MỞ ĐẦU Trong những thập kỷ qua, cùng với phát triển kinh tế xã hội, loài người đã có những tác động rất lớn đến thiên nhiên và chúng ta đang chịu những phản hồi từ tự nhiên do chính những hoạt động của chúng ta tạo ra. Điều này thể hiện qua việc hiện nay con người đã và đang phải đối mặt với những thách thức về sự suy giảm chất lượng môi trường, suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học. Nhận thức được điều này rất nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang quan tâm nhiều hơn đến việc bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học nhằm tiến tới sự phát triển bền vững trong tương lai. Đã có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau được áp dụng trong việc quản lý để đạt được hiệu quả cao nhất trong công tác bảo tồn, tuy nhiên vấn đề này rất phức tạp.
Mỗi quốc gia có điều kiện tự nhiên, hệ thống pháp lý đặc thù về xã hội khác nhau và không có một hình mẫu “hoàn thiện” nào có thể áp dụng được cho tất cả các quốc gia. Ở Việt Nam, với sự nỗ lực của các cấp các ngành, cùng với sự ủng hộ của các nước, các tổ chức trên thế giới, chúng ta đang cố gắng tiếp thu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm để cố gắng tìm ra những biện pháp phù hợp và có hiệu quả nhất trong công tác quản lý tại các khu bảo tồn thiên nhiên. Những biện pháp này cần đảm bảo phù hợp với thực tiễn, tình hình và điều kiện của đất nước, đồng thời đảm bảo sự hài hòa với những thông lệ, tiêu chí bảo tồn thiên nhiên của quốc tế. Quan trọng nhất chúng phải nâng cao được hiệu quả trong việc bảo tồn thiên nhiên tại các VQG và khu bảo tồn trong nước, để đạt được mục tiêu cao nhất là sự phát triển bền vững.
Xuất phát từ thực tế trên, đề tài luận văn “Nghiên cứu các nguyên lý của hệ sinh thái áp dụng cho quản lý Vườn Quốc gia Cát Bà, Hải Phòng” được thực hiện nhằm nghiên cứu các nguyên lý của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái áp dụng trong quản lý và đánh giá hiệu quả áp dụng phương pháp tiếp cận này tại VQG Cát 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bà, Hải Phòng, nhằm tạo cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả quản lý các VQG và khu bảo tồn ở Việt Nam trong tương lai. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng thể Nghiên cứu các nguyên lý của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái áp dụng trong quản lý và đánh giá hiệu quả áp dụng các nguyên lý của phương pháp tiếp cận này tại VQG Cát Bà, nhằm tạo cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả quản lý các vườn quốc gia và khu bảo tồn ở Việt Nam trong tương lai. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu hiện trạng quản lý và bảo tồn tại VQG Cát Bà, Hải Phòng và khu vực vùng đệm. - Đề xuất các bước áp dụng và xem xét các vấn đề liên quan đến các nguyên lý tiếp cận hệ sinh thái trong quản lý VQG Cát Bà và khu vực vùng đệm.
- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn và khả năng thực thi khi áp dụng các nguyên lý của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái cho công tác quản lý VQG Cát Bà và khu vực vùng đệm. - Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi khi áp dụng các nguyên lý của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái cho công tác quản lý VQG Cát Bà và khu vực vùng đệm. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số phƣơng pháp quản lý đƣợc áp dụng trong quản lý VQG trên thế giới và Việt Nam 1.
Phương pháp quản lý dựa trên các chức năng và nhiệm vụ của VQG Hiện nay nước ta có 30 vườn quốc gia, trong số 164 khu bảo tồn trên toàn quốc, với tổng diện tích tự nhiên là 1. VQG ngoài chức năng chính là bảo tồn, duy trì tình trạng tự nhiên của các hệ sinh thái khỏi những tác động tiêu cực, nó còn đảm nhiệm các chức năng khác như là chức năng bảo vệ môi trường, phòng hộ, là nền tảng cho các hoạt động tinh thần, hoạt động nghiên cứu khoa học, giáo dục, giải trí, các hoạt động du lịch sinh thái và tạo điều kiện cải thiện chất lượng đời sống của người dân sống trong và xung quanh khu vực VQG. Vì vậy quản lý VQG có thể tiếp cận theo các chức năng và mục đích khác nhau như: Bảo tồn, duy trì đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường phòng hộ, khai thác các dịch vụ hệ sinh thái, các hoạt động kinh tế, tài chính, lĩnh vực nghiên cứu khoa học, lĩnh vực văn hóa du lịch, và giải trí. Tiếp cận theo chức năng bảo tồn tình trạng tự nhiên, duy trì đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường sống, phòng hộ Dựa trên chức năng này các nhà quản lý sẽ lập những kế hoạch cụ thể cho công tác quản lý của các VQG tập trung vào những chức năng trên.
Để có thể tiến hành các hoạt động quản lý nhằm bảo tồn tình trạng tự nhiên của hệ sinh thái và đa dạng sinh học, điều cần thiết là phải tìm hiểu những tác động tiêu cực đến hệ sinh thái, các nguy cơ mà loài hay hệ sinh thái hiện đang đối mặt và từ đó xây dựng các phương pháp quản lý phù hợp nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực của các nguy cơ đó và đảm bảo sự phát triển của loài và hệ sinh thái. Việc áp dụng bất cứ một phương thức quản lý nào cũng phải dựa vào các đối tượng quản lý ở một địa điểm cụ thể. Chỉ khi đã xác định được các đối tượng quản 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lý thì các kết quả quản lý khoa học mới được áp dụng có hiệu quả. Thêm vào đó, một chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học hiệu quả cần thiết phải tính đến các hoạt động giáo dục nhằm nâng cao nhận thức và khuyến khích các thành phần có liên quan tham gia vào công tác bảo vệ các loài, quần xã hay hệ sinh thái đích cần được bảo tồn.
Đối với chức năng phòng hộ, chúng ta biết rằng rất nhiều VQG chính là rừng phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ nguồn nước, hay môi trường sống cho rất nhiều hệ sinh thái, cư dân. Theo điều này, quản lý vườn quốc gia cần nghiên cứu, dự báo các tác động có hại khi chức năng phòng hộ không còn được đảm bảo, xây dựng kế hoạch quản lý dựa trên chức năng phòng hộ của VQG. Cơ quan chủ quản có trách nhiệm chính là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PT NT), mà trực tiếp là Tổng cục Lâm nghiệp. Các hoạt động điều tra, khảo sát hay quản lý, bảo vệ đều do cán bộ của ngành lâm nghiệp thực hiện.
Đồng thời Bộ có trách nhiệm nghiên cứu, xây dựng, chỉ đạo thực hiện các chính sách, thể lệ và các biện pháp bảo vệ VQG. Ngoài ra có các cơ quan và tổ chức có liên quan như Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), trong đó có Cục Bảo tồn Đa dạng sinh học có trách nhiệm trong việc nghiên cứu, đưa ra các biện pháp bảo tồn về đa dạng sinh học. Ngoài ra còn có các cơ quan trực thuộc khu vực, tỉnh, huyện, xã, cộng đồng và các tổ chức quốc tế tham gia vào công tác bảo tồn [1]. Tiếp cận theo chức năng duy trì những giá trị về cảnh quan, văn hóa lịch sử, nghiên cứu khoa học, giáo dục và đào tạo Việc lập các kế hoạch quản lý VQG dựa trên chức năng này cần quan tâm đến các vấn đề sau: Thứ nhất là tìm hiểu các giá trị về cảnh quan, văn hóa lịch sử cũng như giá trị về mặt nghiên cứu khoa học, giáo dục của mỗi VQG.
Thứ hai là xác định tầm quan trọng của những giá trị này đối với VQG và đối với cộng đồng địa phương cũng như đối với toàn xã hội, và tìm hiểu những thách thức trong việc bảo tồn, và duy trì và phát triển những giá trị đó cũng như xác định 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các bên liên quan chính tới vấn đề này. Từ hai vấn đề trên, xây dựng những kế hoạch, biện pháp quản lý cụ thể và có hiệu quả. Các VQG thường mang một giá trị văn hóa lịch sử quan trọng đối với xã hội. Trong đó chứa đựng các dấu ấn lịch sử, các di tích, gắn liền với quá trình tồn tại và phát triển của xã hội.
Vì vậy, quản lý cần đảm bảo duy trì các giá trị này thông qua việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa, không làm chúng bị mai một theo thời gian. Ngoài ra, các VQG là một địa bàn nghiên cứu khoa học rất tốt cho các lĩnh vực về lâm sinh, động vật, thực vật, vì vậy ban quản lý VQG có thể xây dựng các biện pháp quản lý hiệu quả để duy trì chức năng này thông qua việc kết hợp với nhiều cơ quan nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước về cung cấp tư liệu hay địa bàn nghiên cứu. Tuy nhiên khi lập các kế hoạch quản lý tiếp cận theo hướng này cũng gặp nhiều khó khăn trong việc huy động các nguồn vốn và lưc lượng cán bộ. Để nghiên cứu khoa học có hiệu quả, ngoài vốn đầu tư ra còn cần một đội ngũ các nhà khoa học thực sự, và có trình độ, kinh nghiệm tốt thì mới thực sự mang lại hiệu quả.
Bên cạnh đó, VQG cũng là môi trường tốt để tổ chức các hoạt động nghiên cứu, học tập của không chỉ các nhà khoa học mà còn cho thế hệ các em học sinh, sinh viên. Đó là nơi để học sinh, sinh viên được tiếp cận với những kiến thức thực tế, qua những hoạt động này có thể tuyên truyền và giáo dục, nâng cao nhận thức của thế hệ trẻ về ý thức bảo vệ môi trường, hệ sinh thái. Một điều quan trọng trong khi áp dụng các phương pháp quản lý có hiệu quả là xác định các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm liên quan tới những chức năng có liên quan của VQG. Đối với cách tiếp cận này ngoài cơ quản có trách nhiệm trực tiếp là Bộ NN& PTNT còn có sự tham mưu tích cực của các bộ ngành khác như Bộ TN&MT, có trách nhiệm về vấn đề nghiên cứu khoa học, cung cấp thông tin, các luận cứ khoa học, cũng như đào tạo nguồn nhân lực, tham gia vào nghiên cứu khoa học tại các vườn quốc gia.