Chương 1. hung cảnh văn hóa, văn chương vùng đất mới phương Nam thế kỷ XIX Chương 2. Những câu chuy n bằng thơ của Nguyễn Đình Chiểu Chương 3. Chuy n kể của Nguyễn Đình Chiểu trong giai đoạn hậu kỳ truy n thơ Nôm 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG C ư n 1 KHUNG CẢNH VĂN HÓA, VĂN CHƯƠNG VÙNG ĐẤT MỚI PHƯƠNG NAM THẾ KỶ XIX 1.
Cộng đồng dân cư ở Nam Kỳ Nam Kỳ đƣợc hình thành và phát triển trong thời kỳ diễn ra cuộc phân tranh giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn. Ở Đàng Ngoài, ch a Trịnh nắm giữ quyền hành, chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã mở rộng địa bàn vào Nam Kỳ để củng cố về tiềm lực kinh tế và quân sự. Theo sử sách ghi lại, chúa Nguyễn chính thức xác lập về m t nhà nƣớc chủ quyền vào năm 1698. Trong Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức viết: Mậu Dần Hiển Tông Hiếu minh hoàng đế thứ 8 (1698) (Lê Huy Tông Chính Hòa năm thứ 19, Đại Thanh hang Hy năm thứ 37) mùa xuân, sai Thống suất chưởng cơ là Lễ Thanh hầu họ Nguyễn kinh lược nước Cao Miên, lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, đặt sứ Đồng Nai làm huy n Phúc Long, dựng dinh Trấn Biên [6, tr.
L c này, dân lƣu tán từ Bố Chánh, Quảng Bình trở vào đƣợc chiêu mộ đến sinh sống khai hoang. Lịch sử còn cho thấy, Gia Định xƣa có ngƣời Cao Miên sống chung lẫn với lƣu dân của nƣớc ta. Chƣa hết, năm 1679, Dƣơng Ngạn Địch và Trần Thắng Tài là hai tƣớng của Trung Hoa sống thời nhà Minh không chịu làm tôi tớ nhà Thanh nên đã đƣa hơn 3000 quân l nh và ngƣời nhà đến Đà Nẵng xin hàng phục. Chúa Nguyễn cho nhóm di thần nhà Minh vào Mỹ Tho và Đồng Nai khai hoang sinh sống.
Năm 1680, Mạc Cửu, cũng giống nhƣ Trần Thắng Tài và Dƣơng Ngạn Địch, không chịu theo nhà Thanh đã chiêu mộ dân 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và sinh sống ở vùng Hà Tiên của nƣớc ta. Việc ngƣời Trung Hoa sinh sống ở đây đã th c đẩy buôn bán và Nam Kỳ dần hình thành xã hội thƣơng nghiệp. Ngoài ra, với tài nguyên thiên nhiên phong ph , địa bàn thuận lợi cho việc giao lƣu uôn án với các nƣớc lân cận nên Nam Kỳ còn tiếp nhận một số cƣ dân ở các nƣớc quanh khu vực đến uôn án và định cƣ. Thêm vào đ , việc chúa Nguyễn liên tục mở mang bờ cõi, đi xâm chiếm ho c chiêu mộ dân ở các nƣớc khác đến khai hoang cũng làm cho cộng đồng dân cƣ ở Nam Kỳ phong ph hơn.
Bởi vậy, cộng đồng dân cƣ ở Nam Kỳ rất đa dạng, c ngƣời Việt ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ, có ngƣời Cao Miên, c ngƣời Trung Hoa, ngƣời Xiêm, ngƣời Khmer…, họ cùng nhau sinh sống và phát triển ở những vùng khác nhau. Với nguồn gốc dân cƣ đa dạng nhƣ vậy nên văn h a Nam Kỳ rất phong phú bởi với mỗi dân tộc đến sinh sống họ đều mang trong mình những phong tục, tập quán, t n ngƣỡng riêng. Đi theo chiều thời gian hình thành Nam Kỳ, chúng ta sẽ thấy đƣợc thành phần dân cƣ của vùng đất mới này. Trong Tuyển Tập Nguyễn Văn Xuân phần Khi những lưu dân trở lại, tác giả có viết: Có lẽ tôi chẳng còn điều gì để nói trước khi đưa bạn đọc theo đoàn dân miền Trung, đa số ban đầu là lưu dân, tội đồ, dân Minh hương, dân nghèo đi tiên phong khai khẩn đất hoang rồi sau đó người Huế (làm chức vi c, làm quan) và nông dân Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định xách gươm giáo, mang cuốc, mang cày, dẫn dắt trâu bò theo đường bộ, hay tính chuy n buôn bán theo đường ghe, lần lượt rời bỏ quê hương để trở thành dân chính thức của miền Nam” [65, tr.
Nguyễn Văn Xuân còn khẳng định: Đây, hầu hết là dân nghèo tù tội, hành khất, hạng lưu dân thoát vùng đất cũ với hy vọng của kẻ đánh bạc chẵn lẻ [65, tr. Trƣớc khi chúa Nguyễn chính thức đ t chính quyền ở vùng đất Nam Kỳ và chiêu mộ dân thì ở đ đã c những ngƣời dân đ i khổ từ Trung Kỳ vào khai hoang sinh sống, họ sống rải rác, lẻ tẻ không có tổ chức. Bởi trong cuốn Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Sơn Nam c viết: Rõ ràng là trước khi chúa Nguyễn và các vua triều Nguyễn thiết lập những đơn vi hành chánh và cai trị, khẳng định vai trò nhà nước chủ quyền trên mảnh đất phía Nam thì từ rất sớm,cư dân Vi t, vốn là những nông dân xiêu tán, thợ thủ công cùng khổ, những binh lính 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lao dịch lưu đày… dưới sự áp bức bóc lột của giai cấp địa chủ của phong kiến, của chiến tranh địch họa, thiên tai đã buộc phải rời bỏ xóm làng vào Nam khẩn hoang lập nghi p [25, tr. Nhƣ vậy, thành phần dân cƣ ở Nam Kỳ hầu hết là tầng lớp dƣới của xã hội.
Đời sống của người dân Nam Kỳ Tính cách Những biên khảo, nghiên cứu của Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Văn Xuân, Sơn Nam… cho chúng ta thấy, ngƣời Nam Kỳ rất thật thà, ngay thẳng và hiếu học. Họ ƣa chuộng những ngƣời có khí tiết, trọng nghĩa, khinh tài. Có lẽ, do xuất thân là tầng lớp dân nghèo là chủ yếu, vì vậy, họ sống không toan tính, không vụ lợi. Không am hiểu sách vở nên họ dễ cảm phục hành động hơn là lời nói, sống vì tình vì nghĩa đối với nhau chứ không vì danh phận, địa vị.
Nhu cầu kết bạn khi đến một nơi mới là một điều hiển nhiên, cộng thêm với nguồn thiên nhiên trù phú1, họ không quá bận tâm đến chuyện kiếm sống, do đ họ c cơ hội giao lƣu, kết bạn để khám phá phong tục tập quán của các dân tộc khác đồng thời giới thiệu phong tục tập quán của dân tộc mình. Bên cạnh đ , đa phần họ là những ngƣời có trình độ học vấn thấp trong xã hội, vì vậy việc hiếu học, coi trọng những ngƣời thông hiểu sách vở là việc dễ hiểu. Trong Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức viết: Gia Định ở về phương Nam vị trí Dương Minh, người đủ tính trung dũng khí tiết, trọng nghĩa khinh tài, dẫu phụ nữ cũng thế” [6, tr. Trong cuốn Đại Nam nhất thống chí khi Trịnh Hoài Đức viết về tỉnh Gia Định đã khẳng định ngƣời dân ở đ rất chuộng khí tiết, trọng nghĩa khinh tài.
Học trò đọc sách, phần nhiều chú trọng 1 So với Bắc và Trung phần thì Nam phần là nơi dễ sinh sống, đất rộng ngƣời thƣa. Ngƣời dân thảnh thơi vừa làm vừa chơi cũng đủ ăn [26, tr. Vùng Gia Định nƣớc Việt ta đất rộng, thực vật phong ph , không lo đ i r t, nên dân t dự trữ, quen thói xa hoa, phong cách kẻ sĩ thì hiên ngang, do ngƣời từ bốn phƣơng tụ lại nên mỗi nhà đều có phong tục riêng [6, tr. Ngƣời miền Nam làm việc trong những điều kiện thuận lợi mà số thu hoạch có thể gấp mấy lần.
Hơn thế nữa, chim trời, cá nƣớc vốn không thiếu nên đời sống dễ dàng [65, tr. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sáng tỏ nghĩa lí mà vụng về văn chương. Nhân dân đủ người bốn phương, mỗi nhà mỗi tục. Dân nông thôn thì chất phác, dân thành thị thì hay chơi bời [37, tr.200]; khi viết về tỉnh Vĩnh Long, Sơn Nam cũng nhấn mạnh: Kẻ sĩ chăm học, dân thích buôn bán, làm ruộng, đánh cá, đều nhằm mối lợi tự nhiên mà làm ăn, dùng sức ít mà được lợi nhiều.
Đất đai rộng, thức ăn nhiều không biết chứa cất. Quân tử thì trọng trung nghĩa danh tiết, tiểu nhân thì chơi bời xa hoa, không biết kiêng sợ [37, tr.124]; về tỉnh Hà Tiên: Tính người nhẹ nhõm, ham thích phong lưu. hông ai gian tham, không ai trộm cướp, phần nhiều hào phóng và ưa chuộng xa hoa [37, tr.10]; về tỉnh Biên Hòa: Kẻ sĩ chăm học, dân siêng canh cửi, thợ ở phố mà làm vi c; buôn bán tùy đất mà sinh nhai. Tính thích múa hát, tục chuộng thờ phật [37, tr.
Việc hình thành phát triển thƣơng nghiệp với xã hội thị dân cũng là một nguyên nhân đáng kể trong việc định hình tính cách của con ngƣời Nam Kỳ. Tinh thần tôn trọng đạo nghĩa, coi nhẹ lợi ích riêng tư và lối sống phóng khoáng tự do nhiều khi lấn át ý thức thượng tôn pháp luật như một h thống chuẩn mực phi chính thống phổ biến trong con người Nam Kỳ trước Cách mạng Tháng Tám chính là một trong những h quả nổi bật của kiểu thức cấu trúc làng xã lỏng lẻo kết hợp với môi trường sinh hoạt thị dân này, và đáng nói là h quả ấy lại ít nhiều được những người đại di n của bộ phận Nho giáo nhân dân hóa tán thành và quy chuẩn hóa [43, tr. Có thể n i, đ là những t nh cách điển hình của ngƣời Nam Kỳ. Từ những t nh cách điển hình này, họ hình thành quan niệm và thói quen về cuộc sống rất riêng, khác hẳn với ngƣời Trung và ngƣời Bắc.
Thói quen Về hình thức sinh hoạt văn h a, văn nghệ ở Nam Kỳ có nhiều đ c điểm khác so với Trung Kỳ và đ c biệt là Bắc Kỳ. Lƣu dân đến Nam Kỳ chọn hình thức ca hát, kể chuyện, diễn xƣớng làm m n ăn tinh thần. Khi nhận định về đối tƣợng và hình thức tiếp nhận văn nghệ, văn chƣơng của ngƣời dân Nam Kỳ, Nguyễn Văn 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xuân viết: Mà đối tượng này không cần đọc, ngẫm nghĩ bằng xem, nghe xúc động, cười cợt, hoa chân múa tay trước những bộ môn trình diễn, những bài thơ, vè, kể chuy n ca hát, ca kịch…, rất dễ hiểu, rất cụ thể vui ra vui, buồn ra buồn rõ ràng. Để họ khỏe khoắn tinh thần, tìm thấy giấc ngủ ngon hòng nuôi sức lực dành cho những tranh đấu, những biến cố trong vùng đất mới, khác hẳn cái vùng đã ổn định từ nghìn năm họ vừa mới rời bỏ” [65, tr.
Hình thức ca hát, kể chuyện truyền miệng, trình diễn cho ngƣời khác xem đã hình thành từ đ , và đƣợc ngƣời Nam Kỳ rất ƣa chuộng. Nguyễn Văn Xuân viết: Những buổi trình diễn khẩu chiến dưới ánh trăng đã lôi kéo hàng trăm khán giả đêm này qua đêm khác, đã tạo cho văn ngh nông thôn có sinh khí lạ lùng và đã nâng cao nền văn ngh đó lên tột đỉnh với những diễn viên rất linh hoạt, thông minh mà tình tứ [65, tr.