CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm và phân loại hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh Từ quá khứ đến hiện tại, các nhà kinh tế học đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về hiệu quả kinh doanh (HQKD) của doanh nghiệp. Theo Adam Smith (1776) – nhà kinh tế học người Anh đã định nghĩa: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”.
Từ định nghĩa trên, có thể hiểu rằng khi hai doanh nghiệp bỏ ra mức chi phí khác nhau nhưng đem lại kết quả kinh doanh giống nhau thì đồng nghĩa với việc hiệu quả đạt được là giống nhau. Quan điểm của Adam Smith đã thể hiện sự tương đương giữa “hiệu quả” và “kết quả kinh doanh” mà chưa quan tâm đến nhân tố chi phí. Samuelson đưa ra nhận định của ông trong cuốn Kinh tế học (1948): “Hiệu quả tức là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của con người”. Tuy quan điểm này thể hiện được mặt chất của hiệu quả là sử dụng các nguồn lực trong xã hội một cách tối ưu, nhưng lại chưa thể hiện được mặt lượng của HQKD.
Theo giáo trình Quản trị kinh doanh của Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân: “Hiệu quả kinh doanh là tỷ lệ so sánh tương đối giữa kết quả và chi phí để đạt được kết quả đó”. Đây là quan điểm được nhiều nhà kinh tế học, quản trị học sử dụng để tính toán các nguồn lực cần thiết, cũng như hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp. Quan điểm này có tiến bộ hơn khi đã đưa ra sự tính toán, so sánh và cho rằng “kết quả” chưa chắc đồng nhất với “hiệu quả” và bổ sung thêm một nhân tố quan trọng – chi phí. Ngoài ra, một nhận định khác của giáo trình cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là một đại lượng so sánh đầu vào và đầu ra trong quá trình hoạt động kinh doanh.
Hiệu quả kinh doanh phải được xem xét toàn diện cả về mặt không gian, thời gian, định tính 4 và định lượng”. Quan điểm này khá đầy đủ khi thể hiện được tính tương đối, bao quát cũng như yêu cầu cần xem xét nhiều mặt khi tính toán HQKD. Từ các quan điểm, nhận định trên, có thể kết luận: “Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, vật lực, tiền vốn,vv.) thông qua việc so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra trong một khoảng thời gian lao động nhất định, nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh mà doanh nghiệp đã đề ra”. Công thức tính HQKD của doanh nghiệp được thể hiện như sau: Công thức tính hiệu quả tuyệt đối: 𝐻𝑖ệ𝑢 𝑞𝑢ả 𝑘𝑖𝑛ℎ 𝑑𝑜𝑎𝑛ℎ = 𝐾ế𝑡 𝑞𝑢ả đầ𝑢 𝑟𝑎 − 𝑁𝑔𝑢ồ𝑛 𝑙ự𝑐 đầ𝑢 𝑣à𝑜 Trong đó: + Kết quả đầu ra: có thể bao gồm các chỉ tiêu như doanh thu thuần (DTT), lợi nhuận thuần, giá trị tổng sản lượng, vv.
+ Nguồn lực đầu vào: Vốn chủ sở hữu (VCSH), vốn vay nợ, nhân lực, vv. Công thức này sẽ cho biết được con số chính xác về HQKD của doanh nghiệp. Đối với công thức này, HQKD có thể được coi là lợi nhuận của doanh nghiệp, là phần doanh thu sau khi đã được trừ đi toàn bộ chi phí liên quan. Tuy nhiên, công thức này chỉ có thể so sánh được con số tuyệt đối giữa các doanh nghiệp – lợi nhuận đạt được nhưng không thể so sánh được mức độ nguồn lực bỏ ra để tạo thành lợi nhuận đó.
Do đó công thức không thể hiện được trọn vẹn các mặt của HQKD. Công thức tính hiệu quả tương đối: 𝐾ế𝑡 𝑞𝑢ả đầ𝑢 𝑟𝑎 𝐻𝑖ệ𝑢 𝑞𝑢ả 𝑘𝑖𝑛ℎ 𝑑𝑜𝑎𝑛ℎ = (1) 𝑁𝑔𝑢ồ𝑛 𝑙ự𝑐 đầ𝑢 𝑣à𝑜 Công thức trên thể hiện mối tương quan giữa hai nhân tố đầu vào và đầu ra, đồng thời cho biết một đơn vị đầu vào được sử dụng sẽ tạo ra bao nhiêu đơn vị đầu ra. 5 + Nếu Hiệu quả > 1: Nguồn lực bỏ ra nhỏ hơn kết quả mà doanh nghiệp thu được, do đó doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. + Nếu Hiệu quả ≤ 1: Nguồn lực bỏ ra lớn hơn kết quả thu được, do đó doanh nghiệp hoạt động chưa hiệu quả.
Ngoài ra, có thể sử dụng công thức nghịch đảo của (1): 𝑁𝑔𝑢ồ𝑛 𝑙ự𝑐 đầ𝑢 𝑣à𝑜 𝐻𝑖ệ𝑢 𝑞𝑢ả 𝑘𝑖𝑛ℎ 𝑑𝑜𝑎𝑛ℎ = 𝐾ế𝑡 𝑞𝑢ả đầ𝑢 𝑟𝑎 Công thức thể hiện để đạt được một đơn vị đầu ra cần sử dụng bao nhiêu nguồn lực đầu vào. Cách xét ngược lại với chỉ tiêu trên, khi con số tính ra càng nhỏ thì HQKD của doanh nghiệp càng tốt. HQKD có tính phức tạp, khó đánh giá do cả kết quả và chi phí bỏ ra đều khó đưa ra được con số chính xác. Ví dụ như với kết quả là doanh thu, lợi nhuận, việc xác định cụ thể sẽ khó khăn do sự bất ổn định trong thước đo giá trị dòng tiền.
Với các loại chi phí, ngoài chi phí ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả còn có các loại chi phí gián tiếp như chi phí sức khỏe, chi phí đào tạo,. Để liệt kê và tìm hiểu hết các phần chi phí này sẽ mất nhiều thời gian, công sức cho doanh nghiệp. Phân loại hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế quốc dân Hiệu quả kinh doanh cá biệt: là hiệu quả thu được từ hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp cụ thể, được biểu hiện ở lợi nhuận mà doanh nghiệp đó đạt được. Hiệu quả kinh tế quốc dân: là hiệu quả thu được từ các doanh nghiệp khác nhau, cùng nhau đóng góp vào sự tăng trưởng, phát triển kinh tế của đất nước; giúp giải quyết các vấn đề còn gặp nhiều khó khăn như an sinh xã hội, tạo việc làm, tăng nguồn thu ngân sách, cải thiện đời sống cho nhân dân,vv.
Hai loại hiệu quả này có mối quan hệ nhân – quả. Hiệu quả kinh tế quốc dân phản ánh mặt vĩ mô khi quan tâm đến nhiều lĩnh vực trong đời sống, và một trong những đóng 6 góp quan trọng nhất cấu thành nên sự phát triển của hiệu quả kinh tế quốc dân là sự tăng trưởng của từng doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp phát triển ổn định dẫn đến lợi nhuận tăng, đất nước có thêm nguồn thu, từ đó cơ hội để cải thiện đời sống kinh tế - xã hội của đất nước cũng tăng lên. Ngược lại, nếu doanh nghiệp phát triển không ổn định, đất nước sẽ mất đi một nguồn thu đáng kể.
Đồng thời, tính hiệu quả trong bộ máy điều hành của nhà nước sẽ là dấu hiệu tích cực, tạo tiền đề giúp doanh nghiệp kinh doanh thuận lợi hơn. Hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận Hiệu quả kinh doanh tổng hợp: là hiệu quả có thể phản ánh được cách phân bổ nguồn lực trên tất cả các lĩnh vực của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp, thể hiện bức tranh bao quát về hiệu quả hoạt động kinh doanh toàn doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh bộ phận: là hiệu quả chỉ phản ánh được cách thức phân bổ, sử dụng nguồn lực trong từng lĩnh vực hoạt động cụ thể của doanh nghiệp nhằm đáp ứng mục tiêu riêng của từng lĩnh vực. HQKD này không thể đại diện cho HQKD của toàn doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận có mối quan hệ biện chứng. Hiệu quả bộ phận cho thấy bức tranh cụ thể, kỹ càng hơn về các chỉ tiêu hiệu quả trong từng bộ phận; từ đó các chỉ tiêu được tổng hợp lại để tiến tới đánh giá HQKD tổng hợp của toàn doanh nghiệp. Có thể thấy, hiệu quả bộ phận là nền tảng để đánh giá HQKD của toàn doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có cái nhìn vừa tổng quan, vừa chi tiết về tình hình sản xuất kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh tuyệt đối và tương đối Hiệu quả kinh doanh tuyệt đối: là hiệu quả được đo lường bằng hiệu số giữa kết quả đầu ra và chi phí đầu vào.
Hiệu quả tuyệt đối chỉ có thể tính toán cho từng chiến lược kinh doanh. 7 Hiệu quả kinh doanh tương đối (so sánh): là hiệu quả được đo lường bằng tỷ số giữa kết quả và chi phí. Trong hiệu quả tương đối, các chỉ tiêu của hiệu quả tuyệt đối có thể được sử dụng để so sánh mức hiệu quả giữa các phương án khác nhau. Có thể thấy, hiệu quả tuyệt đối như là nền tảng để xây dựng nên hiệu quả so sánh.
HQKD so sánh cho thấy được một bức tranh toàn diện hơn về cách thức triển khai, xây dựng phương án của doanh nghiệp; đồng nghĩa với việc cách thức tính toán cũng sẽ phức tạp hơn. Hiệu quả tuyệt đối sẽ tập trung vào đánh giá hiệu quả của một chiến lược đơn lẻ, do đó cách thức tính toán cũng sẽ đơn giản hơn. Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn và dài hạn Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn: hiệu quả chỉ được đánh giá, đo lường vào một khoảng thời gian ngắn, có thể được tính bằng tháng, quý, hoặc từ 5 năm đổ xuống. Hiệu quả kinh doanh dài hạn: là hiệu quả được đánh giá, đo lường xuyên suốt quá trình phát triển, tồn tại của doanh nghiệp.
Hiệu quả dài hạn thường được gắn với các chiến lược kinh doanh, các kế hoạch phát triển dài hạn của doanh nghiệp. Giữa hiệu quả kinh doanh dài hạn và ngắn hạn tồn tại mối quan hệ biện chứng. Theo lý thuyết, hiệu quả kinh doanh dài hạn luôn phải lấy làm trọng tâm, trên cơ sở đó xem xét, đánh giá hiệu quả kinh doanh ngắn hạn để tránh gây thiệt hại tới lợi ích lâu dài. Trên thực tế, hiệu quả ngắn hạn và dài hạn đôi khi có thể phát sinh mâu thuẫn, doanh nghiệp thường sử dụng hiệu quả dài hạn vì nó gắn liền với phân bổ nguồn lực sản xuất trong thời gian dài.
Chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh 1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh cá biệt Khả năng thanh toán hiện hành: Là chỉ tiêu để đánh giá khả năng doanh nghiệp thanh toán được các khoản nợ ngắn hạn. 𝑇à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛 𝐾ℎả 𝑛ă𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑎𝑛ℎ 𝑡𝑜á𝑛 ℎ𝑖ệ𝑛 ℎà𝑛ℎ = 𝑁ợ 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛 8 Với chỉ tiêu này, khi kết quả < 1 chứng tỏ doanh nghiệp đang thiếu hụt tiền mặt để trả các khoản vay ngắn hạn; còn nếu kết quả > 2 doanh nghiệp đang dư thừa tài sản ngắn hạn, tài sản chưa được luân chuyển một cách hiệu quả. Hệ số thích ứng dài hạn: Là chỉ tiêu để đánh giá khả năng chi trả các tài sản dài hạn bằng các nguồn vốn dài hạn.