CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. NHU CẦU VÀ KHẢ NĂNG PHA CHẾ THUỐC TIÊM TRUYỀN Ở TRẠM QUÂN Y SƯ ĐOÀN TRONG CHIẾN TRANH 1. Sốc do vết thương, dự kiến thương binh và nhu cầu thuốc tiêm truyền ở tuyến quân y trung, sư đoàn trong chiến tranh 1. Sốc do vết thương chiến tranh Sốc do vết thương chiến tranh là một nguyên nhân chính gây tử vong cho thương binh (TB), đặc biệt là ở tuyến trung đoàn (e), sư đoàn (f).
Tỷ lệ sốc, mất máu của TB trong các cuộc chiến tranh ở Việt Nam được thống kê ở bảng 1. Tỷ lệ sốc, mất máu trong tổng số thương binh ở tuyến quân y trung đoàn, sư đoàn trong các cuộc chiến tranh trước đây Tuyến e (%) Tuyến f (%) Cuộc chiến tranh Toàn bộ Sốc, Toàn bộ Sốc, TB mất máu/TB TB mất máu/TB Chống Pháp 6,0 3,0 - 18,0 5,3 3,9 - 12,0 Chống Mỹ 8,8 9,4 - 25,1 13,9 7,6 - 27,0 Biên giới Tây Nam 13,9 8,2 - 24,0 16,6 7,6 - 32,0 Biên giới phía Bắc 17,0 9,2 - - Trung bình 11,4 7,5 - 16,8 11,9 6,4 - 27,7 * Nguồn: theo Lê Thế Trung (1989) [8] Số liệu ở bảng 1.1 cho thấy: Nếu tỷ lệ TB bị sốc mức độ 2 và mức độ 3 càng lớn, thì nhu cầu thuốc tiêm truyền (TTT) càng nhiều, nhưng số lượng TTT trong các cơ số có hạn nên luôn bị thiếu so với nhu cầu, cần có giải pháp đảm bảo, trong đó triển khai pha chế tại chỗ là phương án chủ động, kịp thời, hiệu quả nhất [9]. Dự kiến thương binh và nhu cầu thuốc tiêm truyền ở tuyến quân y trung đoàn, sư đoàn trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Với quân số trung bình một trung đoàn bộ binh (eBB) là 2750 người, một sư đoàn bộ binh (fBB) là 9000 người. Nếu một đợt chiến đấu kéo dài 10 - 15 ngày, tỷ lệ TB được dự kiến như ở bảng 1.
Dự kiến tỷ lệ, số lượng thương binh theo mức độ tổn thương trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở tuyến trung, sư đoàn Đơn vị tính: Người eBB fBB Tổng Mức độ tổn thương Tiến Phòng Cả Tiến Phòng Cả cộng công ngự đợt công ngự đợt Nặng 17,5 36 22 58 71 32 103 161 (%) Thương Vừa 32,5 68 40 108 132 58 190 298 binh (%) Nhẹ 50 103 62 165 202 90 229 394 (%) T.số (%) 100 207 124 331 405 180 522 953 Ghi chú: eBB: Trung đoàn bộ binh; eBB: Sư đoàn bộ binh. *Nguồn: theo Nguyễn Văn Hưng (2008) [10] Số liệu ở bảng 1.2 cho thấy: tỷ lệ TB ở tuyến e từ 4,5 - 7,5%/ngày/quân số tham gia chiến đấu, một đợt chiến đấu khoảng 25% quân số bị thương; còn ở tuyến f tỷ lệ TB từ 2 - 4,5%/ngày/quân số tham gia chiến đấu, một đợt chiến đấu khoảng 15% quân số bị thương. Dự kiến sau một đợt chiến đấu, toàn tuyến e,f có trên 950 TB do vũ khí thông thường sát thương ở cả 3 mức độ nặng, vừa và nhẹ. Bên cạnh dự kiến tỷ lệ TB, còn phải tính đến nhu cầu thuốc cho quân nhân tại các đơn vị do điều kiện chiến tranh sinh hoạt khó khăn, nguy cơ dịch 5 bệnh như sốt rét, tê phù, bệnh ngoài da, các bệnh do virus rất có khả năng xuất hiện.lúc này nhu cầu thuốc cho các quân nhân bị mắc các dịch bệnh có thể còn lớn hơn nhu cầu cho TB, cần phải có các phương án đảm bảo để có đủ thuốc để điều trị cho những quân nhân bị bệnh, trong đó có TTT [11], [12], [13], [14].
Theo số liệu trong các cuộc kháng chiến trước đây của ngành Quân y Việt Nam (NQYVN): cứ 2000 TB chuyển từ tuyến trước về Tr.QYf cần phải có 250 - 500 L TTT dùng trong chống sốc, phẫu thuật, cấp cứu, điều trị cứu chữa bước đầu và cứu chữa cơ bản cho khoảng 12,5% trong tổng số TB, với lượng sử dụng là 1,5 L/TB cho cứu chữa bước đầu, 2,0 L/TB cho cứu chữa cơ bản tính theo TTT glucose 5% và TTT natri clorid 0,9% [15] (bảng 1. Dự kiến nhu cầu thuốc tiêm truyền natri clorid 0,9%, glucose 5% cho thương binh ở tuyến trung, sư đoàn trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Phương thức eBB fBB tác chiến 12,5% TB 12,5% TB SL SL sử dụng TTT (L) sử dụng TTT (L) TB TB SLTB TTT SLTB TTT Tiến công/ngày 207 26 39 405 51 102 Phòng ngự/ngày 124 16 24 180 23 46 Đợt chiến đấu 331 42 63 953 74 148 * Nguồn: theo Nguyễn Minh Chính và cs (2014) [15] 6 Số liệu ở bảng 1.3 cho thấy: Nhu cầu TTT dự kiến cho một đợt chiến đấu ở tuyến e là 63 L, tuyến f là 148 L. Với khả năng đảm bảo thuốc, vật tư y tế để cứu chữa của 1 cơ số Y là 25 TB, 1 cơ số K là 50 TB, thì số lượng cơ số được cấp phát và khối lượng TTT natri clorid 0,9% và glucose 5% có sẵn trong cơ số được trình bày ở bảng 1. Khối lượng thuốc tiêm truyền natri clorid 0,9%, glucose 5% đóng gói sẵn trong cơ số Y, K TT Thuốc Cơ số Y Cơ số K tiêm truyền Trong SL TTT Trong SL Cộng 1 cơ số cơ số (L) 1 cơ số cơ số (L) (L) (L) 1 Glucose 5% 2 13 26 4 19 76 2 Natri clorid 0,9% 1,5 13 19,5 3 19 57 Tổng cộng 45,5 - - 133 7 * Nguồn: theo Nguyễn Minh Chính và cs (2014) [15] Bảng 1.4 cho thấy: Nếu được tiếp tế 13 cơ số Y, số lượng TTT glucose 5% và natri clorid 0,9% có trong cơ số là 45,5 L; với 19 cơ số K thì số lượng TTT có trong cơ số là 133 L, số lượng TTT có sẵn là 178,5 L.
Trong khi nhu cầu phải có là 211 L, do đó lượng TTT còn thiếu là: 211 - 178,5 = 32,5 L. Số lượng TTT còn thiếu (32,5 L) phải được triển khai pha chế tại Tr.QYf để chủ động đáp ứng đủ nhu cầu cứu chữa cho TB [15]. Chính vì vậy, ngoài khối lượng TTT glucose 5% và natri clorid 0,9% có sẵn, CQY đã đóng gói 1000g natri clorid nguyên liệu pha tiêm trong mỗi cơ số K [15]. Điều đó cho thấy, việc triển khai pha chế TTT tại Tr.QYf đã nằm trong phương án bảo đảm của NQYVN, vừa góp phần chủ động đáp ứng nhu cầu thuốc, vừa giảm bớt khối lượng vật tư quân y phải đóng gói, vận chuyển trong điều kiện chiến đấu cơ động, nhất là điều kiện địa hình rừng núi, chứ không chỉ là nhiệm vụ đột xuất trong giai đoạn hiện nay.
Khả năng triển khai pha chế thuốc tiêm truyền trong chiến tranh 1. Quân đội nước ngoài Trong chiến tranh Thế giới lần thứ II (1941 -1945), Hồng quân Liên - Xô (cũ) đã tổ chức được một màng lưới pha chế thuốc rộng khắp, đảm bảo cho công tác cứu chữa thương binh tại các mặt trận [16]. Để chủ động đảm bảo TTT cho TB tại các chiến trường trong thời gian nhanh nhất có thể, quân đội nước ngoài vẫn luôn quan tâm đến nghiên cứu pha chế TTT với các nội dung: Cải tiến công nghệ, tổ chức pha chế, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước, TTT trong ĐKDN [17]. Quân đội Nga đang có cơ số trang bị pha chế TTT tại các đại đội quân y lữ đoàn, sư đoàn [18], [19].
Một số công ty của Mỹ đang nghiên cứu chế tạo các thiết bị pha chế 8 TTT trang bị cho cá nhân binh sĩ hoặc các bộ phận tác chiến trên chiến trường ở xa căn cứ, có thể chủ động đảm bảo nhu cầu TTT cho TB theo hướng áp dụng công nghệ cao như điều chế nước cất bằng hệ thống lọc RO, sau đó nước cất được lọc qua màng lọc vô khuẩn để loại trừ vi khuẩn rồi đóng gói trực tiếp vào các chai Polyethylen terephthalat (PET) chứa sẵn nguyên liệu hoặc dung dịch mẹ, không cần tiệt khuẩn. Nhưng đây cũng mới là các sản phẩm chế thử, chưa được quân đội Mỹ chính thức áp dụng [20], [21], [22]. Ngành Quân y Việt Nam * Trong kháng chiến chống Pháp (1946-1954) Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, khi lượng TB tại các trận chiến đấu tăng cao nên thiếu thuốc, các phân đội quân y đã triển khai và pha chế hàng nghìn L TTT, góp phần đảm bảo đủ nhu cầu thuốc cứu chữa cho TB ngay tại mặt trận [2], [23]. * Trong kháng chiến chống Mỹ (1965 - 1975) Đầu những năm 1960 của cuộc kháng chiến chống Mỹ, công tác chi viện vật chất, trong đó có thuốc từ miền Bắc cho miền Nam bị đối phương tìm mọi cách ngăn chặn, việc mua sắm tại chỗ không thuận lợi, dẫn đến thiếu hụt thuốc.
Nhằm chủ động đáp ứng nhu cầu thuốc cho thương bệnh binh, mặc dù trong điều kiện khó khăn thiếu thốn về nhân lực và trang bị, nhưng các phân đội quân y từ cấp trung đoàn trở lên trên khắp chiến trường miền Nam đã tích cực, chủ động triển khai bào chế thuốc với trang bị, nhân lực tại chỗ, trong đó TTT là sản phẩm chủ lực [24], [25], [26]. Tại chiến trường Nam Bộ, có sư đoàn trong 1 năm đã pha chế được 1029,3 L thuốc gồm dung dịch natri clorid, glucose, Novocain, vitamin B1, C, B12.Có chiến dịch, sư đoàn đã pha chế hơn 2000 L thuốc các loại [27]. Tại chiến trường Tây Nguyên, từ năm 1961-1975 đã pha chế khoảng 100. Khối lượng TTT pha chế tại chỗ 9 (301.633 L) gấp khoảng 6 lần lượng chi viện từ miền Bắc (53.326 L) và gấp gần 265 lần mua ngoài thị trường (1.
Trên đường mòn Hồ Chí Minh, từ năm 1965 - 1975, Quân y các đơn vị thuộc Bộ tư lệnh 559 đã tổ chức pha chế tại chỗ được khoảng 2.156 L TTT bao gồm natri clorid 0,9%, glucose 5%, nước cất, novocain để cứu chữa cho TB tại các trạm quân y dọc đường Trường Sơn [29]. Những con số về khả năng triển khai và số lượng TTT pha chế tại chỗ ở các chiến trường trong kháng chiến chống Mỹ rất có ý nghĩa về mặt thực tiễn đối với công tác tiếp tế quân y, khẳng định vai trò không thể thiếu được của hoạt động này trong chiến tranh, cần được duy trì trong điều kiện hiện nay [1], [23]. Ở miền Bắc, công tác pha chế cũng phát triển rộng khắp tại các bệnh viện trong ngành Y tế. Đa số các bệnh viện tuyến huyện tự pha chế được TTT glucose và natri clorid để điều trị cho người bệnh [30].
Sau ngày đất nước thống nhất, NQYVN vẫn thường xuyên quan tâm, chỉ đạo công tác tiếp tế quân y, trong đó có công tác pha chế thuốc thông qua các hội thao kỹ thuật, các đợt tập huấn nhằm duy trì hoạt động chuyên môn ở các đơn vị và đảm bảo sẵn sàng chiến đấu [31].