Tổng quan nghiên cứu
Vườn Quốc gia Cát Bà được thành lập từ năm 1986 với diện tích điều chỉnh quy hoạch đạt 16.196,8 ha (gồm 10.931,7 ha phần đảo và 5.265,1 ha phần biển), nằm trong vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển thế giới quần đảo Cát Bà. Bao quanh khu bảo tồn là vùng đệm rộng 15.259,8 ha với quy mô dân số 16.645 người phân bố trên địa bàn 6 xã, thị trấn. Nơi đây sở hữu hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi, rừng ngập mặn và rạn san hô phong phú, là nơi lưu giữ 193 loài động thực vật quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam, tiêu biểu là loài Voọc Cát Bà đặc hữu.
Tuy nhiên, sự bùng nổ của ngành du lịch với hơn 3.000 lao động trực tiếp cùng hoạt động nuôi trồng thủy sản lồng bè tự phát đã tạo ra xung đột gay gắt giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế. Các phương pháp quản lý lâm nghiệp truyền thống mang tính phân mảnh, hành chính hóa bộc lộ nhiều hạn chế trước các tác động tích lũy từ biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường. Đề tài luận văn được thực hiện nhằm nghiên cứu việc áp dụng 12 nguyên lý tiếp cận hệ sinh thái (Ecosystem Approach) theo chuẩn mực quốc tế vào thực tiễn quản lý Vườn Quốc gia Cát Bà và vùng phụ cận.
Nghiên cứu tập trung đánh giá hiện trạng tài nguyên, cơ cấu sinh kế và phân tích thể chế tại 3 khu vực trọng điểm là xã Trân Châu, xã Phù Long và thị trấn Cát Bà trong giai đoạn 2006-2013. Kết quả luận văn đóng vai trò nền tảng khoa học giúp nâng cao hiệu quả quản trị, hướng tới cân bằng 3 mục tiêu cốt lõi: bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng tài nguyên bền vững và chia sẻ công bằng lợi ích kinh tế cho hơn 16.000 cư dân bản địa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng khung lý thuyết Phương pháp tiếp cận hệ sinh thái (Ecosystem Approach - EA) được Hội nghị các bên tham gia Công ước Đa dạng sinh học (CBD) thông qua tại Jakarta (1995) và Bratislava (1998). Đây là chiến lược quản lý tổng hợp tài nguyên đất, nước và sinh vật nhằm thúc đẩy bảo tồn và sử dụng bền vững, đặt con người và các lựa chọn xã hội vào vị trí trung tâm. Khung lý thuyết tích hợp 12 nguyên lý cơ bản của CBD kết hợp với các mô hình quản lý thích ứng (Adaptive Management) và đồng quản lý (Co-management) đã được kiểm chứng thành công tại các khu bảo tồn quốc tế và Việt Nam.
Hệ thống khái niệm chính được xây dựng bao gồm: Dịch vụ hệ sinh thái (Ecosystem Services), Sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods), Quản lý thích ứng theo không gian - thời gian, và Cơ chế chia sẻ lợi ích. Luận văn triển khai nghiên cứu dựa trên quy trình 5 bước tác nghiệp chuẩn mực của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái:
- Bước A: Xác định các bên liên quan, ranh giới hệ sinh thái và mối quan hệ tương hỗ.
- Bước B: Phân tích cấu trúc, chức năng, dịch vụ và thiết lập cơ chế quản lý, giám sát.
- Bước C: Đánh giá các khía cạnh kinh tế, thị trường và sinh kế cộng đồng.
- Bước D: Quản lý thích ứng theo không gian và tác động liên vùng.
- Bước E: Quản lý thích ứng theo thời gian và ứng phó biến đổi lâu dài.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn kết hợp giữa dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực địa. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ niên giám thống kê huyện Cát Hải, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006-2010, tầm nhìn 2020 của UBND thành phố Hải Phòng, cùng hệ thống báo cáo kỹ thuật của Vườn Quốc gia Cát Bà.
Phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên có mục đích (purposive sampling) kết hợp phân tầng được áp dụng trên cỡ mẫu khảo sát bao gồm 95 cán bộ chuyên trách của Vườn Quốc gia Cát Bà, lãnh đạo chính quyền 6 xã vùng đệm, cùng đại diện 150 hộ dân sinh sống bằng nghề đánh bắt, nuôi trồng thủy sản và kinh doanh dịch vụ du lịch. Ba địa bàn đại diện được lựa chọn khảo sát thực tế gồm: xã Trân Châu (trụ sở Vườn Quốc gia), xã Phù Long (trọng điểm nuôi trồng thủy hải sản) và thị trấn Cát Bà (trung tâm kinh tế, dịch vụ du lịch).
Phương pháp phân tích bao gồm: hồi cứu tài liệu, điều tra xã hội học bằng bảng hỏi bán cấu trúc kết hợp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA), thống kê mô tả định lượng và phân tích ma trận điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức (SWOT). Việc lựa chọn phương pháp phân tích này giúp nhận diện chính xác các mâu thuẫn xã hội, lượng hóa mức độ phụ thuộc sinh kế của người dân vào tài nguyên rừng - biển, đồng thời đảm bảo tính khách quan trong việc đề xuất các bước can thiệp quản lý. Đợt điều tra thực địa trọng điểm được hoàn thành từ ngày 28/10/2013 đến ngày 30/10/2013.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Kết quả nghiên cứu đã làm rõ thực trạng đa dạng sinh học và các áp lực môi trường - kinh tế xã hội tại Vườn Quốc gia Cát Bà thông qua các phát hiện nổi bật:
-
Giá trị bảo tồn sinh thái và năng lực quản trị: Vườn Quốc gia ghi nhận 1.561 loài thực vật bậc cao, 53 loài thú, 160 loài chim, 196 loài cá biển và 193 loài san hô, với 193 loài nằm trong Sách Đỏ cần ưu tiên bảo vệ nghiêm ngặt. Bộ máy quản lý gồm 95 cán bộ công nhân viên, trong đó trình độ đại học và trên đại học chiếm 28,4% (27 cán bộ), cao đẳng chiếm 8,4% (8 cán bộ), trung cấp chiếm 53,7% (51 cán bộ) và sơ cấp chiếm 9,5% (9 cán bộ).
-
Phân hóa cơ cấu lao động và sinh kế: Dân số vùng đệm tập trung chủ yếu tại thị trấn Cát Bà với 11.484 người (chiếm 69% tổng dân số vùng đệm). Cơ cấu lao động toàn vùng có 37% làm dịch vụ, 36% làm nông nghiệp và thủy sản, 14% thương nghiệp, 6% vận tải, 4% công nghiệp và 3% xây dựng. Tại các xã thuần nông như Gia Luận, Xuân Đám, Hiền Hào, hơn 50% số hộ phụ thuộc hoàn toàn vào nông - ngư nghiệp tự nhiên.
-
Chuyển dịch kinh tế và rủi ro môi trường: Ngành du lịch thu hút hơn 3.000 lao động trực tiếp trên toàn đảo và hơn 200 lao động tại các xã vùng đệm. Thu nhập bình quân từ các nghề dịch vụ biển đạt 8 - 10 triệu đồng/tháng/hộ. Tuy nhiên, sự phát triển mất kiểm soát của hàng ngàn ô lồng nuôi cá tại các vịnh ven bờ đã gây ô nhiễm cục bộ, làm gia tăng tần suất hiện tượng thủy triều đỏ gây tổn thất nặng nề cho ngành thủy sản.
-
Bất cập trong phân cấp và phối hợp thể chế: Tồn tại sự phân tán thẩm quyền giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cùng UBND các cấp. Tiếng nói và quyền lợi của cộng đồng địa phương trong việc tham gia lập quy hoạch phân vùng chưa được thể chế hóa đầy đủ.
Thảo luận kết quả
Các phát hiện thực địa phản ánh rõ nét nguyên nhân sâu xa của sự suy giảm tài nguyên: khiếm khuyết thị trường khi các giá trị dịch vụ hệ sinh thái chưa được lượng hóa và chi trả thỏa đáng, dẫn đến tình trạng khai thác cạn kiệt phục vụ lợi ích ngắn hạn. Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua sơ đồ cơ cấu lao động hình quạt (37% dịch vụ, 36% nông - ngư nghiệp), bảng đối chiếu trách nhiệm 8 nhóm bên liên quan và biểu đồ cột thể hiện mức độ tăng trưởng số lượng ô lồng bè nuôi cá biển qua từng năm.
So sánh với các bài học kinh nghiệm quốc tế như mô hình phân cấp quản lý đất đai tại Tanzania hay mô hình kiểm soát ngưỡng tải du lịch tại Vịnh Aqaba (Ai Cập), công tác quản lý tại Cát Bà thiếu một cơ chế phản hồi thích ứng linh hoạt. Tương tự bài học thành công từ Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm (Quảng Nam) và Vườn Quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp), việc công nhận quyền tiếp cận tài nguyên hợp pháp và chia sẻ doanh thu từ du lịch sinh thái cho người dân bản địa chính là đòn bẩy then chốt để chuyển hóa các xung đột bảo tồn thành quan hệ hợp tác cùng có lợi.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả phân tích SWOT và 5 bước tiếp cận hệ sinh thái, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tối ưu hóa công tác quản trị tại Vườn Quốc gia Cát Bà:
-
Thành lập Ban điều phối đồng quản lý liên ngành (Thực thi Bước A và B): Kiến nghị UBND thành phố Hải Phòng và UBND huyện Cát Hải thành lập Hội đồng điều phối phát triển bền vững quần đảo Cát Bà trong quý I/2014. Hội đồng bao gồm đại diện Ban quản lý Vườn Quốc gia, các sở ban ngành, chính quyền 6 xã vùng đệm và đại diện các tổ chức cộng đồng nhằm xóa bỏ tình trạng chồng chéo chức năng, đảm bảo 100% các kế hoạch quản lý được tham vấn ý kiến nhân dân.
-
Chuyển đổi sinh kế và chia sẻ lợi ích từ dịch vụ du lịch (Thực thi Bước C): Ban quản lý Vườn Quốc gia phối hợp với các doanh nghiệp lữ hành xây dựng các tour du lịch sinh thái cộng đồng tại xã Việt Hải, Phù Long và Trân Châu. Mục tiêu hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho khoảng 500 hộ dân từ đánh bắt ven bờ sang làm dịch vụ du lịch sinh thái, phấn đấu nâng thu nhập bình quân của cư dân vùng đệm thêm 20% vào cuối năm 2015 thông qua cơ chế chi trả dịch vụ môi trường.
-
Quy hoạch không gian và xác lập giới hạn tải sinh thái (Thực thi Bước D): Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Vườn Quốc gia Cát Bà tiến hành phân vùng lại diện tích mặt nước nuôi cá lồng bè tại vịnh Bến Bèo và vịnh Lan Hạ. Thực hiện cắt giảm từ 15% đến 20% mật độ lồng nuôi vượt quá sức tải sinh học, thiết lập hành lang bảo vệ nghiêm ngặt các bãi rạn san hô và thảm cỏ biển trước năm 2016.
-
Thiết lập hệ thống quan trắc và quản lý thích ứng theo thời gian (Thực thi Bước E): Đầu tư lắp đặt 3 trạm quan trắc tự động theo dõi chất lượng nước biển và cảnh báo sớm hiện tượng thủy triều đỏ. Định kỳ tổ chức 12 khóa đào tạo chuyên sâu hàng năm về kỹ năng quản trị thích ứng cho 95 cán bộ Vườn Quốc gia và kiểm lâm viên, đồng thời cập nhật kịch bản ứng phó với nước biển dâng theo định kỳ 5 năm một lần.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
-
Ban quản lý các Vườn Quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên: Cán bộ lãnh đạo và chuyên viên kỹ thuật có thể ứng dụng trực tiếp quy trình 5 bước tiếp cận hệ sinh thái để xây dựng đề án quản lý rừng đặc dụng, phân vùng chức năng và xây dựng mô hình du lịch sinh thái bền vững.
-
Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường: Các sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sở Tài nguyên và Môi trường tại các tỉnh, thành phố ven biển có thể sử dụng tài liệu làm cơ sở tham mưu ban hành chính sách phân cấp quản lý tài nguyên, quy hoạch không gian biển và xây dựng quy chế phối hợp đa ngành.
-
Các tổ chức phi chính phủ và viện nghiên cứu bảo tồn: Chuyên gia của các tổ chức như IUCN, WWF, MCD có thể khai thác bộ dữ liệu thực địa về kinh tế - xã hội vùng đệm và tính đa dạng của 193 loài nguy cấp để thiết kế các dự án viện trợ phát triển sinh kế cộng đồng và thích ứng biến đổi khí hậu.
-
Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Môi trường: Giới nghiên cứu chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên, Sinh thái học có thể sử dụng luận văn như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận nghiên cứu xã hội học môi trường và phân tích SWOT trong quản lý tài nguyên thiên nhiên.
Câu hỏi thường gặp
1. Phương pháp tiếp cận hệ sinh thái (Ecosystem Approach) khác phương thức quản lý truyền thống ở điểm nào?
Quản lý truyền thống thường tập trung bảo tồn đơn loài, phân chia ranh giới hành chính cứng nhắc và ngăn cấm người dân tiếp cận tài nguyên. Ngược lại, phương pháp tiếp cận hệ sinh thái dựa trên 12 nguyên lý của CBD, coi con người là một hợp phần không thể tách rời của sinh quyển, chú trọng quản lý liên vùng và chia sẻ công bằng lợi ích kinh tế cho cộng đồng bản địa.
2. Tại sao việc áp dụng tiếp cận hệ sinh thái tại VQG Cát Bà lại mang tính cấp bách?
VQG Cát Bà có tính đa dạng sinh học cao với 193 loài quý hiếm trong Sách Đỏ nhưng đang chịu áp lực rất lớn từ 16.645 dân cư vùng đệm và hàng triệu lượt du khách mỗi năm. Áp dụng cách tiếp cận này là giải pháp duy nhất giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khai thác du lịch, nuôi trồng thủy hải sản với nhiệm vụ bảo tồn hệ sinh thái đảo đá vôi.
3. Cơ cấu quản lý vùng đệm Vườn Quốc gia Cát Bà hiện nay gồm những đơn vị nào?
Quyền quản lý vùng đệm 15.259,8 ha thuộc thẩm quyền của UBND huyện Cát Hải và chính quyền 6 xã, thị trấn. Ban quản lý VQG Cát Bà trực tiếp phụ trách 16.196,8 ha vùng lõi, đồng thời phối hợp chặt chẽ với Chi cục Kiểm lâm, Sở NN&PTNT thành phố Hải Phòng và cộng đồng dân cư địa phương trong các hoạt động bảo vệ rừng và tuần tra biển.
4. Rào cản lớn nhất khi thực hiện quản lý thích ứng tại Vườn Quốc gia Cát Bà là gì?
Khó khăn lớn nhất nằm ở năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở với hơn 50% có trình độ chuyên môn trung cấp, cùng sự thiếu hụt cơ chế tài chính bền vững để hỗ trợ sinh kế cho ngư dân. Bên cạnh đó, sự chồng chéo trong các văn bản pháp quy giữa ngành lâm nghiệp, thủy sản và du lịch gây nhiều trở ngại cho việc ra quyết định thống nhất.
5. Mô hình thực tiễn nào tại Việt Nam đã chứng minh tính hiệu quả của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái?
Mô hình đồng quản lý tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm (Quảng Nam) và phục hồi sinh thái gắn với sinh kế tại VQG Tràm Chim (Đồng Tháp) là hai minh chứng rõ nét. Các mô hình này đã giúp tăng thu nhập cho người dân địa phương thông qua dịch vụ du lịch, đồng thời phục hồi thành công số lượng các loài nguy cấp như Sếu Đầu đỏ và san hô ven bờ.
Kết luận
- Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận của 12 nguyên lý tiếp cận hệ sinh thái theo chuẩn mực của Công ước Đa dạng sinh học CBD.
- Đánh giá chi tiết hiện trạng tài nguyên và cơ cấu sinh kế của 16.645 cư dân trên diện tích 16.196,8 ha Vườn Quốc gia và 15.259,8 ha vùng đệm.
- Xác định rõ vai trò, trách nhiệm và quyền lợi của 8 nhóm bên liên quan trong chuỗi quản trị tài nguyên rừng và biển Cát Bà.
- Làm sáng tỏ các xung đột sinh thái - kinh tế giữa nuôi trồng thủy sản, phát triển du lịch và công tác bảo tồn 193 loài động thực vật nguy cấp.
- Đề xuất lộ trình 4 nhóm giải pháp chiến lược khả thi nhằm nâng cao hiệu lực quản lý thích ứng theo không gian và thời gian.
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nhàn là công trình nghiên cứu công phu, cung cấp luận cứ khoa học vững chắc và giải pháp quản lý mang tính ứng dụng cao cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Việt Nam. Đề nghị các cơ quan quản lý và nhà khoa học tiếp tục mở rộng áp dụng khung phương pháp này cho giai đoạn phát triển tiếp theo. Quý độc giả và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể tham khảo toàn văn tài liệu để khai thác chi tiết các mô hình phân tích và dữ liệu khảo sát chuyên sâu!