mở đầu bằng: Viết chính tả g/gh, ng/ngh, c/k/q… Tập ghi các dấu câu (dấu chấm, dấu chấm hỏi). Tập trình bài một bài chính tả ngắn *Về kiến thức: - Ngữ âm và chữ viết: + Bƣớc đầu nhận biết sự tƣơng ứng giữa âm với chữ cái, thanh điệu và dấu ghi thanh. Luan van + Chính tả: Bƣớc đầu nhận biết đƣợc một số quy tắc chính tả. - Từ vựng: Học thêm 200 đến 300 từ ngữ (kể cả thành ngữ, tục ngữ).
- Ngữ pháp: + Nhận biết cách dùng dấu chấm, dấu chấm hỏi. + Ghi nhớ các nghi thức lời nói. - Văn: làm quen với các bài dạng văn vần, văn xuôi. *Về ngữ liệu: Giai đoạn học chữ: là những từ, ngữ, câu ngắn, đoạn ngắn, các thành ngữ, tục ngữ, ca dao… phù hợp với yêu cầu học chữ và rèn kĩ năng.
Ngữ liệu phù hợp với lứa tuổi của HS, có tác dụng giáo dục và mở rộng sự hiểu biết. Giai đoạn sau học chữ: là những câu, đoạn nói về thiên nhiên, trƣờng học, gia đình, thiếu nhi. Ngữ liệu có cách diễn đạt tỏng sáng, dễ hiểu, có tác dụng giáo dục giá trị nhân văn và bƣớc đầu cung cấp cho HS những hiểu biết về cuộc sống. Chú ý thích đáng đến các văn bản phản ánh đặc điểm của các địa phƣơng trên đất nƣớc ta.
Một số vấn đề chung về môn Tiếng Việt Công nghệ Giáo dục (CGD) cho học sinh lớp 1 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Giáo dục Giáo dục là hoạt động giúp con ngƣời “sự tự quyết đƣợc lí trí hƣớng dẫn và trƣởng thành. Giáo dục là sự đào tạo và phát triển con ngƣời về các mặt trí tuệ và tình cảm, trau dồi cho con ngƣời ý thức trọng sự thật, yêu cái đẹp, làm điều hay.
Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu rằng: Giáo dục là hoạt động đào tạo có tổ chức giúp con ngƣời phát triển toàn diện về các mặt: đức, trí, thể, mĩ.2 Chương trình giáo dục Chƣơng trình giáo dục hay còn gọi là chƣơng trình dạy học là một hệ thống có hiệu lực để định hình các quá trình giáo dục trong mối liên quan với những mục tiêu dạy học đã đƣợc xác định. Chƣơng trình giáo dục là văn kiện quy định những mục tiêu, những định hƣớng cho nội dung tổ chức, phƣơng pháp dạy học và đánh giá của các quá trình giáo dục. Nhƣ vậy, chƣơng trình giáo dục là một hệ thống các nội dung học tập, phƣơng pháp dạy học, quá trình tổ chức và đánh giá kết quả nhằm hƣớng tới mục tiêu đã đƣợc xác định. Công nghệ giáo dục a.
Quan điểm về công nghệ giáo dục ở quốc tế: Thập niên 60 của thế kỉ XX, các tác giả Trung Quốc Lƣơng Vị Hùng, Khổng Khang Hoa đã cho “Kĩ thuật học giáo dục (cũng gọi là công nghệ học giáo dục) là một môn khoa học có tính kĩ thuật tổng hợp về giáo dục, ứng dụng lí luận và kĩ thuật của giáo dục học, tâm lý học, sinh lý học, thuyết điều khiển, thuyết thông tin, thuyết hệ thống, máy tính điện tử để nghiên cứu thực hiện “tối ƣu hóa giáo dục”. Năm 1986, UNESCO trong “Chú giải thu t ng q n công ngh giáo d ” (theo Trần Bá Hoành 1996) đã định nghĩa “Công nghệ giáo dục là một tập hợp gắn bó chặt chẽ những phƣơng pháp, phƣơng tiện, kĩ thuật học tập, đánh giá đƣợc nhận thức và sử dụng tùy theo những mục tiêu đang theo đuổi, có liên hệ với nội dung giảng dạy và lợi ích của ngƣời học. Đối với ngƣời dạy, sử dụng một công nghệ giáo dục thích hợp có nghĩa là biết tổ chức quá trình học tập và đảm bảo sự thành công của nó. Công nghệ giáo dục trƣớc hết là tƣ tƣởng và kèm theo một cách làm nhằm một mục đích thực tiễn.
Mọi lí luận, mọi tƣ tƣởng, mọi ý đồ có liên quan đến giáo dục, nhằm muốn đƣa đến cho từng em học sinh, thì nhập lại thành một dòng, nhƣ dòng sữa mẹ nuôi bé thơ. Nhƣ giáo sƣ Hồ Ngọc Đại khẳng định, xét về mặt kĩ thuật thuần túy thì CGD mƣợn nguyên lí cơ bản của công nghệ sản xuất công nghiệp là “phân giải quá trình sản xuất ngay trong bản thân nó thành các yếu tố cấu thành nó. Giáo Luan van dục cũng có sản phẩm của mình. Sản phẩm ở đây hiểu một cách tƣơng đối là sản phẩm của một việc làm trọn vẹn, việc đã xong.” Dựa trên quan điểm của các nhà Giáo dục học trên thế giới, có thể hiểu rằng: Công nghệ giáo dục (dạy học) là phƣơng pháp hệ thống trong việc thiết kế toàn bộ quá trình giảng dạy và lĩnh hội tri thức với sự tính đến các phƣơng tiện kĩ thuật và nguồn nhân lực cùng sự tƣơng tác giữa chúng nhằm tối ƣu hóa các hình thức đào tạo.
Quan điểm về công nghệ giáo dục trong nước Vũ Trọng Rỹ (1995) trong nghiên cứu của mình trên cơ sở chấp nhận quan niệm công nghệ giáo dục nhƣ UNESCO đã nêu, trên bình diện lý luận dạy học đã thống nhất nên dùng thuật ngữ công nghệ dạy học thay cho thuật ngữ công nghệ giáo dục. Công nghệ học dùng trong luồng giảng dạy, hiểu theo nghĩa cổ truyền quen thuộc, nhằm vào tri thức mà bản chất là tri thức khoa học, dƣới hình thức khái niệm. Công nghệ học là công nghệ làm ra khái niệm khoa học, còn công nghệ giáo dục thì làm ra các phẩm chất cá nhân, nhƣ lòng vị tha, tinh thần trách nhiệm, niềm tin đạo đức, lối sống lành mạnh. Công nghệ giáo dục là đứa em ruột cùng cha cùng mẹ với công nghệ sản xuất vật chất, có xu hƣớng làm ra sản phẩm tất yếu thì CGD buộc phải thiết kế theo một chuỗi thao tác ope‟rationnelle.
Các tác giả trong nƣớc đã thống nhất mô tả công nghệ dạy học là lý luận dạy học ứng dụng, chuyên nghiên cứu quá trình dạy học theo hƣớng phân hóa- cá thể hóa ngƣời học tiến lên theo nhịp độ cá nhân, nâng cao hiệu quả, chất lƣợng và năng suất và cho rằng công nghệ dạy học có nhiệm vụ và đặc trƣng nhất định. Các tác giả đó cho rằng công nghệ dạy học có hai nhi m v ản, đồng thời, đó là: Thứ nhất, nghiên cứu để chuyển hóa vào thực tiễn dạy học những thành tựu mới nhất của khoa học- công nghệ, của khoa học giáo dục, nhất là tâm lý học dạy học, nhằm thiết kế đƣợc những hệ dạy học tối ƣu hƣớng vào việc phân hóa- cá thể hóa theo nhịp độ riêng quá trình lĩnh hội. Thứ hai là, sử dụng tối đa và tối ƣu các phƣơng pháp, hình thức tổ chức dạy học theo lối mới và các phƣơng tiện kĩ thuật, đặc biệt dựa vào những hệ truyền tin đa dạng, phối hợp. Nhƣ vậy, thống nhất quan điểm của các nhà giáo dục trong nƣớc, Công nghệ giáo dục là việc nghiên cứu quá trình dạy học theo hƣớng phân hóa- cá thể Luan van hóa ngƣời học tiến lên theo nhịp độ cá nhân, nâng cao hiệu quả, chất lƣợng và năng suất, có nhiệm vụ và đặc trƣng nhất định.
Chương trình Công nghệ giáo dục Theo K.Frey “Chƣơng trình là sự diễn tả, trình bày có hệ thống việc dạy học đƣợc dự kiến trong một khoảng thời gian xác định mà sản phẩm của sự trình bày là một hệ thống xác định bởi nhiều thành tố khác nhau nhằm chuẩn bị, thực hiện và đánh giá một cách tối ƣu việc học”. Theo Nguyễn Hữu Chí “Chƣơng trình giáo dục là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các mục tiêu học tập mà ngƣời học cần đạt đƣợc, đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ nội dung học tập, các phƣơng pháp, phƣơng tiện, cách thức tổ chức học tập, đánh giá kết quả học tập… nhằm đạt đƣợc mục tiêu học tập đề ra.” Dựa trên cơ sở đó và dựa trên cơ sở tâm lí học thế kỉ XX, chƣơng trình Công nghệ giáo dục đƣợc xây dựng trên ba nguyên tắc: nguyên tắc phát triển, nguyên tắc chuẩn mực, nguyên tắc tối thiểu. Từ những quan điểm trên, có thể hiểu Chƣơng trình Công nghệ giáo dục là việc dạy học có hệ thống xác định rõ mức độ học tập, hình thức và phƣơng pháp dạy học theo hƣớng phân hóa, cá thể hóa ngƣời học theo các nguyên tắc đề ra nhằn nâng cao chất lƣợng của việc học. Lịch sử hình thành và phát triển của Tiếng Việt 1 CGD Từ năm 1977, giáo sƣ Hồ Ngọc Đại đã bắt đầu tổ chức nghiên cứu khoa học, biên soạn chƣơng trình sách giáo khoa nói chung và sách Tiếng Việt 1 nói riêng theo quan điểm CGD.
Năm học 1978-1979, chƣơng trình bắt đầu triển khai thực nghiệm giáo dục ở Trung ƣơng nhằm làm ra một hình mẫu giáo dục trẻ em Việt Nam hiện đại. Trƣờng thực nghiệm Giảng Võ đƣợc thành lập vào năm 1978 tại Hà Nội. Từ đó liên tục nhận học sinh vào lớp Một và phát triển tự nhiên lên các lớp trên. Năm học 1985-1986, khi mô hình thực nghiệm ổn định, có kết quả, Bộ Giáo dục và Đào tạo bắt đầu đƣa hình mẫu này về địa phƣơng ở 13 tỉnh thành phố khắp 3 miền đất nƣớc.
Năm học 1988-1989 mô hình nhà trƣờng CGD bắt đầu đƣợc mở rộng quy mô có tính chất đại trà. Luan van Năm học 1989-1990 có 22 tỉnh, thành phố tiếp nhận CGD cho hơn 1000 lớp với hơn 40. Năm học 2001-2002, ngoài trƣờng thực nghiệm ở Hà Nội, CGD đã đƣợc 42 tỉnh thành đón nhận. Tuy số lƣợng học sinh không đƣợc thống kê đầy đủ nhƣng cũng cho thấy chƣơng trình này đã đƣợc mở rộng trên phạm vi cả nƣớc.
Sau năm 2002, theo quy định của Luật Giáo dục thực hiện một chƣơng trình, bộ sách thống nhất trên cả nƣớc nên chƣơng trình CGD bị thu hẹp từ 2002-2008. Trƣớc tình hình học Tiếng Việt của học sinh dân tộc còn nhiều hạn chế, từ năm học 2008-2009, sau khi đề tài trọng điểm cấp Bộ về triển khai Tiếng Việt 1 cho học sinh dân tộc thiểu số do Trung tâm CGD thực hiện thành công, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép thí điểm dạy Tiếng Việt 1 ở những vùng khó khăn, có nhiều dân tộc thiểu số và ở cả những địa phƣơng có nhu cầu. Tiếng Việt 1 CGD đƣợc thực hiện ở cả những vùng khó khăn. Tính đến năm 2013-2014, có 38 tỉnh/thành tham gia học Tiếng Việt 1 CGD với số lƣợng lên đến gần 200.000 học sinh và đƣợc triển khai ở những tỉnh thành khác trên cả nƣớc.
Mục tiêu của Tiếng Việt 1 CGD Theo GS.