmins, 1998 [7]; Shu Lifu,1998, 1999 [9, 10]; Phạm Ngọc Hƣng, 2001 [4]; Li, 2012 [8]; Yundan Xiao và ctv, 2015 [15]). Trong các yếu tố khí hậu, độ ẩm tƣơng đối của không khí (Rh%) đóng vai trò quan trọng.
Những ngày có Rh% thấp là nguyên nhân dẫn đến vật liệu cháy bị khô (Li, 2012 [8]). Tốc độ gió (G, m/s) có ảnh hƣởng lớn đến cháy rừng. Giữa tốc độ gió và cháy rừng có mối quan hệ dƣơng. Lƣợng nƣớc bốc hơi (Bh, mm) hàng ngày LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 có ảnh hƣởng lớn đến cháy rừng.
Lƣợng nƣớc bốc hơi phụ thuộc vào độ ẩm không khí và tốc độ gió (Yundan Xiao và ctv, 2015) [15]. Nhiệt độ cao dẫn đến sự mất nƣớc từ vật liệu cháy và làm cho vật liệu cháy bị khô. Từ đó cháy có thể xuất hiện. Độ ẩm thiếu hụt của không khí là yếu tố có ảnh hƣởng đến cháy rừng.
Độ ẩm thiếu hụt của không khí là sự chênh lệch giữa nhiệt độ không khí vào lúc 13 giờ và nhiệt độ điểm sƣơng. Nhiệt độ điểm sƣơng là nhiệt độ ở thời điểm không khí bão hoà hơi nƣớc. Khi không khí bão hoà hơi nƣớc thì quá trình ngƣng kết hơi nƣớc trong không khí sẽ xảy ra. Khi không khí có độ ẩm thấp và nhiệt độ cao thì vật liệu cháy sẽ khô.
Đây là điều kiện thuận lợi cho quá trình cháy. Gió có ảnh hƣởng đến tốc độ lan truyền và hƣớng di chuyển của lửa. Gió cũng làm vật liệu cháy khô nhanh hơn. Tốc độ cháy gia tăng cùng với sự gia tăng tốc độ gió.
Khi tốc độ gió đạt trên 15 km/h thì tốc độ và tính nguy hiểm của cháy sẽ tăng lên nhanh. Tùy theo tốc độ gió (G, m/s), Kooper (1990) [dẫn theo 3] đã đề nghị hiệu chỉnh chỉ số nguy cơ cháy rừng (PNes) của Nesterov nhƣ Bảng 1. Hệ số P hiệu chỉnh theo tốc độ gió TT Tốc độ gió (G, km/h) Hệ số PNes hiệu chỉnh (1) (2) (3) 1 0–5 1,0 2 6 – 15 1,5 3 16 – 25 2,0 4 ≥ 26 3,0 Độ ẩm của vật liệu cháy có quan hệ chặt chẽ với lƣợng mƣa. Theo Phạm Ngọc Hƣng (2001) [4], khi lƣợng mƣa nhỏ hơn 5 mm/ngày thì vật liệu cháy sẽ khô và nguy cơ cháy rừng có thể xảy ra.
Lƣợng mƣa trên 5 mm/ngày thì nguy cơ cháy rừng ít xảy ra. Vật liệu cháy bao gồm những vật rụng (cành, nhánh, lá, vỏ, hoa quả…), cây khô, chà nhánh khô sau khi khai thác rừng, than bùn, thân cây và cành lá còn tƣơi…Tính nguy hại của cháy tăng lên cùng với sự gia tăng vật liệu cháy (Phạm Ngọc Hƣng 2001) [4]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Điều kiện khí hậu có ảnh hƣởng đến cháy rừng. Ở khu vực Đông Nam Bộ có hai mùa khô và mƣa phân biệt khá rõ; trong đó mùa khô kéo dài 4 – 6 tháng từ tháng 12 năm trƣớc đến tháng 4 năm sau.
Đây là mùa phát sinh cháy rừng ở miền Nam (Phạm Ngọc Hƣng 2001) [4]. Mật độ dân cƣ, phƣơng thức canh tác, mật độ điểm du lịch và ngƣời đi du lịch vào rừng và mật độ đƣờng giao thông cũng ảnh hƣởng lớn đến cháy rừng (Nguyễn Văn Thêm, 2002) [2]. Ý thức sinh hoạt của cộng đồng có ảnh hƣởng lớn đến cháy rừng. Nhiều vụ cháy rừng ở nƣớc ta có liên quan đến phƣơng thức canh tác và sinh hoạt của cộng đồng (Phạm Ngọc Hƣng 2001) [4].
Nói chung, dự báo nguy cơ cháy rừng là một vấn đề khó khăn. Bên cạnh yếu tố thời tiết, cháy rừng cũng có liên quan đến điều kiện tự nhiên, loài cây gỗ và hoạt động của con ngƣời. Ngày nay quản lý lửa rừng có thể đƣợc thực hiện nhờ vào hệ thống thông tin địa lý (GIS) và viễn thám (Shu Lifu,1998) [9]. Phƣơng pháp dự báo cháy rừng Dự báo cháy rừng bao gồm hai bƣớc: (1) Xác định mùa cháy rừng, (2) Dự báo cháy rừng dài hạn (tuần, tháng) và ngắn hạn (ngày).
Xác định mùa cháy rừng Mùa cháy rừng là khoảng thời gian khô và hạn trong năm. Có hai phƣơng pháp xác định mùa cháy rừng. Một là phƣơng pháp biểu đồ biểu diễn lƣợng mƣa trung bình của tuần trong một năm. Hai là phƣơng pháp dựa vào chỉ số khô hạn.
Biểu đồ mô tả lƣợng mƣa trung bình của tuần trong một năm đƣợc vẽ với trục tung là lƣợng mƣa (P, mm), còn trục hoành là tuần hay tháng trong năm. Mùa cháy rừng là những tháng có lƣợng mƣa nhỏ hơn 15 mm (Phạm Ngọc Hƣng 2001) [4]. Chế độ khô ẩm là tác nhân khống chế và ấn định sự hình thành các kiểu khí hậu thực vật ở Việt Nam (Thái Văn Trừng, 1999) [5]. Chế độ khô ẩm bao gồm ba chỉ tiêu: lƣợng mƣa (P, mm), chỉ số khô hạn (X) và độ ẩm tƣơng đối của không khí trung bình thấp nhất (%).
Chỉ số khô hạn X đƣợc xác định bằng công thức (1.1); trong đó S là số tháng khô. Khi tổng lƣợng mƣa của tháng Ps < 50 mm, thì tháng đó là tháng khô. Đại lƣợng A là số tháng hạn trong mùa khô (Pa). Những tháng có Pa < LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 25 mm là những tháng hạn.
Đại lƣợng D là số tháng kiệt. Tháng kiệt là tháng có Pd < 5 mm.1) Căn cứ vào lƣợng mƣa, độ ẩm tƣơng đối trung bình thấp nhất và chỉ số khô hạn, Thái Văn Trừng (1999) [5] đã phân chia chế độ khô ẩm ở Việt Nam thành 4 cấp (Bảng 1. Chế độ khô ẩm ở Việt Nam Chỉ số khô hạn Độ ẩm không Tên gọi Lƣợng mƣa (số tháng) khí thấp nhất chế độ (mm/năm) S A D (%) khô ẩm (1) (2) (3) (4) (5) (6) > 2500 0-3 0 0 > 85 Mƣa ẩm (Cấp I) 1200 - 2500 1-3 0-1 0 > 85 Ẩm (Cấp II) 4-6 1-2 0-1 < 85 Hơi ẩm 600 - 1200 4-6 1-2 0-1 > 50 Hơi khô (Cấp III) 7-9 2-4 0-2 > 50 Khô 300 - 600 6 - 10 4-6 1-3 > 30 Hạn (Cấp IV) 1. Phương pháp dự báo cháy rừng 1.
Dự báo cháy rừng ngắn hạn Dự báo cháy rừng ngắn hạn (hàng ngày) là xác định khả năng cháy rừng hàng ngày.