đặt vấn đề, lý do cho sự lựa chọn đề tài, đối tượng và phạm vi, phương pháp, quy trình, công cụ nghiên cứu. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU: Trình bày tổng quan về vấn đề đã được nghiên cứu trong và ngoài nước. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Trình bày cơ sở lý thuyết mô hình sử dụng để đánh giá khảo sát. CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH SỐ LIỆU BẰNG MÔ HÌNH HỒI QUY OLS: Xây dựng mô hình và thảo luận các chỉ số hiệu quả.
CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH SỐ LIỆU BẰNG MÔ HÌNH CẤU TRÚC TUYẾN TÍNH: Áp dụng mô hình xây dựng và thảo luận các chỉ số hiệu quả, từ đó lựa chọn mô hình phù hợp nhất. CHƯƠNG 6: ĐÁNH GIÁ VÀ GIẢI PHÁP: Đưa ra kết luận về vấn đề nghiên cứu đã đề xuất và một số giải pháp gợi ý phát triển hướng nghiên cứu trong tương lai.7 Kết luận chương Trong chương này, luận văn đã giới thiệu về đề tài nghiên cứu về hiệu quả của việc thực hiện ĐTQM trong các dự án xây dựng tại Đồng Tháp. Mục tiêu, phạm vi và ý nghĩa khoa học cũng như thực tiễn của đề tài đã được cụ thể hóa. Luận văn đã đặt ra các mục tiêu nghiên cứu cụ thể nhằm xác định những yếu tố quan trọng ảnh 6 hưởng đến hiệu quả của ĐTQM, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả phù hợp với những thách thức hiện tại.
Chương tiếp theo cũng sẽ tóm tắt những nghiên cứu trước đây trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Việc này sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về các nghiên cứu đã thực hiện về ĐTQM trong lĩnh vực xây dựng tại Đồng Tháp hoặc các địa phương khác, cũng như những kinh nghiệm và mô hình áp dụng từ các quốc gia khác. 7 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Mục tiêu chính của chương này là đưa ra một cái nhìn toàn diện về tình hình thực tế, nghiên cứu trước đó và cơ sở lý luận, nhằm tạo ra cơ sở vững chắc cho việc phân tích và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của ĐTQM trong ngành xây dựng tại Đồng Tháp.1 Các nội dung cơ bản về ĐTQM và hiệu quả 2.1 Định nghĩa Đấu thầu là quy trình quan trọng trong việc chọn lựa nhà thầu hoặc đối tác đầu tư cho các dự án xây dựng và đầu tư. Nó bao gồm việc lựa chọn nhà thầu để ký kết các hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, cũng như việc chọn nhà đầu tư cho các dự án đầu tư.
Theo Luật Đấu thầu 2023, ĐTQM được định nghĩa là quá trình đấu thầu được thực hiện thông qua việc sử dụng hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Phương thức này sử dụng công nghệ thông tin để quản lý các hoạt động đấu thầu, tạo điều kiện minh bạch, trung thực và hiệu quả hơn. [5] Hiệu quả của công tác ĐTQM là tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các bên tham gia vào hoạt động lựa chọn nhà thầu qua mạng, giảm thủ tục hành chính, tăng cường hơn nữa tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế trong đấu thầu, đồng thời bảo đảm hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đấu thầu.2 Lịch sử hình thành và phát triển Từ năm 2009 đến nay, việc triển khai ĐTQM (ĐTQM) đã đi qua ba giai đoạn chính: (1) Giai đoạn 1 (2009 - 2011): Tập trung vào xây dựng hệ thống thông tư hướng dẫn và thí điểm tại ba đơn vị: Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam và UBND Thành phố Hà Nội. (2) Giai đoạn 2 (2012 - 2015): Mở rộng thí điểm trên toàn quốc và cập nhật pháp lý về ĐTQM, bao gồm cải tiến Luật Đấu thầu, Nghị định số 63/2014/NĐ-CP, Thông tư về ĐTQM số 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với Bộ Tài chính.
(3) Giai đoạn 3 (bắt đầu từ năm 2016): ĐTQM được triển khai rộng rãi trên cả nước theo 8 lộ trình và kế hoạch đã được quy định trong Thông tư số 07/2015/TTLT-BKHĐT- BTC và Quyết định số 1402/QĐ-TTg ngày 13/7/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Hiện tại, mọi quy trình liên quan đến đăng ký tham gia, xác nhận giao dịch, thông báo kết quả và thanh toán chi phí được thực hiện trên môi trường mạng. [7] Kết luận: ĐTQM là xu thế tất yếu trên thế giới, đáp ứng được yêu cầu về tính công khai, minh bạch, tiết kiệm thời gian, chi phí, phù hợp với nền kinh tế trong giai đoạn chuyển đổi số hiện nay. Tuy nhiên, để khắc phục những hạn chế, bất cập trong hoạt động ĐTQM, từ năm 2022 tới nay, Chính phủ đã có nhiều động thái, nỗ lực khác nhau.
Điển hình như để hạn chế tình trạng một số gói thầu bị nhà thầu phản ánh về việc hồ sơ mời thầu cài cắm các tiêu chí để hạn chế nhà thầu, hoặc các gói thầu ĐTQM nhưng chỉ có 1 nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu và trúng thầu đang rất phổ biến.2 Các nghiên cứu trước đây Các nghiên cứu trước đây về đấu thầu điện tử đã tập trung vào các khía cạnh sau: Về khái niệm, đặc điểm, lợi ích của ĐTQM: Các nghiên cứu đã làm rõ khái niệm, đặc điểm, lợi ích của ĐTQM. Theo đó, ĐTQM là hình thức đấu thầu sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để thực hiện các hoạt động đấu thầu, bao gồm đăng tải thông tin mời thầu, tiếp nhận hồ sơ dự thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu và công bố kết quả đấu thầu. Nó mang lại nhiều lợi ích cho các bên tham gia đấu thầu, bao gồm: tiết kiệm thời gian, chi phí, tăng tính minh bạch, công bằng, cạnh tranh của đấu thầu. Về thực trạng triển khai ĐTQM tại Việt Nam: Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, đấu thầu điện tử đã được triển khai tại Việt Nam từ những năm 2000, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế.
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến năm 2022, tỷ lệ đấu thầu điện tử trong tổng giá trị gói thầu được phê duyệt đạt khoảng 50%. Các hạn chế của đấu thầu điện tử tại Việt Nam chủ yếu tập trung ở các vấn đề sau: hạ tầng công nghệ thông tin chưa đáp ứng yêu cầu, trình độ ứng dụng công nghệ thông tin của các bên tham gia đấu thầu còn hạn chế, quy định pháp luật về đấu thầu điện tử chưa đầy đủ, đồng bộ. 9 Về những thách thức và giải pháp phát triển đấu thầu điện tử: Các nghiên cứu đã chỉ ra một số thách thức chính trong phát triển đấu thầu điện tử trên thế giới và tại Việt Nam, bao gồm: hạ tầng công nghệ thông tin chưa đáp ứng yêu cầu, trình độ ứng dụng công nghệ thông tin của các bên tham gia đấu thầu còn hạn chế, quy định pháp luật về đấu thầu điện tử chưa đầy đủ, đồng bộ, nhận thức về đấu thầu điện tử của các bên tham gia đấu thầu còn hạn chế. Để phát triển đấu thầu điện tử, các nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp, bao gồm: đầu tư phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ thông tin của các bên tham gia đấu thầu, hoàn thiện quy định pháp luật về đấu thầu điện tử, nâng cao nhận thức về đấu thầu điện tử của các bên tham gia đấu thầu.
Về phương pháp nghiên cứu: Các nghiên cứu chủ yếu sử dụng thống kê mô tả là công cụ đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với nhiều đối tượng, kể cả những người không có chuyên môn về thống kê. Tuy nhiên, Thống kê mô tả chỉ cung cấp thông tin về các đặc điểm của dữ liệu, nhưng không thể đưa ra kết luận về mối quan hệ nhân quả giữa các biến. Những năm gần đây Việt Nam đã triển khai hệ thống đấu thầu mới, cũng như Luật đấu thầu hoàn thiện hơn. Do đó trong thời gian tới, cần tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu về đấu thầu điện tử tại Việt Nam.1 Các nghiên cứu nước ngoài Bảng 2.1 Một số nghiên cứu nước ngoài nghiên cứu các nhân tố mảng đấu thầu áp dụng trong ngành quản lý xây dựng STT Tên nghiên cứu Tác giả Năm Factors Affecting E-Tendering Process Based on The Perceptions of The Donny M.
Mangitung và Contractors Being Involved in The 2015 Diah E. Novitasari 1 Tadulako University’s Construction Projects Nghiên cứu chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến quy trình đấu thầu điện tử dựa trên cảm nhận của các nhà thầu tham gia vào các dự án xây dựng của Đại học Tadulako 10 bao gồm: (1) độ tin cậy và hiệu suất của cơ sở hạ tầng CNTT-TT cho dịch vụ đấu thầu điện tử; (2) kiến thức nhân sự của Đơn vị Dịch vụ Mua sắm (PSU) trong quy trình đấu thầu điện tử; (3) kiến thức pháp luật về đấu thầu điện tử; (4) độ tin cậy của kết nối trang web; (5) hiệu suất cung cấp điện; (6) đủ kiến thức và hệ thống phần cứng phù hợp cho quy trình đấu thầu điện tử. Factors affecting adoption of e- Richard Ndavi Basil và Dr. tendering system among public 2015 Willy Muturi institutions in kisii county, Kenya 2 Nghiên cứu đã chỉ ra các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng hệ thống đấu thầu điện tử: (1) chi phí thực hiện; (2) lợi ích nhận được; (3) hỗ trợ quản lý; (4) năng lực của nhân viên.
Balogun Ayodeji, Talukhaba Effectiveness of electronic tendering Alfred Atsango và Opaleye 2016 for Construction project Oladele Nghiên cứu chỉ các nhân tố ảnh hưởng đến đấu thầu điện tử gồm: công nghệ; thiếu nhận thức, tính chất một lần của các dự án xây dựng, khó khăn trong việc chuyển đổi tài liệu cơ sở giấy sang định dạng điện tử, nguồn nhân lực hạn chế và người vận hành cổng đấu thầu điện tử, nguồn lực tài chính để cài đặt ban đầu cơ sở hạ 3 tầng đấu thầu điện tử, và không phải tất cả các hình thức hợp đồng đều hỗ trợ việc sử dụng đấu thầu điện tử. Các thách thức của đấu thầu điện tử gồm: nộp hồ sơ dự thầu không phản ánh trên máy chủ đấu thầu điện tử, nhân viên kỹ thuật được đào tạo hạn chế với các kỹ năng hỗ trợ CNTT, không có kiến thức về hệ thống chụp và mã hóa chữ ký điện tử, cổng thông tin đấu thầu điện tử không hỗ trợ tất cả các mẫu tài liệu đấu thầu, nhà thầu gặp khó khăn trong việc truy cập và cập nhật hồ sơ dự thầu đã nộp. Factors Influencing E-Tendering Galadima, H. và Waziri, 4 Adoption in the Nigerian Construction 2022 A.
Industry: A Theoretical Review 11 Nghiên cứu này được thực hiện để giải quyết vấn đề áp dụng đấu thầu điện tử thấp trong các tổ chức xây dựng ở Nigeria.