CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan nhu cầu thông tin của người bệnh phẫu thuật 1. Nhu cầu thông tin của người bệnh phẫu thuật Nhu cầu thông tin của người bệnh trước phẫu thuật là những kiến thức mà người bệnh cho là quan trọng trước cuộc phẫu thuật đó. Những thông tin này là những thông tin mà người bệnh mong muốn nhận được từ bác sĩ, điều dưỡng trực tiếp chăm sóc người bệnh bao gồm các khía cạnh về thể chất, tâm lý và xã hội liên quan đến cuộc mổ.
Người bệnh cần được cung cấp các thông tin về tình trạng bệnh lý, phương pháp phẫu thuật, các tai biến, biến chứng có thể gặp phải trong cuộc phẫu thuật, điều trị và theo dõi sau phẫu thuật cũng như chi phí cho toàn bộ cuộc phẫu thuật. Nghiên cứu của S. Hoermann năm 2001 về nhu cầu thông tin của 60 người bệnh trước phẫu thuật thay khớp háng hoặc khớp gối, có 83,3% người bệnh mong muốn phẫu thuật viên tư vấn bằng lời nói, 43,3% người bệnh quan tâm đến thông tin phẫu thuật và hồi phục hơn về rủi ro (33,3%). Chỉ có 17% người bệnh muốn chuẩn bị tâm lý trước mổ [18].
Tuy nhiên theo tác giả Jessica Breuing nghiên cứu về nhu cầu thông tin của người bệnh giảm béo tại Đức năm 2022 cho thấy rằng không thể cung cấp đầy đủ thông tin trước phẫu thuật vì nhu cầu chỉ phát sinh khi có các vấn đề cụ thể sau phẫu thuật [25]. Bên cạnh đó, một số người bệnh mô tả rằng thông tin mà họ nhận được không được chọn lọc, đáng sợ hoặc phóng đại ảnh hưởng tới tâm lý người bệnh trước phẫu thuật. Như vậy nhu cầu thông tin của người bệnh trước phẫu thuật rất đa dạng và việc cung cấp các thông tin cho người bệnh có thể ảnh hưởng tới mức độ lo âu của người bệnh trước phẫu thuật. 3 Thư viện ĐH Thăng Long 1.
Các yếu tố liên quan đến nhu cầu thông tin của người bệnh Nhu cầu thông tin có thể khác nhau dựa trên những đặc điểm nhất định của người bệnh. Nhu cầu của người bệnh muốn được tiếp nhận liên quan đến độ tuổi, giới tính và trình độ học vấn cơ bản. Người bệnh nữ xem nhu cầu thông tin về bệnh tật và điều trị có tầm quan trọng lớn hơn nam giới [18]. Ngoài ra, phụ nữ có xu hướng đặt nhiều câu hỏi hơn, thường nhận được nhiều thông tin hơn và xây dựng mối quan hệ tốt hơn với nhân viên y tế so với người bệnh nam [25].
Những người bệnh trẻ tuổi coi trọng thông tin sức khỏe hơn so với người lớn tuổi [18, 25]. Người bệnh có trình độ học vấn hạn chế đặt tầm quan trọng lớn hơn vào việc giảng dạy của điều dưỡng về bệnh tật, phương pháp điều trị và nâng cao sức khỏe [18]. Người bệnh có trình độ học vấn cao cho biết họ mong muốn có được thông tin sức khỏe nhưng nhận được ít hơn mong muốn [21]. Vô số nghiên cứu đã cố gắng chỉ ra các yếu tố nhân khẩu học và đặc điểm của từng người bệnh tác động như thế nào đến nhu cầu thông tin và nhận thức về thông tin nhận được [21].
Các đặc điểm của người bệnh như tuổi, giới, trình độ học vấn và đời sống công việc được nhận thấy có liên quan đến nhu cầu thông tin, phụ nữ trên 60 tuổi, người có học vấn thấp và đã nghỉ hưu được nhận thấy có nhu cầu nhiều hơn [21] và nữ giới so với nam giới ít hài lòng hơn với thông tin nhận được [21, 25]. Đặc biệt, người bệnh ở cả hai giới có mức thu nhập thấp hơn và nam giới nói chung đều mong muốn nhận được nhiều thông tin hơn. Sự hài lòng với thông tin được cung cấp dường như tăng theo độ tuổi [25] và người trẻ nhất được cho là không hài lòng nhất với thông tin được cung cấp trong chăm sóc phẫu thuật [21]. Người bệnh nam và nữ có cùng loại kỳ vọng về kiến thức ở cấp độ tổng thể cũng như về các khía cạnh sinh lý, chức năng, kinh nghiệm, đạo đức, xã hội và tài chính [25].
Người bệnh trẻ tuổi có kỳ vọng kiến thức thấp hơn người bệnh lớn tuổi, người bệnh có trình độ học vấn cao có ít kỳ vọng về kiến thức so với người bệnh có trình độ học vấn thấp[25]. Một nghiên cứu khác trước đây chỉ ra rằng những người tham gia là nữ có điểm số cao hơn đáng kể trong các phạm vi hoạt động sống, cộng đồng và theo dõi, cảm xúc liên quan đến tình trạng, nâng cao chất lượng cuộc sống và chăm sóc da so với nam giới [18]. Người bệnh có bằng đại học có điểm số cao hơn đáng kể về mặt thống kê so 4 với người bệnh có trình độ tiểu học và trung học về thuốc, hoạt động sinh hoạt, cộng đồng và theo dõi, điều trị và biến chứng, nâng cao chất lương cuộc sống và chăm sóc da [18 ]. Tầm quan trọng của thông tin xuất viện cụ thể về các biến chứng và triệu chứng cũng như những lo ngại liên quan đến bệnh tật của phụ nữ cho thấy họ có thể cần thông tin này để hiểu rõ hơn những gì đã xảy ra và sử dụng những thông tin đó để lập kế hoạch chiến lược đối phó.
Ngoài ra, nếu phụ nữ được yêu cầu đưa ra hầu hết các quyết định về chăm sóc sức khỏe trong gia đình thì điều đó có nghĩa là họ có nhu cầu thông tin nhiều hơn [18, 21]. Sự đáp ứng nhu cầu thông tin của người bệnh trước phẫu thuật Một số nghiên cứu xác định nhu cầu thông tin của người bệnh chưa được đáp ứng đủ [18, 21]. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng người bệnh cần nhiều thông tin hơn hoặc khác biệt hơn, hoặc đáng lẽ phải được khuyến khích đặt thêm câu hỏi về những vấn đề chưa rõ ràng [21]. Mặc dù tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe, chẳng hạn như trong chăm sóc người bệnh cấp tính đã được thừa nhận, nhưng mức độ giáo dục sức khỏe trong thực hành của điều dưỡng được cho là ở mức tối thiểu [31].
Mối quan hệ của người bệnh với nhân viên y tế dường như là yếu tố chính quyết định sự hài lòng của người bệnh với lượng thông tin nhận được [26]. Việc bỏ lỡ cơ hội cung cấp thông tin được giải thích là do nhân viên quá bận rộn, thiếu thời gian [31], ít liên lạc với điều dưỡng và thiếu thông tin về sự chăm sóc dành riêng cho từng cá nhân [31]. Khi các vấn đề được xác định và đánh giá tổng thể về nhu cầu của người bệnh, thông tin liên quan có thể được cung cấp đủ [31]. Trong một số nghiên cứu trước đây, người bệnh phẫu thuật hài lòng với thông tin về ca phẫu thuật của họ, các biến chứng có thể xảy ra cũng như các thủ tục trước phẫu thuật và kỹ thuật phẫu thuật [34,36].
Người bệnh cũng nhận thấy là có thông tin đầy đủ về cách kiểm soát cơn đau [36]. Tuy nhiên, đã có những phát hiện trái ngược nhau. Người ta thấy rằng thiếu thông tin về các lựa chọn phẫu thuật, phục hồi và điều trị [34], cũng như thiếu thông tin về những hạn chế của gây mê và các hình thức điều trị thay thế, đau đớn, chăm sóc vết thương và tác dụng phụ sau phẫu thuật [ 38]. Nghiên cứu của Johansson và cộng sự năm 2002 về nhu cầu thông tin của người bệnh sau phẫu 5 Thư viện ĐH Thăng Long thuật chỉnh hình khớp háng cho thấy rằng người bệnh ít hài lòng hơn với thông tin về các khía cạnh phi kỹ thuật của chăm sóc và thủ tục hành chính [34] và một nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng chưa đến một phần ba số người bệnh nhận được thông tin từ các chuyên gia y tế về chăm sóc vết thương[40].
Như vậy, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự đáp ứng nhu cầu thông tin của người bệnh trước phẫu thuật như yếu tố bệnh tật của người bệnh, thời gian tư vấn của điều dưỡng, thiếu sự kết nối với nhân viên y tế hay chưa cá thể hóa chăm sóc tới từng người bệnh. Chính điều này đã dẫn đến nhu cầu thông tin của người bệnh chưa được thỏa mãn đầy đủ và như mong đợi. Tổng quan về lo âu 1. Khái niệm về lo âu Lo âu được biết đến rất sớm từ thời Hy Lạp cổ đại, người Hy Lạp cổ dùng từ “melancholia” (sự u sầu) để mô tả lo âu [47].
Thuật ngữ “lo âu” đó được sử dụng từ lâu trong lịch sử phát triển của ngành tâm thần và y học, người đầu tiên sử dụng cụm từ này là Kerkgard (Đan Mạch), vào năm 1844 [42]. Bouras (2007), lo âu về bản chất là đáp ứng với một đe dọa không được biết trước từ bên trong, mơ hồ hay có nguồn gốc xung đột, còn sợ là đáp ứng với một đe dọa được biết rõ ràng từ bên ngoài hay không có nguồn gốc xung đột. Cả hai đều là đáp trả lại các kích thích bất lợi của môi trường nhằm gia tăng tính tích cực của hành vi, chẳng hạn sợ hãi con rắn được tìm thấy ở nhiều người được cho là có ích nó giúp họ tránh những tổn thương mà người không có cảm giác sợ này có thể gặp phải do không lường trước được nguy hiểm (như bị rắn cắn) [24]. Như vậy, những nghiên cứu ở nước ngoài từ trước tới nay cho thấy thuật ngữ lo âu được sử dụng rộng rãi trong khoa học xã hội, trong y-sinh học nhằm mô tả các trạng thái nguyên nhân sức khỏe và các bệnh liên quan đến tinh thần.
Theo ICD-10, lo âu là một nhóm các rối loạn, trong đó lo âu thường được gợi lên trong một số tình huống được xác định rõ ràng và hiện tại không nguy hiểm. Kết quả là những tình huống này thường được tránh né hoặc chịu đựng trong nỗi sợ hãi. 6 Mối quan tâm của bệnh nhân có thể tập trung vào các triệu chứng riêng lẻ như đánh trống ngực hoặc cảm thấy ngất xỉu và thường liên quan đến nỗi sợ thứ phát về cái chết, mất kiểm soát hoặc phát điên. Suy nghĩ về việc bước vào tình huống ám ảnh thường tạo ra sự lo lắng dự đoán.
Rối loạn lo âu lan tỏa được xếp vào nhóm các rối loạn liên quan stress. Đặc tính là những mối lo dai dẳng, lan tỏa, tản mạn, không khu trú vào một sự kiện hoàn cảnh đặc biệt nào. Rối loạn này thường liên quan với stress trường diễn, tiến triển thay đổi nhưng có xu hướng mãn tính [2]. Bên cạnh đó, nhân cách của người bệnh ảnh hưởng đến tình trạng rối loạn lo âu.