MỞ ĐẦU CHƯƠNG 2: TONG QUAN NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Lý thuyết về cấu trúc vốn Cấu trúc vốn được định nghĩa là sự kết hợp giữa nợ và vốn chủ sử dụng trong hoạt động của công ty, việc lựa chọn cấu trúc vốn cơ bản là một van đề tiếp thị. Công trình điển hình của Modigliani va Miller (1958) về cấu trúc vốn đã cung cấp một động lực đáng kể cho việc phát triển khung lý thuyết trong đó các lý thuyết khác đã được xuất hiện trong tương lai. Modigliani và Miller (1958) kết luận rằng theo lý thuyết "không quan trọng cấu trúc vốn" rộng rãi được biết đến, đòn bẩy tài chính không ảnh hưởng đến giá trị thị trường của công ty.
Tuy nhiên, lý thuyết của họ dựa trên các giả thiết rất hạn chế không áp dụng trong thế giới thực. Các giả thiết này bao gồm thị trường vốn hoàn hảo, kỳ vọng đồng nhất, không có thuế và không có chi phí giao dịch. Sự tồn tại của chi phi phá sản, khó khăn tài chính và lợi ích thuế thu nhập từ việc thanh toán lãi suất dẫn đến ý niệm về một cấu trúc vốn "tối ưu", tối đa hóa giá trị của công ty hoặc tối thiểu hóa tổng chi phí vốn (Abor, 2005). Ross, Westerfield và Jordan (2001) xác định quyết định về cấu trúc vốn là "sự lựa chọn về tỷ lệ nợ so với vốn chủ sở hữu của một công ty".
Họ cho rằng cấu trúc vốn phản ánh chính sách vay mượn của công ty. Cấu trúc vốn đề cập đến sự kết hợp giữa nợ dài hạn và tài trợ vốn cổ phần (Brealey, Myers, & Marcus, 2009). Theo Ahmad et al. (2012), cấu trúc vốn được định nghĩa là mối quan hệ giữa tỷ trọng nợ và vốn chủ sở hữu trong nguồn vốn của doanh nghiệp.
Các tác giả Addae et al. (2013) và Pouraghajan & Malekian (2012) cũng cùng quan điểm này, xem cấu trúc vốn là sự kết hợp của nợ và vốn chủ sở hữu để tạo ra tài sản cho doanh nghiệp. Cấu trúc vốn của một công ty, như được nêu bởi Hasan et al. (2014), bao gồm sự kết hợp của nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, vốn cổ phần thường, vốn cổ phần ưu đãi và các nguồn vốn khác được sử dụng để tài trợ cho hoạt động kinh doanh và phát triển.
Điều này ngụ ý rằng cấu trúc vốn phản ánh sự sắp xếp của các nguồn vốn khác nhau mà một doanh nghiệp sử dụng để đáp ứng yêu cầu vận hành của mình. Kết quả là, quan điểm chiếm ưu thế trong số các chuyên gia là cấu trúc vốn được xác định bởi tỷ lệ nợ và vốn chủ sở hữu so với tổng nguồn vốn được sử dụng để hỗ trợ hoạt động kinh doanh của một công ty. Lý thuyết về khả năng sinh lợi Theo quan điểm của Pandey (1980), khả năng sinh lời đề cập đến khả năng tạo ra lợi nhuận của một công ty. Khả năng sinh lời đòi hỏi phải kiểm tra mối quan hệ giữa lợi nhuận và các yếu tố khác nhau.
Ngoài ra, nó cũng đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty và chiến lược đầu tư liên quan đến vốn sử dụng trong kinh doanh hoặc doanh thu của công ty. Theo Siminica & Stefan (2011), phát biểu rằng khả năng của một hoạt động để tạo ra thu nhập cho các hoạt động của nó phản ánh khả năng sinh lời của nó. Bauer (2004) cho rằng sự sinh lợi của một doanh nghiệp được đánh giá dựa trên lợi nhuận tích lũy trong suốt các năm hoạt động. Các quan điểm này cho thấy, khi doanh nghiệp đạt được lợi nhuận cao hơn, khả năng sinh lợi của nó tăng lên và trở nên thuận lợi hơn cho việc sử dụng đòn bẩy tài chính lớn hơn để tận dụng lợi ích từ lá chắn thuế.
Malik (2011) khẳng định rằng khả năng sinh lợi là một trong những thước đo và mục tiêu quan trọng nhất trong quản lý tài chính. Điều này ngụ ý rằng các mục tiêu quản lý tài chính giúp doanh nghiệp theo dõi tình hình tài chính của mình, tối đa hóa tài sản và khả năng sinh lợi là một yếu tố quan trọng trong việc đạt được những mục tiêu này. Trong khi có mối liên hệ chặt chẽ giữa khả năng sinh lợi và lợi nhuận, cũng có những khác biệt. Lợi nhuận được đo bằng con số tuyệt đối, trong khi khả năng sinh lợi được đánh giá bằng con số tương đối.
Khả năng sinh lợi đóng vai trò quyết định trong việc xác định sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp. Hamid et al, (2015) cho rằng khả năng sinh lợi còn được gọi là hiệu suất tài chính và nó liên quan chặt chẽ đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Như vậy tỷ lệ lợi nhuận giữ lại được coi là chỉ số quan trọng trong đối với các nhà quản lý doanh nghiệp. Những người quản lý luôn quan tâm đến hiệu quả sử dụng tài sản với mục đích cả thiện KNSL, bởi vì để doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp khác, buộc các doanh nghiệp phải tìm ra cách để tăng hiệu quả của tài sản.
Các lý thuyết cơ bản về cấu trúc vốn. Lý thuyết cấu trúc vốn truyền thống Lý thuyết truyền thống về cấu trúc vốn nói rằng giá trị của một công ty tăng lên đến một mức vốn nợ nhất định, sau đó nó có xu hướng không đổi và cuối cùng bắt đầu giảm nếu có quá nhiều khoản vay. Sự sụt giảm giá trị này sau khi đến hạn nợ xảy ra do tính lãi quá mức. Mặt khác, một công ty không có đòn bẩy tài chính sẽ có WACC bằng với chi phí tài trợ vốn chủ sở hữu và có thể giảm WACC của mình bằng cách cộng thêm nợ đến mức chi phí nợ cận biên bằng với chỉ phí tài trợ vốn cổ phần.
Về bản chất, công ty phải đối mặt với sự đánh đổi giữa giá trị của đòn bẩy tăng lên so với chỉ phí nợ ngày càng tăng khi chi phí đi vay tăng lên để bù đắp giá trị gia tăng. Ngoài thời điểm này, bất kỳ khoản nợ bổ sung nào sẽ gây ra giá trị thị trường và làm tăng chi phí vốn. Sự kết hợp giữa vốn chủ sở hữu và tài trợ bằng nợ có thể dẫn đến cấu trúc vốn tối ưu của công ty. Lý thuyết truyền thống về cấu trúc vốn cho chúng ta biết rằng của cải không chỉ được tạo ra thông qua việc đầu tư vào các tài sản mang lại lợi tức đầu tư dương; mua những tài sản đó với sự kết hợp tối ưu giữa vốn chủ sở hữu và nợ cũng quan trọng không kém.
Một số giả định được đưa ra khi lý thuyết này được sử dụng, cùng ngụ ý rằng chi phí vốn phụ thuộc vào mức độ đòn bẩy. Ví dụ, chỉ có tài trợ bằng nợ và vốn cổ phần cho công ty, công ty trả tất cả thu nhập của mình dưới dạng cổ tức, tổng tài sản và doanh thu của công ty là cố định và không thay đổi, nguồn tài chính của công ty là cố định và không thay đổi, các nhà đầu tư hành xử hợp lý, và không có thuế.Lý thuyết cấu trúc vốn của Modigliani va Miller Lý thuyết về cấu trúc vốn của Modigliani và Miller (1958) được coi là nền tảng của lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại. Lý thuyết này cho rằng cấu trúc vốn của một công ty không ảnh hưởng đến giá trị của công ty, dưới một số giả định về hành vi của nhà đầu tư và hiệu suất của thị trường vốn. MM giả định một thị trường vốn hoàn hảo nơi các chứng khoán được giao dịch, tất cả thông tin liên quan đều có sẵn cho cả người trong và ngoài doanh nghiệp để đưa ra quyết định (không có không đối xứng thông tin), không tồn tại chỉ phí giao dịch, chi phí phá sản và thuế.
Vay và cho vay là khả thi cho cả doanh nghiệp và các nhà đầu tư cá nhân với cùng một lãi suất, cho phép sử dụng đòn bẩy tài chính tự chế. Ngoài ra, MM giả định rằng tồn tại các công ty cùng nhóm rủi ro và cùng mức đòn bẩy hoạt động, việc trả lãi vay không mang lại lợi ích thuế và các công ty tuân thủ chính sách trả cổ tức 100%. Dựa trên những giả định này, MM kết luận rằng không có tỷ lệ nợ vốn chủ sở hữu tối ưu và cấu trúc vốn không liên quan đến sự giàu có của cổ đông. Lý thuyết này cho rằng các nhà quản lý không nên tập trung vào cấu trúc vốn và có quyền tự do lựa chọn tỷ lệ nợ và vốn chủ sở hữu.
Hirshleifer (1966) và Stiglitz (1969) đã đóng góp quan trọng vào phương pháp của MM. Hơn nữa trong đề xuất thứ 2, họ cho rằng việc tăng đòn bẩy làm tăng rủi ro của công ty và kết quả là chi phí vốn chủ sở hữu tăng lên. Nhưng WACC của công ty không đổi do chi phí nợ bù đắp bằng chi phí vốn cổ phần cao hơn. Lý thuyết về sự không liên quan đến cấu trúc vốn về mặt lý thuyết rất hợp lý nhưng lại dựa trên tập hợp các giả định không thực tế.
Do đó, lý thuyết này đã dẫn đến rất nhiều nghiên cứu về cấu trúc vốn. Mặc dù lý thuyết của họ có giá trị về mặt lý thuyết, thế giới không có thuế không có giá trị trong thực tế. Modigliani và Miller (1963) đã tích hợp tác động của thuế lên chỉ phí vốn và giá trị công ty, nhận thức rằng trong trường hợp có thuế doanh nghiệp, đòn bẩy có thể tăng giá trị công ty thông qua lá chắn thuế. Lãi suất trên nợ được khấu trừ thuế, làm giảm số tiền nộp thuế ròng của công ty va làm giảm tổng chi phí vốn.
Các hạn chế của lý thuyết MM đã thúc đẩy nghiên cứu sâu rộng nhằm khám phá tính liên quan của cấu trúc vốn trong cả ngữ cảnh lý thuyết và thực nghiệm. Vì vậy, có thể các lý thuyết khác đóng góp vào định lý cấu trúc vốn đã được phát triển dựa trên định lý MM và rất khó để xác nhận bất kỳ lý thuyết nào trong số chúng. Mặc dù có những điểm yếu trong định lý MM nhưng nó không thể bị bỏ qua hoặc loại trừ hoàn toàn. Lý thuyết trật tự phân hạng Lý thuyết trật tự phân hạng cho rằng các công ty có xu hướng ưu tiên bán cổ phiếu khi thị trường định giá cao hon (Myers, 1984; Chittenden et al.
Giả thuyết này dựa trên giả định rằng các nhà quản lý hành động trong lợi ích tốt nhất của cổ đông hiện tại.