chương 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP 2.1 Tổng quan về rủi ro phá sản 2.1 Khái niệm rủi ro Rủi ro (Risks): có nguồn gốc khái niệm từ John Haynes (1895), ông là cha đẻ của công trình nghiên cứu về vấn đề rủi ro. Theo quan niệm của ông, rủi ro là khả năng xảy ra những hư hỏng hay mất mát một cách tình cờ, xảy ra dựa trên một số sự kiện không chắc chắn dẫn đến những tác động xấu cho đơn vị. Trên quan điểm này, ông cũng khẳng định rằng những nhà tư bản – người đầu tư tài sản vào đơn vị sẽ gánh chịu những rủi ro không đáng có đến đơn vị này Liên quan đến nghiên cứu này, Frank H.
Knight (1921), cũng chỉ ra rằng rủi ro là những sự kiện trong tương lai mà có thể đo lường được sự tác động, còn những sự kiện không đo lường được là những sự kiện không chắc chắn. Nguyên yếu khách quan của rủi ro đến từ những sự kiện xảy ra ngoài ý muốn của con người và không thể lường trước hay kiểm soát được, còn nguyên yếu chủ quan của rủi ro thì đến từ các hành vi trực tiếp của con người hoặc từ các tổ chức kinh doanh gây nên. Theo Coso (2004), khái niệm rủi ro đại diện cho những sự kiện không chắc chắn có khả năng xảy ra và tác động dù ít hay nhiều cũng đem lại những bất lợi, tổn thất không đáng có của một tổ chức, dẫn đến việc ảnh hưởng một số mục tiêu đã đề ra. Tuy nhiên trên thực tế, việc doanh nghiệp phải thường xuyên đối mặt với những thách thức và cơ hội, khi đó rủi ro sẽ được nhìn nhận một cách tổng quát hơn.
Khi giải quyết được bài toán nhận diện được rủi ro, việc tìm ra những giải pháp giúp phòng ngừa và ngăn chặn được những hạn chế tiêu cực một cách khách quan hơn và phát huy được những mặt lợi ích cho doanh nghiệp nếu như có sự quản lý phù hợp. Có thể thấy được rằng các khái niệm dựa nền tảng lý thuyết trên dù ít nhiều khác nhau nhưng đều nhắc tới những sự kiện không chắc chắn và có khả năng xảy ra ngoài ý muốn của con người. Điều này có thể đem lại thiệt hại hay tổn thất đối với một đơn vị tổ chức kinh doanh. Bởi vậy, các doanh nghiệp phải quan tâm trực tiếp tới rủi ro đối khả năng tồn tại lâu dài, đây được gọi là rủi ro phá sản.
8 Khái niệm rủi ro phá sản doanh nghiệp: theo khoản 2 điều 4 Luật phá sản 2014 thì phá sản là tình trạng của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản. Việc mất đi khả năng thanh toán của doanh nghiệp ngày càng trầm trọng dần và vẫn không được giải quyết thì có thể cho rằng doanh nghiệp đang đến gần giai đoạn cuối cùng và nghiêm trọng nhất của tình trạng rủi ro phá sản. Theo Denis và Denis (1995) dấu hiệu để nhận diện được một doanh nghiệp gặp rủi ro vỡ nợ đó là doanh nghiệp thua lỗ ít nhất trong 03 năm liên tiếp, không thể thực hiện được việc thanh toán cổ tức.2 Mô hình đo lường rủi ro phá sản Theo nghiên cứu của Phan Trần Trung Dũng và các cộng sự (2022), để hạn chế tối đa rủi ro, các nhà điều hành cần xác định được yếu tố nào gây nên tình trạng rủi ro phá sản dựa trên việc phân tích và đánh giá. Chủ đề này đã được các nghiên cứu đi trước áp dụng qua những mô hình đo lường nổi tiếng như: Z-score của Altman (1968), S- score của Springate (1978), X-score của Zmijewski (1984) hoặc đo lường rủi ro vỡ nợ qua chỉ số tài chính (Hadi, 2014 & Utami Kartika, 2019).
Sau đây khóa luận lần lượt trình bày các mô hình này. Mô hình Z-score Edward I. Altman (1968) đã phát triển mô hình Z-score dự đoán các vụ phá sản với độ chính xác tương đối cao bằng cách sử dụng kết quả kiểm tra từ 66 công ty sản xuất trong giai đoạn 1946 – 1965. Sự kết hợp của 5 tỷ số tài chính khác nhau bao gồm tính thanh khoản, lợi nhuận, đòn bẩy, khả năng thanh toán nợ và tỷ số hoạt động được sử dụng để phân tích bao gồm 33 công ty phá sản và 33 công ty không phá sản.
Áp dụng tương tự với 25 công ty khác cũng cho kết quả với độ chính xác là 96%. Theo mô hình này, Altman (2000) cho rằng mô hình này dự đoán tương đối chính xác về khả năng phá sản của một công ty trong vòng hai năm. Mô hình Z-score ban đầu được áp dụng cho các công ty sản xuất đã cổ phần hóa, sau đó chỉ số Z’ và Z’’ được phát triển để áp dụng rộng rãi cho các loại hình doanh nghiệp khác, do đó mô hình Z-score này hiện tồn tại dưới dạng 3 mô hình dưới đây: 9 Mô hình 1: Đối với doanh nghiệp ngành sản xuất, đã cổ phần hóa niêm yết trên thị trường Z= 1.99: Doanh nghiệp có sức khỏe tài chính ổn định Nếu 1.99: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo nguy cơ phá sản Nếu Z <1.81: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy cơ phá sản cao Trong đó: X1= Vốn lưu động / Tổng tài sản X2= Lợi nhuận giữ lại / Tổng tài sản X3= Lợi nhuận trước lãi vay và thuế / Tổng tài sản X4= Giá trị thị trường vốn chủ sở hữu / Tổng nợ X5= Doanh thu / Tổng tài sản Tuy nhiên, mô hình Z của Z-score nguyên thủy của Altman này ban đầu chỉ áp dụng dành riêng cho các doanh nghiệp ngành sản xuất và đã niêm yết trên thị trường chứng khoán, điều này khiến cho nhiều nhà nghiên cứu bối rối khi áp dụng vào thực tế (Mugozhi và Ngirazi, 2016), chính vì vậy mà Altman và các cộng sự (1977) đã cho ra đời mô hình 2 hay còn gọi là mô hình Z’ áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất chưa niêm yết như sau: Mô hình 2: Đối với doanh nghiệp ngành sản xuất, chưa cổ phần hóa Z’= 0.9: Doanh nghiệp có sức khỏe tài chính ổn định Nếu 1.9: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo nguy cơ phá sản Nếu Z’ <1.23: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy cơ phá sản cao. Trong đó: X1= Vốn lưu động / Tổng tài sản 10 X2= Lợi nhuận giữ lại / Tổng tài sản X3= Lợi nhuận trước lãi vay và thuế / Tổng tài sản X4= Giá trị thị trường vốn chủ sở hữu / Tổng nợ X5= Doanh thu / Tổng tài sản Mô hình 3: Áp dụng cho hầu hết các ngành và loại hình kinh doanh Đáp lại những chỉ trích cho rằng mô hình này chỉ áp dụng cho các công ty sản xuất được niêm yết và chưa niêm yết, không áp dụng cho các ngành, loại hình kinh doanh niêm yết và chưa niêm yết.
Do đó, Altman đã thay đổi mô hình Z-score nguyên thủy ban đầu thành mô hình Z”, tạo ra một mô hình phù hợp để sử dụng trong hầu hết các ngành và loại hình kinh doanh như sau: Z”= 6.6: Doanh nghiệp có sức khỏe tài chính ổn định Nếu 1.6: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo nguy cơ phá sản Nếu Z” <1.1: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy cơ phá sản cao Trong đó: X1= Vốn lưu động / Tổng tài sản X2= Lợi nhuận giữ lại / Tổng tài sản X3= Lợi nhuận trước lãi vay và thuế / Tổng tài sản X4= Giá trị thị trường vốn chủ sở hữu / Tổng nợ Có thể thấy, mô hình Z-score của Altman là một trong những mô hình hiệu quả nhất vì mô hình này rất phù hợp để dự đoán phá sản và đã được sử dụng trong nghiên cứu của nhiều tác giả trong suốt 45 năm qua. Mô hình đã phát triển và chuyển thể phù hợp từ mô hình Z-score cổ điển thành Z” để áp dụng, đánh giá rủi ro phá sản ở các công ty phi sản xuất cũng như các công ty chứng khoán bất động sản. Tuy nhiên, hạn chế là mô hình Z-score được phân ra thành ba mô hình khác nhau nên rất khó để xác định được doanh nghiệp nào gặp phải tình trạng RRPS hay không gặp phải RRPS. Ngoài ra, 11 do mô hình ở thời điểm nghiên cứu và thời điểm hiện tại cách nhau khá xa thế nên trong bối cảnh hiện tại không còn được ứng dụng cao.
Mô hình S-Score của Springate Lấy tiền đề từ mô hình nghiên cứu của Beaver (1966) và Altman (1968) trong lĩnh vực nghiên cứu này mà Springate (1978) tại đại học Simon Fraser, đã sử dụng mô hình S-Score để dự đoán khả năng rủi ro phá sản của một doanh nghiệp đại diện cho 40 công ty của doanh nghiệp Canada với mô hình nghiên cứu sử dụng phân tích đa biệt với độ chính xác ước tính khoảng 92.5% như sau: S-Score= 1.4X4 Trong đó: X1= Vốn lưu động / Tổng tài sản X2= Thu nhập trước lãi suất và thuế / Tổng tài sản X3= Thu nhập trước thuế / Nợ ngắn hạn X4= Doanh thu / Tổng tài sản Theo Springate (1978) với giá trị S-score lớn hơn 0.826 thể hiện doanh nghiệp hoạt động ổn định và các doanh nghiệp có tỷ lệ S-score dưới 0.826 trở xuống nằm trong khả năng dự đoán bị phá sản. Mô hình X-Score của Zmijewski Lấy tiền đề từ mô hình nghiên cứu của Beaver (1966) và Altman (1968) trong lĩnh vực nghiên cứu này mà Zmijewski(1984) đã sử dụng mô hình X-Score để dự đoán khả năng rủi ro phá sản của một doanh nghiệp trong vòng 7 năm từ năm 1972-1978 đại diện cho 6000 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán New York với mô hình nghiên cứu hàm probit với độ chính xác ước tính khoảng 99% như sau: X-Score= -4.004X3 12 Trong đó: X1= Thu nhập ròng / Tổng tài sản X2= Tổng nợ phải trả / Tổng tài sản X3= Tài sản ngắn hạn / Nợ ngắn hạn Mô hình X-score của Zmijewski đã phân loại các doanh nghiệp có giá trị lớn hơn hoặc bằng 0.5 thì doanh nghiệp phá sản, còn doanh nghiệp có xác suất rủi ro nhỏ hơn 0.5 được coi là nhóm doanh nghiệp không gặp rủi ro phá sản. Tuy nhiên điểm hạn chế của mô hình là không nêu lên rõ trạng thái hoạt động của doanh nghiệp ở thời điểm hiện tại và khả năng dự đoán sẽ hạn chế ở một số ngành. Ngoài nhược điểm cũng tồn tại một số ưu điểm như dễ sử dụng, phân loại một cách rõ ràng khi giá trị X-Score dương doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo nguy cơ phá sản còn mang giá trị âm có sức khỏe tài chính ổn định.