Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Nguồn sử liệu hương ước Thăng Long - Hà Nội trước năm 1945" do nghiên cứu sinh Đinh Thị Thùy Hiên thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2015), thuộc chuyên ngành Lịch sử Sử học và Sử liệu học (mã số: 62225801), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Xuân Hằng và PGS. Vũ Văn Quân.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, hương ước vốn là loại hình tư liệu quen thuộc của làng xã truyền thống, thu hút sự quan tâm của nhiều ngành như sử học, văn hóa học, luật học, dân tộc học và xã hội học. Tuy nhiên, giới nghiên cứu trước đây chủ yếu gắn hương ước với nông thôn thuần nông vùng đồng bằng Bắc Bộ, hầu như bỏ ngỏ hương ước tại địa bàn mang tính chất đô thị và bán đô thị với cơ cấu thôn, phường, trại như Thăng Long - Hà Nội. Bên cạnh đó, việc khai thác, sử dụng khối tài liệu này trong thực tế còn tồn tại nhiều bất cập: thiếu sự phân biệt rạch ròi giữa thời điểm lập văn bản với thời điểm sao chép; thiếu sự phê phán văn bản nghiêm túc dẫn đến sai lệch kết quả nghiên cứu; chưa có công trình nào khảo sát một cách hệ thống toàn bộ khối hương ước Thăng Long - Hà Nội dưới góc độ sử liệu học nhằm xác định đặc trưng hình thức, nội dung và giá trị phản ánh đời sống xã hội. Đồng thời, nghiên cứu quá trình vận động của hương ước trong lịch sử còn có ý nghĩa cung cấp luận cứ khoa học cho công tác xây dựng hương ước, quy ước ở cấp cơ sở hiện nay.

Mục đích nghiên cứu của luận án gồm ba điểm chính:

  1. Góp phần tìm hiểu hương ước Việt Nam từ lịch sử hình thành, phát triển đến đặc điểm và giá trị sử liệu.
  2. Đánh giá giá trị sử liệu của hương ước đối với việc nghiên cứu đời sống xã hội Thăng Long - Hà Nội trên cơ sở đặc điểm và tính chất của nguồn tin.
  3. Đóng góp vào cơ sở khoa học cho việc triển khai xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước trong giai đoạn hiện nay.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể:

  1. Nhận diện quá trình hình thành và chuyển đổi của hương ước Thăng Long - Hà Nội, chỉ ra đặc điểm hình thức và nội dung của từng giai đoạn.
  2. Từ trường hợp Thăng Long - Hà Nội, đóng góp vào nhận thức chung về lịch sử hình thành cùng những biến đổi về hình thức và nội dung của hương ước Việt Nam.
  3. Phác họa bức tranh khái quát về mọi mặt đời sống đô thị truyền thống Thăng Long - Hà Nội qua nguồn sử liệu hương ước.

Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm:

  1. Xác định tập hợp hương ước Thăng Long - Hà Nội trên cơ sở phê khảo địa điểm hình thành và niên đại của các văn bản hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I và các cộng đồng cơ sở.
  2. Tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển của hương ước Thăng Long - Hà Nội, làm rõ điều kiện xuất hiện, các giai đoạn phát triển, đặc điểm hình thức và nội dung trong mối liên hệ với hương ước Việt Nam nói chung.
  3. Phác họa các nét căn bản của đời sống xã hội Thăng Long - Hà Nội dựa trên thông tin phản ánh từ nguồn hương ước, làm nổi bật giá trị sử liệu của nguồn.

Đối tượng nghiên cứu là nguồn sử liệu hương ước Thăng Long - Hà Nội trước năm 1945, bao gồm cả các văn bản hương ước chính thức (đã qua phê duyệt của chính quyền) và các văn bản hương ước chưa chính thức (các bản quy ước, khoán lệ, văn bản hóa tục lệ của các cộng đồng cơ sở).

Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi thời gian: Tập trung vào các văn bản hương ước được lập trước tháng 8 năm 1945, bao gồm khối hương ước cổ truyền và hương ước thời cận đại.
  • Phạm vi không gian: Khu vực Hà Nội truyền thống ("Hà Nội - Thăng Long"), tương ứng với vùng lõi lịch sử gồm phủ Phụng Thiên (thời Lê) / phủ Hoài Đức (thời Nguyễn) với hai huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận; thời cận đại là Thành phố Hà Nội (Đại lý Hà Nội) và huyện Hoàn Long (tỉnh Hà Đông); nay thuộc địa bàn các quận Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Ba Đình, Đống Đa, phần lớn quận Tây Hồ và một phần các quận Cầu Giấy, Thanh Xuân, Hoàng Mai.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã thống kê và phân tích tổng cộng 125 công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến hương ước, phân chia theo các nhóm hướng tiếp cận chính:

STT Nhóm nội dung công trình Số lượng Bài viết, kỷ yếu Luận văn, luận án Sách Đề tài Trước 1989 1990 - 1999 2000 đến nay
1 Các nghiên cứu sử dụng hương ước làm nguồn tư liệu chính 30 21 7 1 1 1 4 25
2 Sưu tầm, dịch thuật và công bố văn bản học hương ước 27 5 0 21 1 0 11 16
3 Các nghiên cứu lấy hương ước làm đối tượng nghiên cứu trực tiếp 68 38 17 11 2 5 18 45
Tổng Toàn bộ công trình khảo sát 125 64 24 33 4 6 33 86

Các hướng nghiên cứu trước đây được tác giả điểm lại bao gồm:

  1. Nghiên cứu làng xã có đề cập đến hương ước: Các học giả thời Pháp thuộc và cận đại như Phan Kế Bính (1915), Pierre Gourou (1936), Nguyễn Văn Huyên; giai đoạn sau năm 1945 có Nguyễn Hồng Phong (1959), Trần Từ (1984), Văn Tạo (1993), Phan Đại Doãn và Nguyễn Quang Ngọc (1994), Phan Đại Doãn và Nguyễn Chí Dĩnh (1995), Nguyễn Hải Kế (1996), Philippe Papin và Olivier Tessier (2002), Vũ Ngọc Khánh (2011), cùng các tác giả nước ngoài như Nhung Tuyết Trần, Martin Grossheim. Các công trình này chủ yếu sử dụng hương ước làm dẫn liệu minh họa cho cấu trúc làng xã.
  2. Nghiên cứu về cải lương hương chính: Trần Trọng Mạch (1982), Nguyễn Thị Thu Hồng (2003), Lê Thị Hằng (2008), Nguyễn Thị Lệ Hà (2012, 2013, 2014) khảo sát chính sách cải lương hương chính của chính quyền thuộc địa Pháp tại Bắc Kỳ và tỉnh Hà Đông.
  3. Nghiên cứu sử dụng hương ước làm nguồn tư liệu: Khai thác về Nho giáo và tầng lớp nho sĩ (Nguyễn Hữu Mùi, 1994; Vũ Thị Phụng, 1995); về lễ nghi và đời sống làng Công giáo (Nguyễn Hồng Dương, 2004; Nguyễn Quế Hương, 2006, 2012); về thí điểm cải lương hương tục ở Bắc Kỳ (Đào Phương Chi, 2005, 2006); về quản lý làng xã theo địa phương như Bắc Ninh (Phạm Xuân Nam và Cao Văn Biền, 1994), Phú Thọ (Dương Hà Hiếu, 2003, 2009), Chương Mỹ - Hà Nội (Nguyễn Quang Ngọc, 1996).
  4. Sưu tầm, thư mục và văn bản học hương ước: Các thư mục của Viện Thông tin Khoa học Xã hội (1991, 1994), Viện Nghiên cứu Hán Nôm (1993); các bài nghiên cứu văn bản học của Nguyễn Thị Phượng (1989), Trần Thu Hường (2000), Nguyễn Tá Nhí (2004), Vương Tiểu Thuẫn (2000); các tập sách sưu tầm địa phương của Nguyễn Tá Nhí (1993), Võ Quang Trọng và Phạm Quỳnh Phương (1996), Ninh Viết Giao (1998), Hoàng Giáp (1998), Hồ Đức Thọ (1999), Đinh Khắc Thuân (2006).
  5. Nghiên cứu chuyên sâu về hương ước: Vũ Duy Mền (1982, 1989, 1993, 2000, 2010) với các công trình về hương ước cổ đồng bằng Bắc Bộ; Bùi Xuân Đính (1985, 1994, 1996, 1998, 2000) tiếp cận hương ước dưới góc độ dân tộc học pháp lý; Cao Văn Biền (1996, 1998); Nguyễn Quang Ngọc (1998); Lê Đức Tiết (1998); Phạm Văn Sơn (2001, 2007); Huỳnh Khái Vinh (2001); Nguyễn Huy Tính (2003); Đinh Khắc Thuân (2005); Đinh Thị Thùy Hiên (2012, 2014). Các nghiên cứu so sánh quốc tế giữa hương ước Việt Nam với hương ước Triều Tiên của Phạm Thị Thùy Vinh (2004, 2008), hoặc với Nhật Bản, Trung Quốc của Shimao Minoru (2002).
  6. Nghiên cứu về hương ước Thăng Long - Hà Nội: Có 15/125 công trình liên quan trực tiếp (Kiều Thu Hoạch, Bùi Xuân Đính, Đinh Khắc Thuân, Nguyễn Tá Nhí...), phần lớn là bài giới thiệu, dịch thuật công bố nhân dịp Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội (2010).

Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết là: Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và bao quát toàn bộ khối tư liệu hương ước Thăng Long - Hà Nội từ góc độ Sử liệu học. Các công trình trước đây còn để lại nhiều tồn nghi về việc xác định địa danh gốc, nhầm lẫn niên đại lập với niên đại sao chép, chưa phân kỳ chuẩn xác các giai đoạn chuyển đổi văn bản và chưa làm rõ những đặc trưng riêng của hương ước tại một không gian đô thị, bán đô thị lịch sử.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết và khái niệm, luận án dựa trên hệ thống lý luận của Sử liệu học chuyên ngành lịch sử, xem hương ước là một loại hình sử liệu thành văn phản ánh tổ chức và đời sống của cộng đồng cơ sở. Khái niệm hương ước được xác định là bộ luật chính thức, thành văn của một làng hoặc một cộng đồng cơ sở ở nông thôn/đô thị truyền thống, được biên soạn dựa trên tục lệ địa phương và có sự phê duyệt của chính quyền để thi hành. Luận án khảo sát cả hương ước chính thức và các văn bản "văn bản hóa tục lệ" (khoán lệ, điều lệ giáp, hội) nhằm tái hiện bức tranh toàn diện.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực tế được sử dụng gồm:

  • Phương pháp sử liệu học: Là phương pháp chủ đạo. Luận án thực hiện thao tác phê phán bên ngoài (giám định chất liệu giấy, chữ viết, khuôn khổ, ấn triện, khảo sát địa danh, phục hồi niên đại lập và sao) và phê phán bên trong (đối chiếu thông tin, thẩm định mức độ tin cậy của nội dung nhằm đánh giá giá trị sử liệu).
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, phân loại, định lượng các dữ liệu đám đông từ 62 văn bản hương ước về phân bố không gian, niên đại, số lượng điều khoản, cơ cấu hình phạt, mức tiền khao vọng nhậm chức, phụ cấp chức dịch, cơ cấu chi phí tế tự và sử dụng ruộng đất.
  • Phương pháp mô tả lịch sử: Tái hiện quá trình hình thành, phát triển của hương ước và phục dựng các mặt đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa - tín ngưỡng của Thăng Long - Hà Nội.
  • Phương pháp so sánh: Áp dụng so sánh lịch đại (giữa ba giai đoạn hương ước cổ, chuyển tiếp và cải lương) và so sánh đồng đại (giữa hương ước Thăng Long - Hà Nội với hương ước nông thôn Bắc Bộ và Trung Bộ).
  • Phương pháp bản đồ: Trực quan hóa mật độ phân bố của các đơn vị có hương ước trên không gian hành chính Thăng Long - Hà Nội qua các thời kỳ.
  • Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc: Trình bày tiến trình biến đổi của hương ước và cấu trúc đời sống xã hội một cách có hệ thống.

Nguồn tư liệu thực tế của luận án bao gồm:

  • 62 văn bản hương ước Thăng Long - Hà Nội được khai thác trực tiếp từ Viện Nghiên cứu Hán Nôm (VNCHN), Viện Thông tin Khoa học Xã hội (VTTKHXH), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I (TTLTQGI - Phông Tòa sứ Hà Đông), Thư viện Hà Nội và tư liệu điền dã tại các di tích cơ sở. Trong 62 văn bản này, có 23 bản chữ Hán, 16 bản chữ Nôm và 23 bản chữ Quốc ngữ (hoặc song ngữ Quốc ngữ - Pháp).
  • Nguồn thư tịch cổ: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục, Hồng Đức thiện chính thư, Các trấn tổng xã danh bị lãm, Đồng Khánh địa dư chí, hệ thống địa bạ triều Nguyễn.
  • Nguồn văn khắc: Hệ thống bia tục lệ tại các làng, xã, phường, thôn thuộc Hà Nội.
  • Tài liệu lưu trữ hành chính thời thuộc Pháp về cải lương hương chính giai đoạn 1906-1945.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 phân tích chi tiết lịch sử nghiên cứu vấn đề hương ước ở Việt Nam và hương ước Thăng Long - Hà Nội qua 125 công trình học thuật đã công bố từ đầu thế kỷ XX đến năm 2015. Tác giả chỉ ra sự gia tăng mạnh mẽ của các nghiên cứu về hương ước từ thập niên 1990 trở lại đây (chiếm 119/125 công trình), đồng thời phân tích những ưu điểm và hạn chế của từng khuynh hướng nghiên cứu. Qua đó, chương này khẳng định tính cần thiết của việc tiếp cận nguồn sử liệu hương ước Thăng Long - Hà Nội một cách tổng thể, có hệ thống theo phương pháp luận sử liệu học, khắc phục sự tùy tiện, tản mạn trong giám định và sử dụng văn bản của các công trình đi trước.

Chương 2: Khái quát về hương ước và hương ước Thăng Long - Hà Nội

Chương 2 tập trung khảo sát các bộ sưu tập hương ước tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Thông tin Khoa học Xã hội và Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, tiến hành phê phán sử liệu đối với 62 văn bản hương ước Thăng Long - Hà Nội.

Về địa điểm hình thành, tác giả giải quyết các trường hợp địa danh bị trùng lắp, thiếu thông tin hoặc sai lệch trong các thư mục trước đây:

  • Xác định văn bản ký hiệu A.1981 tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm là khoán lệ lập năm Minh Mệnh 9 (1828) của giáp Nhiễm Thượng, thuộc phường Đông Tác, tổng Hữu Túc (sau đổi là tổng Đông Thọ), huyện Thọ Xương (khu vực phố Cầu Gỗ, Hàng Dầu, Lò Sũ hiện nay).
  • Minh xác Đông Tác hương cải lương bạ là hương ước của riêng thôn Trung Tự thuộc làng Đông Tác, chứ không phải của toàn làng Đông Tác.
  • Xác định Bạch Mai xã Nhất Nhị Mật Nội hương ước bạ (1923) là bản quy ước riêng của 4 giáp (Nhất, Nhị, Mật, Nội) trong số 6 giáp của làng Bạch Mai.
  • Phục hồi chính xác địa bàn của hương ước giáp Tây làng Linh Quang, giáp Trung Thuận làng Mỹ Đức (nguyên là thôn Trung Kính đầu thế kỷ XIX), và hương ước xã Vĩnh Phúc thuộc tổng Nội, huyện Hoàn Long.

Về mật độ phân bố không gian, 62 văn bản hương ước thuộc về 45 đơn vị cơ sở (xã, thôn, phường, trại) cùng 3 tổ chức cấp trên cơ sở (Văn hội huyện Thọ Xương, Văn hội tổng Đông Thọ). Số văn bản này phân bố trên 11 tổng thuộc 2 huyện:

Huyện Tổng Số lượng văn bản hương ước
Thọ Xương Đông Thọ (Hữu Túc cũ) 5
Hữu Nghiêm (Yên Hòa / Vĩnh An) 10
Tả Nghiêm (Kim Hoa / Kim Liên) 4
Tả Túc (Phúc Lâm) 6
Hậu Nghiêm (Thanh Nhàn) 2
Tiền Nghiêm (Vĩnh Xương) 2
Vĩnh Thuận Hạ (Yên Hạ) 9
Nội 7
Trung 8
Thượng 5
Yên Thành 2
Tổng cộng 11 tổng 60 văn bản cơ sở (+ 2 văn bản Văn hội huyện)

Tác giả chỉ ra rằng mật độ hương ước tại Thăng Long - Hà Nội thưa thớt hơn nhiều so với các vùng nông thôn thuần nông Bắc Bộ (tỷ lệ hương ước cải lương ở Thái Bình đạt 45,5% số làng; Lập Thạch đạt 98%; Yên Lạc đạt 55%; Mê Linh đạt 53,3%).

Về niên đại văn bản, luận án tổng hợp và đính chính các thông tin niên đại:

Tổng số văn bản Niên đại của văn bản Niên đại lập hương ước Niên đại phê duyệt Niên đại sao chép Niên đại sửa đổi
62 9/62 51/62 28/62 15/62 3/62

Tác giả đã hiệu chỉnh các nhầm lẫn lớn: bản hương ước xã Tàm Xá ghi năm Khải Định 6 thực chất được lập vào ngày 20 tháng Giêng năm Khải Định 7 (27/2/1922); khoán lệ phường Xã Đàn và phường Kim Liên có hiện tượng "niên đại chồng niên đại" (lập năm 1900 và 1906 nhưng có bổ sung điều khoản vào các năm Duy Tân 1909, 1910); hương ước xã Vĩnh Phúc được lập năm 1923, sửa đổi năm 1927 và sao chép ghi chú bổ sung năm 1942; khoán lệ phường Hà Khẩu được xác định lập năm Đinh Mùi (1907).

Chương 3: Các giai đoạn chuyển đổi của hương ước Thăng Long - Hà Nội

Chương này phân tích đặc điểm hình thức và nội dung của hương ước qua 3 giai đoạn chuyển đổi lịch sử:

  1. Giai đoạn hương ước cổ (trước năm 1906):

    • Điều kiện và hình thức: Xuất hiện sớm nhất từ thế kỷ XV, định hình rõ nét từ thế kỷ XVII-XVIII. Văn bản viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm, trình bày trên giấy dó hoặc khắc gỗ, cấu trúc linh hoạt gồm bài tựa, điều khoản quy ước và danh sách người lập.
    • Nội dung: Tự nguyện, phản ánh nhu cầu tự quản nội bộ của làng, phường, giáp. Các quy định tập trung vào trật tự nội bộ, tục lệ tế tự thần linh, khao vọng lên lão, tương tế và bảo vệ an ninh xóm ngõ. Quy chế thưởng phạt mang tính răn đe cộng đồng: phạt tiền, phạt rượu thịt, phạt đòn, truất ngôi thứ tại đình làng, cô lập xã hội (phạt vạ).
  2. Giai đoạn hương ước chuyển tiếp (từ năm 1906 đến trước ngày 12-8-1921):

    • Bối cảnh: Chính quyền thuộc địa Pháp bắt đầu thử nghiệm chính sách can thiệp vào làng xã thông qua phong trào cải lương hương tục thí điểm tại các tỉnh Hà Đông, Bắc Ninh, Hưng Yên từ 1905-1906.
    • Đặc điểm: Bắt đầu xuất hiện chữ Quốc ngữ sơ kỳ song song với chữ Nôm và chữ Hán. Nội dung tập trung tiết giảm triệt để các hủ tục, chi phí tốn kém trong việc cưới hỏi, tang ma, khao vọng nhậm chức và tế tự hàng năm, trong khi tổ chức bộ máy hành chính làng xã chưa có sự thay đổi mang tính pháp quy đồng bộ.
  3. Giai đoạn hương ước cải lương (từ sau ngày 12-8-1921 đến trước tháng 8 năm 1945):

    • Bối cảnh: Thực thi Nghị định cải lương hương chính ngày 12-8-1921 của Thống sứ Bắc Kỳ và Nghị định sửa đổi ngày 25-2-1927.
    • Đặc điểm: Hương ước được soạn thảo theo mẫu in sẵn thống nhất của chính quyền bảo hộ, sử dụng chữ Quốc ngữ hoặc song ngữ Quốc ngữ - Pháp/Hán. Cấu trúc chia thành các phần rõ rệt: Hội đồng tộc biểu, Lý trưởng, Phó lý, Trương tuần, tài chính làng xã, tuần phòng, hộ tịch, tế tự và vệ sinh giáo dục. Tính tự quản truyền thống bị suy giảm, hương ước trở thành văn bản quy phạm hành chính cấp cơ sở, phục vụ sự kiểm soát của nhà nước thực dân đối với làng xã.

Chương 4: Đời sống xã hội Thăng Long - Hà Nội qua hương ước

Chương 4 khai thác thông tin từ nguồn hương ước để tái hiện các mặt của đời sống Thăng Long - Hà Nội:

  1. Các vấn đề chính trị - xã hội:

    • Quản lý dân cư: Phân biệt chặt chẽ giữa dân nội tịch (chính cư) và dân ngụ cư. Dân ngụ cư bị hạn chế quyền lợi về ruộng đất công, vị trí ngồi ở đình làng và tham gia bộ máy tự quản, nhưng được quy định nghĩa vụ đóng góp tiền sưu, tuần canh.
    • Bộ máy quản lý cơ sở: Sự vận hành của Lý trưởng, Phó lý, Trương tuần, Hội đồng tộc biểu và Hội đồng kỳ mục. Luận án thống kê chi tiết mức tiền khao vọng nhậm chức Lý trưởng (dao động từ vài chục đến hàng trăm đồng bạc Đông Dương), khoản tiền phụ cấp hàng năm cho Lý trưởng (từ 24 đến 60 đồng), hoa lợi ruộng phụ cấp cho Phó lý và tiêu chuẩn tuyển chọn Trương tuần (độ tuổi từ 18 đến 50, khỏe mạnh, không tiền án).
    • Thiết chế tự quản: Hoạt động của các giáp (tổ chức tế tự, tương trợ tang ma, chuyển giao nghĩa vụ tuần điếm), các hội phường nghề thủ công và buôn bán.
    • Trật tự trị an và nếp sống: Quy định chặt chẽ về việc cấm đánh bạc, trộm cắp, cấm chứa chấp người lạ mặt ban đêm, chế độ tuần canh điếm canh, quy định trách nhiệm bồi thường của Trương tuần khi để xảy ra mất trộm.
  2. Đời sống kinh tế:

    • Tình hình ruộng đất: Quản lý ruộng đất công (công điền, công thổ), ruộng họ, ruộng chùa, đất chợ, bến bãi. Các hình thức canh tác: chia canh công điền theo định kỳ, đấu thầu ruộng công để lấy tiền sung công quỹ tế tự hoặc tu bổ đường sá, đình miếu.
    • Hoạt động kinh tế đặc thù: Phản ánh tính chất đô thị - thương mại qua các quy định về thu thuế môn bài, hoa lợi bến tàu thủy, bến xe lửa, chợ búa, việc buôn bán của "hàng phố", nghề nhuộm vải (phường Đông Tác), nghề dệt (Trích Sài, Duệ Tú), nghề làm giấy (Hồ Khẩu, Yên Thái).
  3. Đời sống văn hóa - tín ngưỡng:

    • Hệ thống cơ sở thờ tự: Đình, đền, chùa, miếu, quán, văn chỉ, võ chỉ. Luận án thống kê quy mô và số lượng cơ sở thờ tự của từng làng, trại.
    • Hoạt động tế tự: Chi phí tế lễ hàng năm, cơ cấu đóng góp của dân làng, tuần tiết sóc vọng, lễ kỳ phúc đầu xuân, lễ hạ điền, thượng điền. Số liệu chi phí tế tự của thôn Thọ, làng Yên Thái cho thấy chi phí tế thần chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng ngân sách làng xã trước năm 1921 và giảm dần trong giai đoạn cải lương.
    • Phong tục tập quán: Các nghi thức cưới cheo, lễ khao vọng lên lão (ở tuổi 50, 55, 60, 70), lễ tang ma, lễ kết chạ giữa các làng lân cận nhằm duy trì tình đoàn kết xóm giềng.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt sử liệu học: Luận án là công trình đầu tiên tập hợp, giám định và xác lập hệ thống 62 văn bản hương ước Thăng Long - Hà Nội trước năm 1945 một cách toàn diện. Tác giả đã hiệu chỉnh chính xác nhiều sai sót về địa danh hình thành, đính chính niên đại lập và sao chép của các văn bản tồn nghi, đồng thời thiết lập phương pháp luận phê phán nguồn sử liệu hương ước có thể ứng dụng rộng rãi.
  2. Về mặt nhận thức lịch sử: Làm sáng tỏ ba giai đoạn chuyển đổi của hương ước (cổ truyền, chuyển tiếp, cải lương), phân tích cơ chế dung hòa giữa luật pháp của nhà nước và lệ tục tự quản của cộng đồng. Luận án chỉ ra những nét đặc thù của hương ước khu vực đô thị và bán đô thị Thăng Long - Hà Nội: sự đan xen giữa thiết chế làng và phố, sự quản lý phức tạp đối với dân ngụ cư, kinh tế thủ công thương nghiệp phát triển bên cạnh nông nghiệp ven đô.
  3. Về mặt thực tiễn: Cung cấp hệ thống luận cứ khoa học, kinh nghiệm lịch sử giúp các cơ quan quản lý văn hóa và chính quyền cơ sở tham khảo trong việc xây dựng, điều chỉnh quy ước, hương ước tại các làng xã, tổ dân phố hiện nay nhằm phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp và loại bỏ các tập tục lạc hậu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án chỉ giới hạn phạm vi khảo sát ở khu vực Hà Nội truyền thống (vùng lõi Thăng Long xưa gồm hai huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận cũ), chưa thể bao quát toàn bộ địa bàn thành phố Hà Nội mở rộng hiện nay. Một số văn bản hương ước còn lưu giữ rải rác trong nhân dân chưa được tiếp cận trực tiếp bản gốc mà phải tham khảo qua các ấn bản công bố trước đó.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát sang toàn bộ các huyện ngoại thành thuộc Hà Nội mở rộng; tiến hành nghiên cứu so sánh chuyên sâu giữa hương ước khu vực đô thị hóa với hương ước các vùng nông thôn thuần nông; đẩy mạnh ứng dụng phương pháp sử liệu học để giám định các kho hương ước địa phương khác trên toàn quốc.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Lịch sử, Sử liệu học, Văn hóa học, Luật học, Dân tộc học, Xã hội học và Hà Nội học.
  • Giảng viên đại học sử dụng trong giảng dạy các chuyên đề về Lịch sử Việt Nam cổ trung đại và cận đại, Lịch sử Thăng Long - Hà Nội, Giám định văn bản Hán Nôm và Sử liệu học.
  • Các nhà quản lý văn hóa, cán bộ hoạch định chính sách tại các cơ quan quản lý nhà nước tham khảo kinh nghiệm quản lý cộng đồng cơ sở, kỹ thuật soạn thảo và thẩm định quy ước tổ dân phố, hương ước làng văn hóa hiện nay.

Các phần đáng tham khảo nhất là: Chương 2 với quy trình và phương pháp giám định văn bản học hương ước; Chương 3 và 4 với hệ thống bảng thống kê số liệu định lượng về tổ chức bộ máy, phụ cấp chức dịch, ngân sách làng xã và chi phí tế tự truyền thống.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đã khảo sát bao nhiêu văn bản hương ước Thăng Long - Hà Nội và phân bố loại hình chữ viết như thế nào?
Luận án khảo sát tổng cộng 62 văn bản hương ước thuộc khu vực Hà Nội truyền thống trước năm 1945. Phân bố theo chữ viết gồm: 23 văn bản chữ Hán, 16 văn bản chữ Nôm và 23 văn bản chữ Quốc ngữ (hoặc song ngữ Quốc ngữ - Pháp/Hán).

2. Giai đoạn chuyển tiếp (1906 đến trước 12-8-1921) của hương ước có đặc điểm gì khác biệt so với giai đoạn cải lương (1921-1945)?
Giai đoạn chuyển tiếp (1906-1921) là thời kỳ thí điểm cải lương hương tục, chủ yếu can thiệp vào phong tục nhằm tiết giảm chi phí cưới hỏi, tang ma, khao vọng và tế tự, văn bản vẫn viết bằng chữ Nôm hoặc Quốc ngữ sơ kỳ, bộ máy tự quản chưa bị khuôn định chặt chẽ. Giai đoạn cải lương (1921-1945) là sự can thiệp hành chính toàn diện theo Nghị định của Thống sứ Bắc Kỳ, khuôn định cơ cấu tổ chức bộ máy cơ sở (Hội đồng tộc biểu, Lý trưởng, Trương tuần), kiểm soát ngân sách làng xã và sử dụng mẫu in sẵn thống nhất.

3. Vì sao mật độ hương ước tại khu vực Thăng Long - Hà Nội lại thưa thớt hơn so với các vùng nông thôn Bắc Bộ khác?
Do Thăng Long - Hà Nội là trung tâm hành chính và đô thị, có sự biến động liên tục về địa giới, tốc độ đô thị hóa cao làm thay đổi cơ cấu hành chính từ phường sang thôn, xã rồi sang phố. Các tổ chức cộng đồng tại đây bị chi phối mạnh mẽ bởi luật pháp nhà nước và các thiết chế đô thị trực tiếp, khiến nhu cầu duy trì hương ước độc lập của từng đơn vị cơ sở không đồng đều như các làng xã thuần nông khép kín ở vùng đồng bằng.

4. Tác giả đã đính chính sai lệch niên đại của bản hương ước xã Tàm Xá như thế nào?
Bản hương ước xã Tàm Xá (ký hiệu Hưn195) ghi niên đại lập là ngày 20 tháng Giêng năm Khải Định 6 (1921). Tuy nhiên, Điều 138 của văn bản có điều khoản quy định nếu khoản nào trái với Nghị định ngày 12-8-1921 của quan Thống sứ thì phải bỏ đi. Dựa trên cứ liệu nội dung này, tác giả khẳng định văn bản phải được lập sau tháng 8 năm 1921, cụ thể là ngày 20 tháng Giêng năm Khải Định 7 (tức ngày 27-2-1922 dương lịch), do người chép đầu năm âm lịch quen tay ghi nhầm niên hiệu năm cũ.

5. Nguồn hương ước phản ánh những nét đặc thù nào về kinh tế của Thăng Long - Hà Nội?
Bên cạnh kinh tế nông nghiệp trồng lúa và rau màu ven đô, hương ước phản ánh đậm nét các hoạt động kinh tế đô thị và thương nghiệp: thu thuế chợ, thuế đất buôn bán mặt phố ("đất phố"), hoa lợi từ bến tàu thủy, nhà ga xe lửa, cùng các quy định bảo hộ và tổ chức sản xuất của các làng nghề thủ công truyền thống như nghề làm giấy (Yên Thái, Hồ Khẩu), nghề nhuộm (Đông Tác), nghề dệt lụa (Trích Sài).

Kết luận

Luận án "Nguồn sử liệu hương ước Thăng Long - Hà Nội trước năm 1945" của tác giả Đinh Thị Thùy Hiên là một công trình nghiên cứu sử liệu học chuyên sâu, xử lý một cách khoa học khối tài liệu 62 văn bản hương ước của vùng lõi kinh kỳ - thủ đô. Qua việc thẩm định nghiêm ngặt về văn bản học, địa danh và niên đại, công trình đã xác lập ba giai đoạn phát triển lịch sử của hương ước, đồng thời phục dựng sinh động bức tranh đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa của Thăng Long - Hà Nội thời cổ truyền và cận đại. Luận án không chỉ có giá trị học thuật đối với ngành Lịch sử và Sử liệu học Việt Nam mà còn cung cấp cơ sở thực tiễn cho công tác quản lý xã hội và xây dựng quy ước cộng đồng trong giai đoạn hiện nay.