Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Bùi Thị Thanh Hiền với đề tài "Nghiên cứu nồng độ Galectin-3 huyết thanh ở bệnh nhân suy tim" được thực hiện tại Trường Đại học Y - Dược, Đại học Huế, thuộc chuyên ngành Nội khoa (mã số: 9720107), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hoàng Anh Tiến và TS. Đinh Hiếu Nhân.

Suy tim là một hội chứng lâm sàng phức tạp và là vấn đề sức khỏe cộng đồng lớn trên phạm vi toàn cầu với hơn 26 triệu người mắc. Mặc dù có nhiều tiến bộ trong điều trị, tiên lượng của bệnh nhân suy tim vẫn còn nặng nề: khoảng 30% đến 40% bệnh nhân tử vong trong vòng 1 năm đầu sau chẩn đoán và tỷ lệ này lên tới 60% đến 70% sau 5 năm. Quá trình sinh bệnh học của suy tim liên quan đến các đáp ứng thần kinh - thể dịch, sự quá tải thể tích tuần hoàn và đặc biệt là quá trình tái cấu trúc cơ tim cùng hiện tượng xơ hóa mô kẽ. Các chất chỉ điểm sinh học truyền thống như BNP, NT-proBNP hay Troponin chủ yếu phản ánh tình trạng căng thành cơ tim hoặc tổn thương, hoại tử tế bào cơ tim. Trong khi đó, Galectin-3 là một chỉ điểm sinh học đại diện cho quá trình kích hoạt đại thực bào, tăng sinh nguyên bào sợi và lắng đọng collagen gây xơ hóa mô kẽ cơ tim. Mặc dù Trường môn Tim mạch Hoa Kỳ và Hội Tim mạch Hoa Kỳ (ACC/AHA) năm 2017 đã đưa Galectin-3 vào hướng dẫn để phân tầng nguy cơ ở bệnh nhân suy tim, các bằng chứng lâm sàng tại Việt Nam về sự biến đổi của Galectin-3 trên các thể phân suất tống máu, mối tương quan với các thông số cấu trúc thất trái trên siêu âm tim và giá trị tiên lượng biến cố nội viện vẫn cần được nghiên cứu và kiểm chứng cụ thể.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định rõ ràng:

  1. Mục tiêu tổng quát: Khảo sát sự biến đổi nồng độ galectin-3 huyết thanh ở bệnh nhân suy tim.
  2. Mục tiêu chuyên biệt:
    • Đánh giá sự biến đổi nồng độ của galectin-3 huyết thanh ở bệnh nhân suy tim và giá trị nồng độ galectin-3 huyết thanh ở các phân nhóm suy tim.
    • Khảo sát mối tương quan giữa nồng độ galectin-3 huyết thanh với các thông số liên quan tái cấu trúc cơ tim trên siêu âm tim và xét nghiệm BNP huyết thanh ở bệnh nhân suy tim.
    • Khảo sát giá trị của nồng độ galectin-3 huyết thanh trong tiên lượng các biến cố tim mạch như suy tim nặng hơn, hội chứng động mạch vành cấp, rối loạn nhịp thất và tử vong do mọi nguyên nhân trong thời gian nằm viện ở bệnh nhân suy tim.

Đối tượng nghiên cứu gồm nhóm bệnh nhân được chẩn đoán suy tim và nhóm đối chứng không suy tim điều trị tại Bệnh viện Trưng Vương (Khoa Nội Tim Mạch, Khoa Hồi sức, Khoa Xét nghiệm, Khoa Điều trị theo yêu cầu). Phạm vi nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá lâm sàng, xét nghiệm cận lâm sàng (nồng độ Galectin-3 huyết thanh, BNP, độ lọc cầu thận, công thức bạch cầu), đo đạc các thông số hình thái và chức năng thất trái trên siêu âm tim, đồng thời theo dõi các biến cố tim mạch xảy ra trong suốt thời gian nằm viện của bệnh nhân.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về dấu ấn sinh học Galectin-3 trong bệnh cảnh suy tim:

Các nghiên cứu quốc tế

  • Nghiên cứu PRIDE (ProBNP Investigation of Dyspnea in the Emergency Department) của Van Kimmenade và cộng sự trên bệnh nhân suy tim cấp nhập viện cho thấy Galectin-3 là yếu tố dự báo độc lập tử vong trong 60 ngày (OR = 10,3; p < 0,01) và việc phối hợp giữa Galectin-3 với NT-proBNP làm tăng độ chính xác tiên lượng so với từng chỉ điểm đơn lẻ. Phân tích của Shah và cộng sự (2010) từ dữ liệu PRIDE khẳng định Galectin-3 có liên quan độc lập với tỷ lệ tử vong trong 1 năm (p = 0,003) và 4 năm (p < 0,001).
  • Nghiên cứu COACH (Coordinating study evaluating outcomes of Advising and Counseling in Heart failure) do de Boer và cộng sự (2010) công bố ghi nhận nồng độ Galectin-3 tăng liên quan đến nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân và tái nhập viện do suy tim với tỷ số nguy cơ HR = 1,97 (khoảng tin cậy 95% CI: 1,62 - 2,42), trong đó giá trị tiên lượng thể hiện rõ nét hơn ở nhóm suy tim có phân suất tống máu bảo tồn so với nhóm suy tim phân suất tống máu giảm (p < 0,001).
  • Nghiên cứu DEAL-HF (Deventer-Alkmaar Heart Failure Study) của Lok và cộng sự chỉ ra Galectin-3 là yếu tố dự báo tử vong dài hạn trong thời gian theo dõi 6,5 năm.
  • Nghiên cứu CARE-HF (Cardiac Resynchronization in Heart Failure Trial) của Lopez-Andres và cộng sự ghi nhận Galectin-3 tăng tương quan với tử vong tim mạch và tái nhập viện trong 18 tháng.
  • Nghiên cứu TRIUMPH (Translational Initiative on Unique and Novel Strategies for Management of Patients with Heart Failure) theo dõi 496 bệnh nhân suy tim cấp trong thời gian trung bình 325 ngày cho thấy mức Galectin-3 trung bình là 24 ng/ml và là yếu tố dự báo độc lập với NT-proBNP đối với biến cố lâm sàng.
  • Nghiên cứu của Tang và cộng sự (2011) theo dõi 5 năm ở bệnh nhân suy tim mạn cho thấy Galectin-3 tăng cao có liên quan đến tử vong do mọi nguyên nhân (HR = 1,86; 95% CI: 1,36 - 2,54; p < 0,001).
  • Các thử nghiệm Framingham, FINRISK, PREVEND xác định giá trị của Galectin-3 trong dự đoán suy tim mới mắc; nghiên cứu PROVE-IT TIMI 22 (Grandin và cộng sự) chứng minh nồng độ Galectin-3 đo ở ngày thứ 7 sau nhồi máu cơ tim liên quan chặt chẽ với nguy cơ tiến triển suy tim.

Các nghiên cứu trong nước

  • Nghiên cứu của Nguyễn Thúy Nga, Đỗ Doãn Lợi, Phạm Thiện Ngọc thực hiện trên 80 bệnh nhân suy tim và 50 người chứng, chỉ ra điểm cắt Galectin-3 trong chẩn đoán suy tim là 19,1 ng/mL (độ nhạy 85%, độ đặc hiệu 94%). Nồng độ Galectin-3 ở nhóm suy tim (35,01 ± 20,61 ng/mL) cao hơn nhóm chứng (15,01 ± 2,85 ng/mL); nồng độ tăng dần theo NYHA II (21,08 ± 4,57 ng/mL), NYHA III (35,86 ± 10,50 ng/mL), NYHA IV (70,06 ± 20,23 ng/mL) và có tương quan thuận với NT-proBNP (r = 0,6; p < 0,001).
  • Nghiên cứu của Đặng Quang Toàn và Tạ Thị Thanh Hương trên 113 bệnh nhân suy tim cấp và 52 người chứng, ghi nhận Galectin-3 huyết thanh ở nhóm suy tim là 40,2 ± 2,1 ng/mL, cao hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng 17,6 ± 4,3 ng/mL (p < 0,001).
  • Nghiên cứu của Lại Trung Tín, Đoàn Thị Tuyết Ngân, Nguyễn Trung Kiên trên 122 bệnh nhân suy tim phân suất tống máu giảm, ghi nhận Galectin-3 trung bình là 54,02 ± 23,88 ng/mL, tăng dần theo các phân độ NYHA II (36,41 ± 21,52 ng/mL), NYHA III (63,04 ± 20,79 ng/mL) và NYHA IV (105,38 ± 13,52 ng/mL).
Tác giả Đối tượng nghiên cứu Kết quả nồng độ Galectin-3 huyết thanh Kết luận chính
Nguyễn Thúy Nga và cs 80 BN suy tim, 50 người chứng Nhóm bệnh: 35,01 ± 20,61 ng/mL
Nhóm chứng: 15,01 ± 2,85 ng/mL
Điểm cắt chẩn đoán: 19,1 ng/mL (độ nhạy 85%, độ đặc hiệu 94%); tương quan với NT-proBNP (r = 0,6).
Đặng Quang Toàn và cs 113 BN suy tim cấp, 52 người chứng Nhóm bệnh: 40,2 ± 2,1 ng/mL
Nhóm chứng: 17,6 ± 4,3 ng/mL
Nồng độ Galectin-3 ở nhóm suy tim cấp cao hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê (p < 0,001).
Lại Trung Tín và cs 122 BN suy tim có EF giảm (HFrEF) Nồng độ trung bình: 54,02 ± 23,88 ng/mL
NYHA II: 36,41 ± 21,52 ng/mL
NYHA III: 63,04 ± 20,79 ng/mL
NYHA IV: 105,38 ± 13,52 ng/mL
Galectin-3 tăng dần theo nhóm tuổi và mức độ suy tim theo NYHA.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

Mặc dù đã có các công bố bước đầu, chưa có nhiều nghiên cứu tại Việt Nam khảo sát toàn diện sự biến thiên nồng độ Galectin-3 huyết thanh ở cả hai thời điểm nhập viện và trước xuất viện, phân tích so sánh chi tiết giữa 3 phân nhóm suy tim theo phân suất tống máu (HFrEF, HFmrEF, HFpEF), đánh giá mối tương quan giữa Galectin-3 với các thông số cấu trúc/hình thái thất trái chuyên sâu trên siêu âm tim (IVSd, LVPWTd, RWT, LVMI, LVEF) cùng với xét nghiệm BNP, và xác định giá trị của chỉ điểm này trong tiên lượng các biến cố tim mạch ngắn hạn trong thời gian nằm viện. Luận án của Bùi Thị Thanh Hiền được thực hiện nhằm giải quyết trực tiếp khoảng trống này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và sinh học phân tử

Galectin-3 là một protein thuộc họ lectin động vật gắn kết β-galactose tan trong nước, trọng lượng phân tử 29-35 kDa, được mã hóa bởi gen LGALS3 nằm trên nhiễm sắc thể 14 (vị trí q21-22). Galectin-3 có cấu trúc dạng chimera duy nhất gồm hai miền: đầu C tận (khoảng 130 axit amin) chứa miền nhận diện carbohydrate (CRD) và đầu N tận (110-130 axit amin) giàu proline, glycine, tyrosine và glutamine.

Trong cơ chế bệnh sinh của suy tim, khi cơ tim bị tổn thương hoặc chịu kích thích áp lực/thể tích mạn tính, đại thực bào được kích hoạt và tiết ra Galectin-3 vào chất nền ngoại bào. Galectin-3 kích thích các nguyên bào sợi nghỉ ngơi chuyển hóa thành nguyên bào sợi hoạt động, làm tăng biểu hiện actin cơ trơn alpha (α-SMA - chỉ điểm xơ hóa nội bào) và chuỗi collagen α-1 type 1 (COL1A1 - chỉ điểm xơ hóa ngoại bào). Galectin-3 còn tham gia điều hòa chất nền ngoại bào qua hệ thống men metalloproteinase (MMPs) và men ức chế mô metalloproteinase (TIMPs), thông qua con đường phosphatase and tensin homolog (PTEN) và protein tyrosine kinase 2 (PTK2). Sự lắng đọng và liên kết chéo của collagen type I trong mô kẽ dẫn đến xơ hóa cơ tim, phì đại thất trái, làm dày thành tim và gây suy giảm chức năng co bóp tâm thu cũng như chức năng giãn tâm trương. Ngoài ra, Galectin-3 còn tham gia vào quá trình chết tế bào theo chương trình (có tính tương đồng và phối hợp với Bcl-2), thúc đẩy phản ứng viêm qua trung gian đại thực bào và tăng sinh mạch qua việc kích thích tiết IL-8.

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có nhóm chứng, kết hợp theo dõi dọc các biến cố lâm sàng trong thời gian nằm viện.
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán và phân loại:
    • Chẩn đoán suy tim dựa trên hướng dẫn của Hội Tim Châu Âu (ESC 2016/2021).
    • Phân loại suy tim theo phân suất tống máu (LVEF): Suy tim phân suất tống máu giảm (HFrEF: LVEF < 40%), suy tim phân suất tống máu giảm nhẹ/khoảng giữa (HFmrEF: LVEF 40 - 49%), và suy tim phân suất tống máu bảo tồn (HFpEF: LVEF ≥ 50%).
    • Phân độ chức năng suy tim theo Hội Tim New York (NYHA I, II, III, IV) và phân loại giai đoạn theo ACC/AHA (giai đoạn A, B, C, D).
Phân nhóm suy tim Tiêu chuẩn phân suất tống máu (LVEF) Tiêu chuẩn bổ sung theo ESC
HFrEF (EF giảm) LVEF < 40% Triệu chứng cơ năng ± dấu hiệu thực thể suy tim.
HFmrEF (EF khoảng giữa / giảm nhẹ) LVEF 40 - 49% Triệu chứng ± dấu hiệu; Peptide lợi niệu tăng (BNP > 35 pg/mL, NT-proBNP > 125 pg/mL); kèm ít nhất 1 tiêu chuẩn: dày thất trái/lớn nhĩ trái hoặc rối loạn chức năng tâm trương.
HFpEF (EF bảo tồn) LVEF ≥ 50% Triệu chứng ± dấu hiệu; Peptide lợi niệu tăng (BNP > 35 pg/mL, NT-proBNP > 125 pg/mL); kèm ít nhất 1 tiêu chuẩn: dày thất trái/lớn nhĩ trái hoặc rối loạn chức năng tâm trương.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu và kỹ thuật cận lâm sàng:
    • Xét nghiệm sinh hóa: Định lượng nồng độ Galectin-3 huyết thanh bằng phương pháp miễn dịch ở thời điểm lúc nhập viện và trước khi xuất viện. Định lượng nồng độ peptide lợi niệu BNP huyết thanh. Đo độ lọc cầu thận ước tính (eGFR) và số lượng bạch cầu.
    • Siêu âm tim: Thực hiện siêu âm tim qua thành ngực (M-mode, 2D theo phương pháp Simpson sửa đổi và phương pháp Teichholz) để đo đạc các thông số: đường kính thất trái cuối tâm trương (LVDd), đường kính thất trái cuối tâm thu (LVDs), thể tích thất trái cuối tâm trương (LVEDV), thể tích thất trái cuối tâm thu (LVESV), phân suất tống máu (LVEF), phân suất co cơ (FS), độ dày vách liên thất thì tâm trương/tâm thu (IVSd, IVSs), độ dày thành sau thất trái thì tâm trương/tâm thu (LVPWTd, LVPWTs), khối lượng cơ thất trái (LVM), chỉ số khối cơ thất trái (LVMI) và độ dày thành tương đối (RWT = 2 × LVPWTd / LVDd).
    • Theo dõi biến cố tim mạch nội viện: Ghi nhận các biến cố xảy ra trong quá trình điều trị nội trú gồm suy tim nặng hơn, xuất hiện hội chứng động mạch vành cấp, rối loạn nhịp thất và tử vong do mọi nguyên nhân.
  • Xử lý số liệu: Ứng dụng các phương pháp thống kê y học. So sánh các biến số định lượng bằng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn (SD), kiểm định sai khác giữa các nhóm; phân tích hồi quy tuyến tính đa biến; phân tích tương quan Pearson/Spearman; xây dựng đường cong ROC (Receiver Operating Characteristic), tính toán diện tích dưới đường cong (AUC), xác định điểm cắt tối ưu cùng độ nhạy và độ đặc hiệu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tài liệu

Chương 1 trình bày chi tiết về định nghĩa suy tim theo khuyến cáo của ESC 2016 và cập nhật ESC 2021; phân loại suy tim theo giai đoạn tiến triển (ACC/AHA), theo mức độ suy giảm chức năng vận động (NYHA I-IV), theo phân suất tống máu (HFrEF, HFmrEF, HFpEF) và theo diễn tiến lâm sàng (suy tim cấp, suy tim mất bù cấp, suy tim cấp mới xuất hiện, suy tim mạn ổn định, suy tim tiến triển). Chương này làm rõ dịch tễ học suy tim thế giới và khu vực, trong đó nhấn mạnh gánh nặng bệnh tật với hơn 5,7 triệu người bệnh tại Mỹ (dự báo vượt 8 triệu vào năm 2030).

Về mặt cơ chế, chương tổng quan phân tích sâu tiến trình tái cấu trúc thất trái do quá tải áp lực và thể tích, dẫn đến giãn buồng tim, phì đại tế bào cơ tim, hở van hai lá chức năng và giảm tưới máu dưới nội tâm mạc. Các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh được tổng kết gồm siêu âm tim (M-mode, 2D Simpson, 3D, siêu âm Doppler mô), chụp cắt lớp vi tính, chụp mạch máu phóng xạ hạt nhân (ERNA) và cộng hưởng từ tim (CMR - tiêu chuẩn vàng trong đánh giá thể tích, khối lượng cơ tim và xơ hóa mô kẽ qua ngấm thuốc tương phản muộn LGE).

Chương 1 cũng điểm lại hệ thống các chỉ điểm sinh học trong suy tim tương ứng với các cơ chế bệnh sinh:

  1. Căng thành cơ tim: Peptide natri lợi niệu (ANP, BNP, NT-proBNP, CNP).
  2. Tổn thương cơ tim: Troponin tim (hs-TnT, hs-TnI).
  3. Kích hoạt thần kinh - thể dịch: MR-proADM, Copeptin, Chromogranin A.
  4. Tái cấu trúc và xơ hóa mô kẽ: ST2 hòa tan (sST2) và đặc biệt là Galectin-3.

Chương này trình bày toàn diện cấu trúc phân tử chimera, mã hóa gen LGALS3, các con đường chuyển hóa, điều hòa men MMP/TIMP và vai trò sinh học của Galectin-3 trong chết theo chương trình, kết dính tế bào, tăng sinh mạch và xơ hóa cơ tim/mạch máu; cùng với các bằng chứng lâm sàng quốc tế và trong nước, cùng khuyến cáo phân tầng nguy cơ của ACC/AHA 2017 (suy tim cấp nhóm IIb, mức chứng cứ A; suy tim mạn nhóm IIb, mức chứng cứ B).

Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình chọn mẫu bệnh nhân suy tim và nhóm chứng không suy tim điều trị tại Bệnh viện Trưng Vương. Luận án xây dựng quy trình thu thập thông tin hành chính, tiền sử bệnh lý (tăng huyết áp, đái tháo đường typ 2, bệnh động mạch vành, rối loạn lipid máu theo NCEP-ATP III, béo phì theo tiêu chuẩn WHO dành cho người châu Á), các triệu chứng lâm sàng lúc nhập viện và thuốc điều trị.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm xác định quy trình lấy mẫu máu xét nghiệm Galectin-3 huyết thanh tại 2 thời điểm (nhập viện và trước khi xuất viện), xét nghiệm BNP, đánh giá chức năng thận qua eGFR và xét nghiệm công thức bạch cầu. Quy trình siêu âm tim chuẩn hóa theo khuyến cáo đo đạc đầy đủ các thông số đường kính, thể tích, khối lượng cơ và độ dày thành tim thất trái. Luận án quy định rõ tiêu chuẩn xác định các biến cố tim mạch nội viện và áp dụng các thuật toán thống kê y học xử lý số liệu đảm bảo tính khách quan và tuân thủ các quy chuẩn y đức trong nghiên cứu y sinh học.

Chương 3. Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các kết quả nghiên cứu định lượng cụ thể thông qua hệ thống bảng biểu và sơ đồ:

  • Đặc điểm chung: Phân tích sự phân bố tuổi, giới, các yếu tố nguy cơ tim mạch, triệu chứng lâm sàng lúc nhập viện, phân bố mức độ suy tim theo NYHA và tỷ lệ các nhóm phân suất tống máu (HFrEF, HFmrEF, HFpEF). So sánh sự khác biệt về số lượng bạch cầu, độ lọc cầu thận eGFR và các thông số hình thái trên siêu âm tim giữa nhóm suy tim và nhóm không suy tim.
  • Nồng độ Galectin-3 huyết thanh: Nồng độ Galectin-3 ở nhóm suy tim cao hơn rõ rệt so với nhóm không suy tim. Phân tích đường cong ROC cho thấy Galectin-3 có giá trị chẩn đoán suy tim với diện tích dưới đường cong AUC = 0,756 (p < 0,001). Luận án cũng phân tích sự biến đổi nồng độ Galectin-3 giữa thời điểm nhập viện và trước khi xuất viện, cũng như so sánh giữa các phân nhóm NYHA và các phân nhóm phân suất tống máu.
  • Tương quan giữa Galectin-3 với tái cấu trúc thất trái và BNP: Kết quả phân tích ghi nhận mối liên quan và tương quan có ý nghĩa thống kê giữa nồng độ Galectin-3 huyết thanh với các thông số cấu trúc cơ tim trên siêu âm: tương quan thuận với độ dày thành sau thất trái tâm trương (LVPWTd), độ dày thành sau thất trái tâm thu (LVPWTs), độ dày thành tương đối (RWT), chỉ số khối cơ thất trái (LVMI) và có tương quan với phân suất tống máu thất trái (LVEF). Đồng thời, nồng độ Galectin-3 huyết thanh tương quan thuận với nồng độ BNP huyết thanh lúc nhập viện. Phân tích mô hình hồi quy tuyến tính đa biến xác định các yếu tố liên quan độc lập với nồng độ Galectin-3 lúc nhập viện.
  • Tiên lượng biến cố tim mạch nội viện: Nồng độ Galectin-3 huyết thanh lúc nhập viện có liên quan có ý nghĩa với tỷ lệ xuất hiện các biến cố tim mạch trong thời gian nằm viện gồm: biến cố suy tim nặng hơn, hội chứng động mạch vành cấp, biến cố rối loạn nhịp thất, biến cố tử vong chung và biến cố tim mạch gộp. Xây dựng đường cong ROC tiên lượng từng biến cố và so sánh diện tích dưới đường cong giữa Galectin-3 và BNP trong tiên lượng tử vong và biến cố tim mạch chung.

Chương 4. Bàn luận

Chương 4 tập trung phân tích, lý giải và so sánh các phát hiện nghiên cứu với các y văn trong nước và quốc tế:

  • Biện luận về đặc điểm lâm sàng, tỷ lệ suy tim theo tuổi, giới, các bệnh lý đi kèm và sự biến đổi của các chỉ số siêu âm tim, chức năng thận ở bệnh nhân suy tim.
  • Biện giải sự gia tăng nồng độ Galectin-3 ở bệnh nhân suy tim dựa trên cơ chế sinh học phân tử về viêm và hoạt hóa nguyên bào sợi; đối chiếu với nghiên cứu của Nguyễn Thúy Nga, Đặng Quang Toàn, Lại Trung Tín cũng như các tác giả quốc tế. Bàn luận về sự khác biệt nồng độ Galectin-3 giữa các phân nhóm NYHA và giữa các nhóm EF (HFrEF, HFmrEF, HFpEF) tại thời điểm nhập viện và trước xuất viện.
  • Phân tích cơ chế giải thích mối tương quan giữa Galectin-3 với tình trạng tái cấu trúc thất trái (dày thành tim, tăng RWT, tăng khối lượng cơ tim) và sự phối hợp giữa Galectin-3 (chỉ điểm xơ hóa) với BNP (chỉ điểm căng thành cơ tim).
  • Bàn luận về giá trị tiên lượng của Galectin-3 đối với các biến cố tim mạch ngắn hạn trong thời gian nằm viện, so sánh với kết quả từ các thử nghiệm PRIDE, TRIUMPH, COACH và khuyến cáo của ACC/AHA 2017.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  1. Luận án cung cấp các dữ liệu khoa học về nồng độ Galectin-3 huyết thanh ở bệnh nhân suy tim tại Việt Nam, khẳng định vai trò của dấu ấn xơ hóa mô kẽ này trong chẩn đoán suy tim với diện tích dưới đường cong ROC đạt AUC = 0,756 (p < 0,001).
  2. Làm sáng tỏ sự biến đổi nồng độ Galectin-3 huyết thanh theo các mức độ suy tim theo NYHA và giữa các phân nhóm suy tim theo phân suất tống máu (HFrEF, HFmrEF, HFpEF) ở hai thời điểm nhập viện và trước xuất viện.
  3. Xác lập các bằng chứng về mối tương quan giữa nồng độ Galectin-3 huyết thanh với các chỉ số tái cấu trúc hình thái thất trái trên siêu âm tim (LVPWTd, LVPWTs, RWT, LVMI, LVEF) và với nồng độ BNP huyết thanh, chứng minh mối liên hệ giữa xơ hóa mô kẽ và thay đổi cấu trúc cơ học của tim.

Đóng góp về mặt thực tiễn lâm sàng

  1. Đưa ra cơ sở thực tiễn cho việc ứng dụng xét nghiệm định lượng Galectin-3 huyết thanh trên lâm sàng để hỗ trợ chẩn đoán suy tim, đánh giá mức độ tái cấu trúc cơ tim.
  2. Chứng minh nồng độ Galectin-3 huyết thanh lúc nhập viện có giá trị phân tầng nguy cơ và tiên lượng các biến cố tim mạch nội viện (suy tim tiến triển nặng hơn, hội chứng động mạch vành cấp, rối loạn nhịp thất và tử vong do mọi nguyên nhân).
  3. Đề xuất việc kết hợp định lượng Galectin-3 (chỉ điểm xơ hóa và tái cấu trúc) với peptide lợi niệu BNP (chỉ điểm căng thành cơ tim) và các thông số siêu âm tim giúp nâng cao độ chính xác trong tiên lượng và lập kế hoạch điều trị cá thể hóa cho bệnh nhân suy tim nằm viện.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Nghiên cứu được thực hiện tại một trung tâm (Bệnh viện Trưng Vương), do đó cỡ mẫu và tính đại diện cho quần thể suy tim nói chung có thể bị giới hạn.
  • Đánh giá biến cố lâm sàng chỉ tập trung trong thời gian bệnh nhân nằm viện (ngắn hạn), chưa theo dõi dọc dài hạn sau xuất viện (như 6 tháng, 1 năm, 5 năm) để đánh giá đầy đủ tỷ lệ tái nhập viện và tử vong ngoại viện.
  • Chưa khảo sát sâu sự tác động của từng nhóm thuốc điều trị suy tim cụ thể lên động học nồng độ Galectin-3 huyết thanh theo thời gian dài.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn trên nhiều nhóm đối tượng bệnh nhân suy tim khác nhau.
  • Tiến hành theo dõi dọc dài hạn (12 tháng đến 5 năm) sau khi xuất viện để xác định giá trị tiên lượng dài hạn của Galectin-3 đối với tỷ lệ tử vong tim mạch và tái nhập viện do suy tim tại Việt Nam.
  • Khảo sát sự thay đổi nồng độ Galectin-3 huyết thanh trước và sau khi tối ưu hóa các phác đồ điều trị nội khoa chuẩn nhằm đánh giá vai trò của Galectin-3 như một dấu ấn theo dõi đáp ứng điều trị.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:

  • Bác sĩ chuyên khoa Tim mạch và Nội khoa: Cung cấp cơ sở thực hành trong việc chỉ định xét nghiệm Galectin-3 kết hợp với BNP và siêu âm tim để chẩn đoán, đánh giá mức độ xơ hóa và phân tầng nguy cơ biến cố ở bệnh nhân suy tim nội trú.
  • Nghiên cứu sinh, học viên sau đại học và giảng viên y dược: Tài liệu tham khảo toàn diện về sinh học phân tử của Galectin-3, cơ chế tái cấu trúc cơ tim, các chỉ điểm sinh học tim mạch và phương pháp thiết kế nghiên cứu lâm sàng kết hợp cận lâm sàng chuyên sâu.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Phần tổng quan về cơ chế bệnh sinh phân tử của Galectin-3 trong xơ hóa cơ tim (Chương 1) và phần số liệu phân tích tương quan giữa Galectin-3 với các thông số tái cấu trúc thất trái trên siêu âm tim cùng giá trị tiên lượng biến cố nội viện (Chương 3 và Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Galectin-3 đóng vai trò gì trong cơ chế bệnh sinh của suy tim?

Galectin-3 là một lectin gắn β-galactose do đại thực bào hoạt hóa tiết ra khi cơ tim bị tổn thương hoặc quá tải huyết động. Galectin-3 kích hoạt nguyên bào sợi tăng sinh, làm tăng biểu hiện α-SMA và COL1A1, tổng hợp collagen type I lắng đọng trong chất nền ngoại bào. Quá trình này gây xơ hóa mô kẽ cơ tim, làm thay đổi cấu trúc, kích thước buồng thất (tái cấu trúc tim), dẫn đến suy giảm chức năng tâm thu và tâm trương.

2. Hướng dẫn của ACC/AHA năm 2017 khuyến cáo sử dụng Galectin-3 như thế nào?

Hướng dẫn của ACC/AHA 2017 khuyến cáo định lượng các chỉ điểm sinh học của xơ hóa cơ tim, trong đó có Galectin-3, nhằm mục đích tiên lượng và phân tầng nguy cơ bổ sung:

  • Đối với suy tim cấp: Khuyến cáo nhóm IIb, mức độ chứng cứ A.
  • Đối với suy tim mạn (giai đoạn C, D): Khuyến cáo nhóm IIb, mức độ chứng cứ B.

3. Giá trị diện tích dưới đường cong (AUC) của Galectin-3 trong chẩn đoán suy tim của luận án là bao nhiêu?

Theo kết quả nghiên cứu của luận án, đường cong ROC của nồng độ Galectin-3 huyết thanh trong chẩn đoán suy tim có diện tích dưới đường cong AUC = 0,756 với mức ý nghĩa thống kê p < 0,001.

4. Kết quả nồng độ Galectin-3 huyết thanh trong các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam được ghi nhận như thế nào?

  • Nghiên cứu của Nguyễn Thúy Nga và cs: Nhóm suy tim có nồng độ Galectin-3 trung bình là 35,01 ± 20,61 ng/mL (nhóm chứng là 15,01 ± 2,85 ng/mL; điểm cắt chẩn đoán 19,1 ng/mL).
  • Nghiên cứu của Đặng Quang Toàn và cs: Nhóm suy tim cấp có nồng độ Galectin-3 là 40,2 ± 2,1 ng/mL (nhóm chứng là 17,6 ± 4,3 ng/mL, p < 0,001).
  • Nghiên cứu của Lại Trung Tín và cs: Bệnh nhân suy tim phân suất tống máu giảm có nồng độ trung bình là 54,02 ± 23,88 ng/mL (tăng từ 36,41 ng/mL ở NYHA II lên 105,38 ng/mL ở NYHA IV).

5. Nồng độ Galectin-3 huyết thanh có mối tương quan với những thông số siêu âm tim nào trong luận án?

Luận án ghi nhận nồng độ Galectin-3 huyết thanh có tương quan với các thông số phản ánh tái cấu trúc thất trái trên siêu âm tim bao gồm: độ dày thành sau thất trái tâm trương (LVPWTd), độ dày thành sau thất trái tâm thu (LVPWTs), độ dày thành tương đối (RWT), chỉ số khối cơ thất trái (LVMI) và phân suất tống máu thất trái (LVEF).


Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của Bùi Thị Thanh Hiền đã khảo sát sự biến đổi nồng độ Galectin-3 huyết thanh ở bệnh nhân suy tim và khẳng định giá trị của chỉ điểm sinh học này trong chẩn đoán suy tim với AUC = 0,756. Nghiên cứu đã chứng minh mối tương quan có ý nghĩa giữa nồng độ Galectin-3 với mức độ suy tim theo NYHA, các phân nhóm phân suất tống máu, nồng độ BNP huyết thanh và các thông số hình thái tái cấu trúc thất trái trên siêu âm tim (LVPWTd, LVPWTs, RWT, LVMI, LVEF). Đồng thời, nồng độ Galectin-3 huyết thanh lúc nhập viện thể hiện giá trị trong tiên lượng các biến cố tim mạch nội viện bao gồm suy tim nặng hơn, hội chứng động mạch vành cấp, rối loạn nhịp thất và tử vong chung. Kết quả của luận án cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để ứng dụng xét nghiệm Galectin-3 kết hợp với các phương pháp thăm dò kinh điển trong phân tầng nguy cơ và theo dõi điều trị bệnh nhân suy tim tại Việt Nam.