CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE XE DAP CÔNG CỘNG VÀ CAC NHÂN TO ANH HUONG DEN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG XE DAP CÔNG CỘNG. Khái quát về xe đạp công cộng 1. Khái niệm về xe đạp công cộng Theo định nghĩa của Liên đoàn Người đi xe đạp Châu Au (ECF, 2012), Chương trình xe đạp công cộng là “một chương trình cho thuê xe đạp tự phục vụ, ngắn hạn, một chiều trong các không gian công cộng, dành cho một số nhóm mục tiêu”. Một định nghĩa khác có thể được sử dụng bởi Sở Quy hoạch Thành phố New York như sau: “Chương trình xe đạp công cộng là mạng lưới xe đạp công, cộng được phân bổ khắp thành phó dé sử dung với chỉ phí thấp”.
Trong khi đó, Nghiên cứu khả thi của hệ thống Mol-Bubi (COWI, 2010) ở Budapest đang sử dụng định nghĩa sau: “Hệ thống chia sẻ xe đạp công cộng (PBS) là một loại dịch vụ giao thông công cộng thay thế mới, là một phần mở rộng của dịch vụ giao thông công cộng truyền thống. Tuy nhiên, dịch vụ này có thể mang lại sự linh hoạt cho người dùng giống như các lựa chọn phương tiện giao thông cá nhân. Hệ thống PBS cung cấp xe đạp công cộng miễn phí hoặc với mức phí rất thấp ở những không gian đô thị được sử dụng thường xuyên. Hệ thống này có thể được sử dụng cho chuyến đi một chiều của bat kỳ ai.” Cho đến thời điểm hiện tại, các khái niệm về xe đạp công cộng vẫn còn được diễn giải dưới nhiều khái niệm khái niệm với những tên gọi khác nhau.
Mặc dù có nhiều tranh luận nhưng tổng hợp những điểm chung: xe đạp công cộng là một dịch vụ trong đó xe đạp được cung cấp để sử dụng chung cho các 11 cá nhân trong thời gian ngắn và được sử dụng chủ yếu như một phương tiện công cộng thay thế các phương tiện giao thông cá nhân. Lợi ích của xe đạp công cộng Cho đến thời điểm hiện tại, mô hình dịch vụ xe đạp công cộng trên thế giới vẫn đang được đánh giá cao vì nhiều lợi ích mà nó mang lại. Về môi trường, Zhang và Mi (2018) các chương trình xe đạp công cộng mang lại nhiều lợi ích về môi trường như giảm thải lượng khí thải carbon đioxide (CO2) do các phương tiện sử dụng nhiên liệu hóa thạch gây ra hay giảm ô nhiễm tiếng ồn ở các đô thị đông đúc. Nghiên cứu của họ cũng chỉ ra rằng việc thành phố Thượng Hải, thành phố lớn nhất ở Trung Quốc, kề từ khi triển khai chương trình xe đạp công cộng đầu tiên đến năm 2016 đã giúp tiết kiệm gần 8.358 tan xăng và giảm 25.240 tan lượng khí thải CO2.
Bocken và cộng sự. (2014) cũng cho rằng hệ thống xe đạp công cộng là chìa khóa để giảm mức độ ô nhiễm và sử dụng ô tô, cũng như cung cấp cho mọi người phương tiện giao thông lành mạnh và hỗ trợ động lực sử dụng các nguồn năng lượng thay thế. Những lợi ích này được tạo ra nhờ các lựa chọn thay thế như đi lại bằng ô tô và sử dụng phương tiện công cộng nhiều hơn cho tất cả các loại hành trình (Caulfield và cộng sự, 2017; Shaheen và cộng sự, 2013). Vé giao thông, xe đạp công cộng đang được đánh giá là một trong những giải pháp hữu hiệu dé giải quyết tình trạng ùn tắc giao thông ở nhiều thành phố lớn trên thế giới.
Clockston và Rojas-Rueda (2021) cho rằng khi người dân tại các thành phố lớn chuyền dẫn từ việc sử dụng các phương tiện cá nhân như oto hay xe máy sang sử dụng các phương tiện công cộng như xe đạp công cộng sẽ giúp làm giảm lưu lượng phương tiện lưu thông trên đường, điều này có hiệu quả mạnh mẽ đến các nỗ lực giảm ùn tắc giao thông tại các khu vực tập trung 12 đông dân cư. Jappinen (2013), Martens (2004) và Molin (2016) cũng cho rang xe đạp công cộng có thé cải thiện kha năng tiếp cận tổng thé, đặc biệt bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại đa phương thức, kết hợp độ tin cậy của phương tiện giao thông công cộng với tính linh hoạt của xe đạp, từ đó phát huy hiệu quả tổng thể của các phương tiện giao thông công cộng một cách tối đa .Một nghiên cứu của đại học Maryland về hệ thống xe đạp công cộng tại thành phố Washington DC chỉ ra rằng tình trạng tắc nghẽn giao thông ở đây đã được giảm hơn 4% nhờ có sự xuất hiện của các chương trình xe đạp công cộng. Ngoài ra, việc thúc day sử dụng xe đạp công cộng cũng là một phương pháp hiệu quả để giảm thiểu những vụ tai nạn giao thông nặng nề, theo Clockston (2021). Xe đạp công cộng cũng đem lại nhiều lợi ích về sức khỏe đối với người dân.
Clockston và Rojas-Rueda (2021) chỉ ra rằng việc sử dụng xe đạp công cộng không chỉ có mang lại lợi ích về sức khoẻ trực tiếp cho người sử dụng mà còn mang lại nhiều tác động gián tiếp đến những người đang sinh sống tại khu vực có hệ thống xe đạp công cộng. Việc sử dụng xe đạp công cộng giúp hạn chế lượng khí CO2 và bụi mịn 2.5) phát thải ra bên ngoài làm giảm việc ô nhiễm không khí và ô nhiễm tiếng ồn, những tác nhân chính gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của người dân tại các khu vực đông dân cư. Ngoài ra, việc sử dụng xe đạp công cộng sẽ giúp tăng cường các hoạt động thể chất của con người, đây cũng là một phương pháp giúp giảm thiếu những tình trạng mắc các bệnh bao gồm tiêu đường loại 2, bệnh tim mạch, bệnh Alzheimer và một số bệnh ung thư. Mô hình xe đạp công cộng trên thế giói Mô hình xe đạp công cộng đầu tiên xuất hiện trên thế giới vào năm 1965 tại Hà Lan với tên gọi “White Bicycle Plan — Kế hoạch xe đạp trắng".
Mô hình này được triển khai bởi một nhà hoạt động xã hội là Luud Schimmelpennink 13 kết hợp với tổ chức phong trào Provo với mục đích chính là nhằm cải thiện mạng lưới giao thông của nội đô thành phố Amsterdam nói chung. Tháng 10 năm 1995 tại Đại học Portsmouth thuộc Vương quốc Anh, mô hình xe đạp công cộng thông minh đầu tiên ra đời với tên gọi Bikeabout. Đây là một phần của Kế hoạch Giao thông Xanh, với nỗ lực cắt giảm việc đi lại bằng ô tô của giáo viên, nhân viên và sinh viên trong khuôn viên trường học và ký túc xá của đại học Portsmouth. Trong suốt nhiều thập kỷ qua, xe đạp công cộng đã dần phát triển ra nhiều nước trên thế giới.
Theo báo cáo của PBSC Solution, tính đến năm 2021 đã có hơn 2000 dự án xe đạp công cộng được triển khai trên quy mô của 85 quốc gia. Trung Quốc cũng là một trong những quốc gia được cho là phát triển mô hình xe đạp công cộng mạnh mẽ nhất, số lượng xe đạp công cộng tính riêng của thị trường Trung Quốc đã có hơn 20 triệu chiếc. Bên cạnh đó, Mỹ và Châu Âu cũng là những khu vực đã và đang đây mạnh phát trién mô hình nay. Ở Trung Quốc, hệ thống xe đạp công cộng đã phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây, với hơn 100 công ty vận hành hơn 1,5 triệu xe đạp tại hơn 50 thành phố.
Bất chấp sự tăng trưởng nhanh chóng này, ngành công nghiệp chia sẻ xe đạp ở Trung Quốc vẫn đang ở giai đoạn đầu và được đánh dấu bởi sự cạnh tranh gay gắt, công nghệ thay đổi nhanh chóng và nhiều mô hình kinh doanh đa dạng. Mobike là công ty xe đạp công cộng có trụ sở tại Bắc Kinh được thành lập vào năm 2015. Công ty đã nhanh chóng phát triển dé trở thành nhà cung cấp dich vụ chia sẻ xe đạp lớn nhất tại Trung Quốc, với hơn 10 triệu xe đạp đang hoạt động tại hơn 200 thành phố (Mobike, 2017). Mobike đã thành công tại thị trường Trung Quốc nhờ sử dụng công nghệ tiên tiến, tập trung vào sự tiện lợi và giá cả phải chăng cũng như chiến lược mở rộng mạnh mẽ.
Công ty cũng được hưởng lợi từ sự hỗ trợ mạnh mẽ từ chính phủ Trung Quốc, vốn 14 mong muốn thúc đây việc chia sẻ xe đạp như một cách để giảm tắc nghẽn giao thông va ô nhiễm không khí ở các thành phố. Tại Hoa Kỳ, hai hệ thống chia sẻ xe đạp lớn nhất được vận hành bởi các công ty LimeBike và Ofo. Cả hai công ty đều sử dụng mô hình chia sẻ xe đạp không bến, có nghĩa là xe đạp có thể được đề ở bất cứ đâu sau khi kết thúc chuyến đi. Điều nay đã gây ra một số van đề với việc dé xe đạp ở những nơi không thích hợp nhưng cũng giúp việc sử dụng hệ thống trở nên thuận tiện hơn.
LimeBike và Ofo hoạt động tại một số thành phố lớn của Mỹ, bao gồm Seattle, Washington; Sanfrancisco, California; và Austin, Texas. Ở châu Âu, hệ thống chia sẻ xe đạp được vận hành bởi nhiều công ty khác nhau. Hệ thống lớn nhất là Vélib', được điều hành bởi thành phố Paris và có hơn 20.000 xe đạp cho thuê. Các hệ thống chia sẻ xe đạp lớn khác ở châu Âu bao gồm Bicing ở Barcelona, Tây Ban Nha; nextbike ở Đức; và Cyclocity ở Lyon, Pháp.
Có một số yếu tố khác nhau đã góp phần vào sự thành công của hệ thống chia sẻ xe dap ở các thành phố khác nhau trên thế giới. Một trong những yếu tố quan trọng nhất là sự sẵn có của làn đường dành cho xe đạp và cơ sở hạ tầng khác giúp cho việc đạp xe trở nên an toàn và thuận tiện. Một yếu tố quan trọng khác là sự sẵn lòng của người dân thành phó trong việc sử dụng xe đạp dé đi lại. Ở một số thành phó, chẳng hạn như Paris và Barcelona, việc chia sẻ xe đạp đã trở nên rất phổ biến, với tỷ lệ lớn cư dân sử dụng xe đạp đề đi lại hàng ngày.
Ở các thành phố khác, chang hạn như Seattle và San Francisco, việc chia sẻ xe đạp vẫn còn khá mới và chưa được áp dụng rộng rãi. Mô hình xe đạp công cộng tại Việt Nam 1. Lịch sử hình thành Nắm bắt được xu hướng phát triển xe đạp công cộng của thế giới, Việt Nam cũng đã nhanh chóng xây dựng một chương trình xe đạp công cộng của riêng mình. Vào năm 2014, chương trình xe đạp công cộng đầu tiên được thí điểm tại tại 4 trường đại học và cao đẳng ở Hà Nội bao gồm: Đại học Công nghiệp Hà Nội, Đại học Điện lực, Đại học Thương mại và Cao đăng Sư phạm Trung ương.