CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1. Các nghiên cứu liên quan đến phát triển đô thị bền vững 1. Các nghiên cứu liên quan đến khái niệm Ngô Thắng Lợi &Vũ Thành Hưởng (2015), PTBV ở Việt Nam trong bối cảnh mới của toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế và BĐKH đã tiếp cận PTBV trong giai đoạn mới của Việt Nam khá đầy đủ. Nhóm tác giả xây dựng lý thuyết về PTBV, bao gồm quan niệm về PTBV; vấn đề toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và BĐKH với PTBV; quan niệm về nội hàm và tiêu chí đánh giá PTBV tại một số quốc gia trên thế giới.
Đồng thời tác giả còn đề cập đến kinh nghiệm quốc tế về mô hình PTBV ở Hàn Quốc, Nhật Bản, Nam Phi và đề xuất quan niệm, nội hàm, tiêu chí đánh giá PTBV ở Việt Nam. Lê Hồng Kế (2021), Phát triển hệ thống đô thị quốc gia bền vững đã đưa ra khái niệm về phát triển đô thị bền vững. Trên cơ sở nguyên lý PTBV, với đặc điểm của một đô thị, khái niệm phát triển đô thị bền vững được hiểu là “mối quan hệ hữu cơ, mật thiết giữa: a) Kinh tế đô thị; b) Văn hóa xã hội đô thị; c) Môi trường - Sinh thái đô thị; d) Cơ sở hạ tầng đô thị và e) Quản lý đô thị”. Bên cạnh đó, nghiên cứu của tác giả đã đưa ra các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững đô thị.
Ngoài ra trong nghiên cứu tác giả còn đi sâu vào đánh giá sự phát triển bền vững tại một số đô thị ở nước ta như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Huế. Yosef Rafeq Jabareen (2006), Sustainable Urban Forms đã xác định các dạng đô thị bền vững và các khái niệm thiết kế của chúng. Ngoài ra, tác giả đề cập đến câu hỏi liệu các hình thức đô thị nhất định có đóng góp nhiều hơn những hình thức khác để phát triển bền vững hay không. Một phân tích chuyên đề đã được sử dụng đánh giá mối quan hệ giữa phát triển bền vững và văn hóa, quy hoạch môi trường.
Phân tích xác định bảy khái niệm thiết kế liên quan đến các hình thức đô thị bền vững: nhỏ gọn, vận chuyển bền vững, mật độ, sử dụng đất hỗn hợp, đa dạng, thiết kế năng lượng mặt trời thụ động và xanh lá cây. Hơn nữa, nó xác định bốn loại hình đô thị bền vững: sự phát triển văn hóa, ngăn chặn đô thị, thành phố nhỏ gọn và thành phố sinh thái. Cuối cùng, bài viết này đề xuất một Ma trận hình thức đô thị bền vững để giúp các nhà lập kế hoạch đánh giá sự đóng góp của các hình thức đô thị khác nhau để phát triển bền vững. Fiona Woo (2018), Sustainable urban development: it's time cities give back, The guardian đã chỉ ra rằng “phát triển đô thị bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng của các thế hệ tương lai để đáp ứng nhu cầu 9 riêng của họ.” Tuy nhiên, thực tế sự phát triển đô thị đang thiên về phát triển về mặt kinh tế, xã hội chứ chưa chú trọng tới phát triển về môi trường, gìn giữ tài nguyên thiên nhiên.
Với sự suy giảm tài nguyên thiên nhiên để nuôi sống các thành phố, quy hoạch đô thị cần phải được tái sinh ngay từ đầu. Chúng ta có thể theo dõi cường độ tài nguyên ngày càng tăng của quá trình đô thị hóa trở lại cuộc cách mạng công nghiệp. Kể từ đó, không quan tâm đến việc tạo và sử dụng tài nguyên đã góp phần đáng kể vào biến đổi khí hậu và mất carbon đất, khả năng sinh sản tự nhiên của đất nông nghiệp và đa dạng sinh học trên toàn thế giới. Do đó, phát triển bền vững đô thị cần phải dựa trên ba trụ cột chính: kinh tế, xã hội và môi trường.
Các nghiên cứu liên quan đến tiêu chí Phạm Sỹ Liêm (2016), Đô thị hóa ở Trung Quốc - Bài học kinh nghiệm phát triển bền vững cho Việt Nam đã đi sâu đánh giá quá trình đô thị hóa của Trung Quốc. Quá trình này bao gồm 4 giai đoạn. “Trong những năm 1978~2012, tỷ lệ đô thị hóa Trung Quốc bình quân tăng 1,01% mỗi năm. Từ đó đến nay, trước sau có khoảng 500 triệu nông dân đã nhập cư đô thị.
Đến cuối năm 2014, tỷ lệ đô thị hóa Trung Quốc đạt 54,7% và nếu mỗi năm tăng thêm 1% thì đến năm 2020 tỷ lệ đó sẽ vượt mức 60%. Trong quá trình này, Trung Quốc đã gặp phải không ít những thách thức. Nghiên cứu những thành công và thách thức của Trung Quốc, tác giả đã rút ra bài học kinh nghiệm về đô thị hóa bền vững cho Việt Nam trên cả 3 khía cạnh phát triển bền vững là kinh tế, xã hội và môi trường. Đỗ Hoài Nam (2015), Phát triển đô thị bền vững Các cách tiếp cận phương pháp luận, liên ngành và thực tiễn cuốn sách tập hợp các bài tham luận của các tác giả về phát triển đô thị bền vững dưới nhiều góc độ nhìn nhận khác nhau như lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường.
Ngoài ra, các tác giả còn trình bày một số các tham luận về xây dựng, quy hoạch đô thị bền vững. - Christopher Tweed & Margaret Sutherland (2007), Built cultural heritage and sustainable urban development, nhóm tác giả đã đề cập tới PTĐTBV dưới góc độ xem xét các nội dung của PTBV đô thị. Các tác giả chỉ ra rằng PTĐTBV không chỉ tập trung vào các vấn đề kỹ thuật, như phát thải carbon, tiêu thụ năng lượng và quản lý chất thải, hoặc về các khía cạnh kinh tế của tái sinh và tăng trưởng đô thị. Ngày càng có nhiều chính phủ nhận ra sự đóng góp xây dựng di sản văn hóa làm cho xã hội hạnh phúc của các nhóm khác nhau sống trong các thành phố và đô thị ngày càng quốc tế.
David Thorpe (1018), The World's Most Successful Model for Sustainable Urban Development? Smart cities drive lại nghiên cứu về quận Vauban của Freiburg ở miền nam nước Đức - ví dụ tốt nhất về cuộc sống đô thị bền vững của thế giới. "Quận Vauban được tạo ra thông qua việc ra quyết định hợp tác, trở thành một mô hình lập kế hoạch môi 10 trường toàn diện và sinh thái thân thiện với môi trường", Louise Abellard viết. Quận đã được lên kế hoạch về giao thông xanh (như với một thành phố khác được gọi là đèn hiệu toàn cầu về quy hoạch đô thị xanh, Curitiba ở miền nam Brazil), bởi vì ngoài tiêu thụ, vận chuyển là tác động sinh thái khó khăn nhất của phát triển để giảm thiểu. Trong khi quận bao gồm đường phố, xe hơi hầu như không bao giờ đi qua, và bãi đỗ xe không được phục vụ.
Cư dân làm xe riêng có thể đậu trong một lô cộng đồng ở rìa của quận, không được trợ cấp bởi các hộ không có xe hơi. Đường dành cho người đi bộ và xe đạp tạo thành mạng lưới giao thông xanh, kết nối hiệu quả cao với mọi nhà trong khoảng cách đi bộ từ trạm dừng xe điện và tất cả các trường học, doanh nghiệp và trung tâm mua sắm nằm trong khoảng cách đi bộ. Như vậy, nội dung của nghiên cứu này chủ yếu tập trung đánh giá sự phát triển bền vững đô thị dưới góc độ đánh giá sự phát triển của hệ thống giao thông. Kenworthy J, (2018), The eco-city: ten key transport and planning dimensions for sustainable city development, Article lại khẳng định rằng phát triển đô thị mới sinh thái hơn và sống tốt hơn là một ưu tiên cấp bách trong việc thúc đẩy tính bền vững toàn cầu.
Trong khuôn khổ nghiên cứu này, tác giả thấy rằng các công nghệ môi trường cần phải được áp dụng rộng rãi. Tăng trưởng kinh tế cần nhấn mạnh sự sáng tạo và đổi mới và tăng cường các tiện nghi về môi trường, xã hội và văn hóa của thành phố. Các lĩnh vực công cộng trên toàn thành phố cần phải có chất lượng cao, và các nguyên tắc thiết kế đô thị bền vững cần phải được áp dụng trong tất cả các phát triển đô thị. Các nghiên cứu liên quan đến nhân tố ảnh hưởng Ngô Thắng Lợi (2010) Tác giả chỉ ra rằng Đô thị hóa Hà Nội đã góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.
Đó là xu hướng chủ đạo và là mặt tích cực của đô thị hoá ở thủ đô hà Nội. Tuy nhiên, tốc độ ĐTH Hà Nội trong những năm gần đây xẩy ra với tốc độ quá nhanh, trong khi nguồn lực về con người, khoa học công nghệ, cơ sở vật chất kỹ thuật chưa đáp ứng được nhu cầu bức thiết xẩy ra. Đã nảy sinh ra nhiều mặt tiêu cực, gây ô nhiễm môi trường, tài nguyên đất đai bị khai thác bừa bãi, giao thông thành phố tắc nghẽn, phá vỡ cảnh quan thiên nhiên. Trịnh Văn Chính (2018) đã đi sâu phân tích phát triển đô thị bền vững cần chú trọng phát triển GTCC, chống ùn tắc, đảm bảo diện tích đất cần thiết cho giao thông, áp dụng các loại hình giao thông hiện đại, văn minh để giảm thiểu ô nhiễm trong đô thị.
Đảm bảo quỹ đất dành cho GTĐT đến 2020 phải đạt 15 - 25% tổng diện tích đô thị bao gồm cả giao thông tĩnh và động, xây dựng hệ thống vận tải khối lượng lớn cho Thành phố Hà Nội và thành phố HCM, bao gồm tàu điện mặt đất, đường sắt trên cao, tàu điện 11 ngầm. Graham Haughton (1997), Developing sustainable urban development models lại tập trung đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới xây dựng mô hình đô thị bền vững. Bốn nhóm nhân tố được đưa ra bao gồm: sự tự chủ của chính quyền địa phương, quy hoạch thành phố, sự phụ thuộc vào môi trường bên ngoài và sự cân bằng các nguồn lực. Mỗi nhân tố này đều tác động tới các chính sách xây dựng mô hình đô thị bền vững.
AnneShepherd và LeonardOrtolano (1996), Strategic environmental assessment for sustainable urban developmentnt tập trung đánh giá sự tác động của môi trường chiến lược bao gồm các chính sách, kế hoạch và chương trình để PTĐTBV. Đầu tiên các tác giả tìm hiểu cơ hội để môi trường chiến lược thúc đẩy các nguyên tắc bền vững. Sau đó, các tác giả phân tích các nghiên cứu điển hình đã áp dụng môi trường chiến lược cho quy hoạch toàn diện. Kết quả cho thấy rằng môi trường chiến lược có thể dệt các nguyên tắc bền vững hiệu quả vào vải của các kế hoạch đô thị.
Cuối cùng, bài nghiên cứu nhấn mạnh cả tiềm năng của môi trường chiến lược lẫn những thách thức của nó đối với sự PTĐTBV.