CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE THUE THU NHAP CÁ NHÂN 1. Tổng quan nghiên cứu trong nước và ngoài nước 1. Tổng quan nghiên cứu trong nước Nghiên cứu “Các yếu tổ tác động đến sự tuân thủ thuế thu nhập cá nhân của người nộp thuế trên dia bàn thành phố Bà Ria” của Nguyễn Văn Cir (2019) đã nghiên cứu những nhân tố tác động lên việc tuân thủ chính sách thuế TNCN của người nộp thuế tỉnh Bà Ria và xác định mức độ tác động của những nhân tố này. Thông qua việc thu thập và phân tích dữ liệu tác giả đã phát hiện thấy 3 nhân tố: Hoạt động thanh - kiểm tra thuế, Trình tự và thủ tục kê khai, nộp thuế và Mức phạt có tác động ngược chiều đối với hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế.
Nhân tổ mức thuế suất có tác động cùng chiều đến sự chấp hành thuế thu nhập của cá nhân đóng thuế thu nhập. Qua quá trình nghiên cứu, tác giả đã có những khuyến nghị nhằm tăng cường việc tuân thủ thuế cho Thành phó Bà Rịa và miễn giảm thuế như thế nào cho hợp lý. Nguyễn Thi Hoa Hong (2020) với nghiên cứu “Các yếu tô ảnh hưởng đến tính tuân thủ thuế của người nộp thuế thu nhập cá nhân: nghiên cứu tại Chỉ cục Thuế huyện Nhà Bè, Thành pho Hô Chí Minh khách hàng tại Thanh pho Hồ Chi Minh” qua những phương pháp định tính và định lượng đã chỉ ra sự công bang thuế và chính sách thuế có ảnh hưởng đến sự chấp hành thuế của người đóng thuế TNCN tại Chi cục thuế Huyện Nhà Bè. Tác giả cũng chỉ rõ qua bài nghiên cứu rang có những bat cập về chính sách thu thuế thu nhập cá nhân ở Chi cục thuế huyện Nhà Bè.
Qua bài nghiên cứu, tác giả cũng đã đề ra các giải pháp và kiến nghị dé chi cục thuế nâng cao tính tuân thủ thuế của người nộp thuế. Đồng quan 14 điểm với tác giả Nguyễn Thị Hoa Hong thì Nguyễn Bá Hoàng (2017) sau khi thu thập dữ liệu từ hơn 200 người dân kê khai thuế tai Chi cục Thuế quận 11, TP. HCM đã cho ra kết quả tương tự với bài nghiên cứu “Các nhân tổ ảnh hưởng đến tính tuân thủ thuế của người nộp thuế thu nhập cá nhân: nghiên cứu trường hợp chỉ cục thuế Quận 11, TP. Đối với Nguyễn Thị Ngọc Điệp và Nguyễn Quốc Thịnh (2021), nghiên cứu “Các nhân tô ảnh hưởng đến việc tuân thủ thuế thu nhập cá nhân của người nộp thuế thu nhập cá nhán tại Chỉ cục Tihuế quận 3” với đữ liệu được lay trén 216 ca nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thông qua phương pháp kiểm tra, phan tích nghiên cứu dé thay ba nhân tố: kiến thức về thuế, nhận thức công bằng về thuế và nhận thức về hình phạt có tác động tích cực đến việc tuân thủ thuế. Bên cạnh đó, Chi phí tuân thủ thuế có ảnh hưởng ngược chiều tới việc tuân thủ thuế. Theo nghiên cứu “Những yếu to ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế Thu nhập cá nhân của người nộp thuế tại tỉnh Đồng Nai” của Lê Vũ Hà (2021) thông qua 500 người có thu nhập chịu thuế tại tỉnh trong năm 2020 đã cho thấy nhân tố Nhận thức và tâm lý, Hệ thống chính sách thuế, Đặc thù nghề nghiệp, Nơi làm việc và Môi trường kinh tế có ảnh hưởng tới hành vi tuân thủ thuế thu nhập cá nhân của người nộp thuế tại tỉnh Đồng Nai. Còn với Trương Thị Ngân (2020) đã thông qua 248 người dân là đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân tại TP.
HCM với nghiên cứu “Nhân tổ tác động đến tính tuân thủ thuế thu nhập cá nhân tại TP. HCM” kết luận rằng chất lượng phục vụ, việc thi hành thuế TNCN và những nhân tố khác có ảnh hưởng tới việc tuân thủ thuế TNCN của người dân TP. Tổng quan nghiên cứu nước ngoài 15 Nghiên cứu “Understanding Taxpayer Behaviour — New Opportunities for Tax Administration” của Keith Walsh (2012) đã xác định rang có năm yếu tô ảnh hưởng: Sự phức tạp của hệ thống thuế, Ngăn chặn, Chuẩn mực (cá nhân và xã hội), Tính công bằng trong quản lý thuế, Vai trò của chính phủ và môi trường kinh tế. Nhân t6 Chuẩn mực xã hội có anh hưởng đến việc tuân thủ nộp thuế của người nộp thuế nhưng ít ảnh hưởng hơn so với Chuẩn mực cá nhân.
Với Mukasa và Joseph (2011) đã thông qua nghiên cứu “Tax knowledge, perceived tax fairness and tax compliance in Uganda: the case of small and medium income taxpayers in Kampala Central Division” xem xét méi quan hé giữa kiến thức về thuế, cảm nhận về tính công bằng về thuế và tuân thủ thuế. Dữ liệu thu thập từ 330 người tại quận Kampala đã chỉ ra rằng Kiến thức về thuế và Nhận thức về tính công bằng của thuế có tác động tích cực tới tuân thủ thuế. Từ đó đưa ra những chính sách dé nâng cao mức độ tuân thủ thuế của người dan. Nghiên cứu “Study on fairness and individual tax compliance in Malaysia: preliminary findings” cua Sellywati Mohd Faizal va Mohd Rizal Palil (2015) kiém tra tác động của sự công bằng đối với việc tuân thủ thuế ở Malaysia.
Nghiên cứu đã chia tính công bằng thành công băng trong phân phối, công bằng theo quy định và công bằng trong hình phạt. Nghiên cứu đã phân tích sự công bằng thành công bằng trong phân bồ, công bằng theo luật định và bình đăng về mức phat. Qua khảo sát 82 học giả, công bằng theo thủ tục có tương quan dương và có ý nghĩa tới việc tuân thủ thuế trong khi đó, công bằng trong phân phối và công bằng về trừng phạt chi mang ý nghĩa tích cực mà tương quan không đáng ké tới việc tuân thủ thuế. Theo James Alm và Michael Mckee (2004) với nghiên cứu “Tax Compliance as a Coordination Game ” điêu tra hành vi tuân thủ khi các tờ khai được chọn đê 16 kiểm toán dựa trên độ lệch của báo cáo thuế của mỗi cá nhân so với báo cáo trung bình của tất cả những người nộp thuế khác.
Kết quả cho thấy rằng khó có sự phối hợp công bằng giữa người nộp thuế và cơ quan thuế. Cơ quan thuế có thé thay đổi quy tắc kiểm tra của mình đề kiểm tra mà không làm tăng số lượng kiểm toán. Nghiên cứu “Zax compliance within the context of gain and loss situations, expected and current asset position, and profession” cua Kirchler, E. (2001) điều tra hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế tự khai báo.
Qua nghiên cứu 172 người, kết quả cho thấy một khoản thanh toán không mong muốn dẫn đến việc tuân thủ thuế thấp, trong khi khoản hoàn trả bất ngờ dẫn đến việc tuân thủ thuế cao. Do đó, việc tuân thủ thuế tự báo cáo của họ có thê được mô ta tot nhât bang vi tri tài sản hiện tai. Cơ sở lý luận về thuế TNCN 1. Lịch sử ra đời thuế TNCN Thuế TNCN ra đời đầu tiên tại Vương quốc Anh vào năm 1841 sau đó đến Nhật và năm 1887 và Mỹ vào năm 1913.
Thuế thu nhập cá nhân ở Mỹ tất cao, chiếm 30 - 60% tông thu từ thuế của ngân sách quốc gia. Điều này đã khiến My trở thành quốc gia có tỉ suất thuế TNCN cao nhất trên thế giới. Trung Quốc đưa ra thuế TNCN vào năm 1914, nhưng đến năm 1955 mới trở thành sắc thuế độc lập. Bên cạnh đó, năm 1916, thuế TNCN tại Pháp ra đời và tại Liên Xô là năm 1922.
Theo thống kê của hãng kế toán Ernst & Young “Global Executive”, có 136 quốc gia đánh thuê TNCN (tính đến ngày 15 — 09 — 2001). Ở Việt Nam trước đây do tình hình nền kinh tế tập trung, nguồn thu nhập của dân cư xã hội là thuần túy nên nhà nước không đánh thuế đối với các cá nhân phi doanh nghiệp. Tuy nhiên, nền kinh tế hiện nay đã thay đổi theo hướng nền 17 kinh tế thị trường, mức độ phân hoá giàu nghèo xuất hiện ngày càng lớn trong xã hội. Tiền thân của thuế TNCN là thuế lợi tức lương bổng (1962) sau đó vào năm 1972 đã được đổi thành thuế TNCN.
Ngày 27 tháng 12 năm 1990, Hội đồng Nha nước đã thông qua “Quy định về thu thuế và quản lý cá nhân có thu nhập cao” và chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 04 năm 1991. Trong quá trình phát triển đất nước, Quốc hội Việt Nam đã nhiều lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1992, 1993, 1994, 1997, 2001 va 2004. Quốc hội đã thông qua Luật thuế TNCN vào ngày 21 tháng 11 năm 2007, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2009. Đến năm 2012, Quốc hội đã điều chỉnh Luật Thuế thu nhập cá nhân để phù hợp với thực tiên hơn.
Các khái niệm liên quan a. Khái niệm về thuế Thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử. Sau một thời gian dài hình thành và phát triển, việc ra đời của sắc thuế là một yếu tô quan trọng. Ở các nước phương Tây, thuế được xuất hiện dưới hình dạng thuế ruộng đất tại La Mã cô đại.
Tại Trung Quốc, hình thức đánh thuế sớm nhất có thể bắt nguồn từ cuối triều đại nhà Hạ và từ “thuế” xuất hiện vào năm 594 trước Công nguyên. Tại Việt Nam, thuế má đã có từ thời phong kiến dé thu những cống phẩm giá trị cho nhà vua. Đến năm 1013, đưới đời vua Lý Thái Tổ trị vì thì thuế đã được tổ chức một cách có hệ thống. Khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời thì bên cạnh sự bãi bỏ các loại thuế cũ như thuế thân và thuế muối thì nhà nước Việt Nam đã thiết lập một hệ thống thuế mới.
Cùng với sự thay đổi của đời sống kinh tế đất nước, hệ thống thuế của Việt Nam ngày càng trở nên minh bạch và hoàn chỉnh hơn nữa. 18 Sau nhiều nghiên cứu, các nhà kinh tế đã đưa ra khái niệm thuế dựa trên đánh giá của họ. Theo Các Mác thì thuế là nền tảng kinh tế của quyền lực nhà nước và là cach dé dàng nhất dé chính phủ thu được tiền mặt hay thuế của nhân dân dé sử dung cho các mục dich của nhà nước. Hay các nhà nghiên cứu kinh tế cho răng thuế là một hình thức dùng khoản thu của nhà nước dé thi hành nghĩa vụ của nhà nước, dựa trên quyền lực nhà nước và dé phân bồ thu nhập thặng dư của nhà nước một cách công bằng và không hoan lại.