Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI BỊ HẠI TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại người bị hại trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm Theo Từ điển tiếng Việt, “người bị hại là người chịu sự tác động tiêu cực của việc, hành vi hoặc sự bất kỳ sự tác động nào khác dẫn đến những thiệt thòi, mất mát hay tổn thương cho chính họ” [49]. Thiệt hại gây ra cho người bị hại có thể là thiệt hại về vật chất hoặc phi vật chất và không giới hạn mức độ thiệt hại Người bị hại là một khái niệm quen thuộc trong khoa học pháp lý TTHS.
Tuy nhiên, thế nào là người bị hại, phạm vi người bị hại. thì cho đến nay vẫn chưa có sự nhận thức thống nhất, các ý kiến còn khác nhau. Để có sự nhận thức đầy đủ và thống nhất về khái niệm người bị hại cần tiếp cận khái niệm này dưới những góc độ khác nhau, phân biệt với một số khái niệm liền kề như phân biệt khái niệm người bị hại với khái niệm nạn nhân, người bị hại với khái niệm đối tượng tác động của tội phạm, khái niệm người bị hại với khái niệm người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan…[5]. Theo chúng tôi đây là những khái niệm gần nhau nhưng không đồng nhất với nhau.
Thứ nhất: Nạn nhân có phải là người bị hại không? Trả lời câu hỏi này, có quan điểm cho rằng người bị hại chính là nạn nhân của tội phạm. Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Nội dung khái niệm người bị hại có nội hàm hẹp hơn so với khái niệm nạn nhân của tội phạm. Như đã biết, hành vi phạm tội luôn gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ.
Để gây ra những thiệt hại cho những quan hệ này, hành vi phạm tội đã tác động, đã gây thiệt hại cho một số cá nhân, tổ chức. Trong 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khi đó “Nạn nhân của tội phạm là những cá nhân, tổ chức bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại, gây ra những thiệt hại về thể chất, về tinh thần, tài sản hoặc các quyền, lợi ích hợp pháp khác” [48]. Như vậy, nạn nhân của tội phạm ngoài cá nhân còn có thể là tổ chức, pháp nhân; thiệt hại của nạn nhân không chỉ về thể chất, về tinh thần, về tài sản mà còn có thể bao hàm những thiệt hại về các quyền và các lợi ích hợp pháp khác, thiệt hại đó có thể bao gồm cả những thiệt hại gián tiếp; hơn nữa nạn nhân chỉ khi tham gia quan hệ pháp luật TTHS mới được xem là người bị hại. Thứ hai: “Đối tượng tác động của tội phạm là một bộ phận khách thể của tội phạm bị hành vi phạm tội tác động đến, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại” [50].
Đối tượng tác động của tội phạm không chỉ là con người mà còn bao gồm các đối tượng vật chất khác và các hoạt động bình thường của chủ thể. Trong khi đó con người – nạn nhân bị tội phạm xâm phạm về thể chất, tinh thần và các quyền tự do dân chủ, họ chính là một trong số các đối tượng tác động của tội phạm. Thứ ba: Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng có điểm giống nhau về quyền yêu cầu đối với những thiệt hại mà tội phạm đã gây ra như quyền yêu cầu về vấn đề bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản bị xâm hại. Nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án còn có thể có yêu cầu CQTHTT giải quyết vấn đề về tài sản khi tài sản của họ có liên quan đến việc giải quyết vụ án và tài sản này không phải là đối tượng mà tội phạm tác động tới mà chỉ bị người phạm tội s dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội hoặc bị CQTHTT kê biên cùng tài sản của người phạm tội.
Trong những trường hợp cụ thể để xác định người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đối với những tội danh mà ngay tên tội đã thể hiện đối tượng tác động (là tính mạng, sức khỏe, danh dự, tài sản…) thì người bị thiệt hại được xác 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định là người bị hại. Còn đối với những tội danh khác, để tránh sự nhầm lẫn trong việc xác định tư cách của người bị hại với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thường căn cứ vào mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại với hành vi mà người phạm tội đã thực hiện. - Nếu thiệt hại là kết quả trực tiếp của hành vi phạm tội, phù hợp với mục đích của người phạm tội thì người bị thiệt hại được xác định là người bị hại. - Nếu thiệt hại không phải là kết quả trực tiếp của hành vi phạm tội, không có mối liên hệ mật thiết với hành vi phạm tội, không phù hợp với mục đích của người phạm tội thì người bị thiệt hại được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Thứ tư: “nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về vật chất và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại” [27, Điều 52]. Như vậy, nguyên đơn dân sự bao gồm: cá nhân, cơ quan, tổ chức; còn người bị hại chỉ là những con người cụ thể. Tiêu chí khác để phân biệt hai chủ thể này là hành vi đưa đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại. Người bị hại đương nhiên được tham gia tố tụng vì hậu quả đối với họ trong một số trường hợp được coi là một trong những yếu tố cấu thành tội phạm, trong một số trường hợp được coi là tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Hậu quả này chính là đối tượng cần chứng minh trong vụ án. Mặt khác họ có thể là người chứng kiến hành vi phạm tội (như người bị gây thương tích, bị cướp tài sản…). Họ tham gia tố tụng để giúp CQTHTT làm rõ hành vi của người phạm tội và để đảm bảo quyền lợi của chính họ. Khác với họ, nguyên đơn dân sự chỉ tham gia tố tụng khi có đơn yêu cầu bồi thường.
Hậu quả đối với nguyên đơn dân sự không phải là tình tiết định tội, không có ý nghĩa với việc xem x t trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Cá nhân là người bị hại, nguyên đơn dân sự chỉ tham gia tố tụng khi có thiệt hại xảy ra. Thiệt hại của người bị hại là thiệt hại trực tiếp về thể chất, tinh thần, tài sản từ hành vi phạm tội. Trong trường 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hợp khác, cá nhân được xác định là nguyên đơn dân sự do có sự thiệt hại về tài sản mà sự thiệt hại này là hậu quả tiếp theo từ hậu quả mà người phạm tội đã gây cho người bị hại: như một người phải nghỉ việc để chăm sóc nạn nhân, những người thường xuyên được cấp dưỡng nay người cấp dưỡng bị chết Như vậy có thể khẳng định rằng khái niệm người bị hại, nạn nhân, đối tượng tác động của tội phạm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nguyên đơn dân sự… mặc dù có những điểm tương đồng, chồng lấn.
nhưng về bản chất, đặc trưng của chúng là hoàn toàn khác nhau. Trong trường hợp tổ chức hoặc pháp nhân bị tội phạm trực tiếp gây thiệt hại thì họ có phải là người bị hại không? đã có nhiều ý kiến khác nhau khi đề cập đến vấn đề này. Khái quát lại có hai loại ý kiến sau đây: Quan điểm thứ nhất cho rằng người bị hại chỉ có thể là cá nhân, con người cụ thể là xuất phát từ nhận thức rằng do luật quy định “người bị hại là người bị thiệt hại…” chứ không quy định “người bị hại là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại…”. Theo đó lập luận rằng người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần.
do hành vi phạm tội gây ra, mà thể chất và tinh thần thì chỉ có và gắn liền với con người, một thể nhân cụ thể, thiệt hại này không thể xảy ra đối với pháp nhân hay tổ chức, khái niện này cũng giống như khái niệm về bị can, bị cáo trong TTHS… Quan niệm theo pháp luật thực định được thừa nhận rộng rãi. Quan điểm khác cho rằng người bị hại không chỉ là cá nhân mà còn có thể là pháp nhân, tổ chức. Quan điểm này có những điểm hợp lý bởi lẽ: về mặt hình thức, BLTTHS 2003 quy định “người bị hại là người bị thiệt hại…” song ở một khía cạnh khác có thể hiểu từ “người” theo nghĩa rộng bao gồm cả cá nhân, tổ chức, tương tự như trường hợp “người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan”; về bản chất, xác định người bị hại không chỉ là cá nhân mà còn bao gồm cả pháp nhân, tổ chức sẽ đảm bảo công bằng cho tất cả các 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chủ thể trong trường hợp cùng bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Với quan niệm người bị hại chỉ có thể là cá nhân như hiện nay, sẽ có trường hợp các chủ thể cùng bị thiệt hại về vật chất do hành vi phạm tội gây ra nhưng cá nhân bị thiệt hại được xác định là người bị hại còn pháp nhân bị thiệt hại lại xác định là nguyên đơn dân sự trong khi điều kiện tham gia tố tụng của hai chủ thể này khác nhau (nguyên đơn dân sự phải có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại), quyền của nguyên đơn trong tố tụng hạn chế hơn so với quyền của người bị hại (nguyên đơn dân sự không được quyền kháng cáo về hình phạt với bị cáo).
Như thế thì một mặt không đảm bảo sự công bằng giữa các chủ thể cùng bị thiệt hại trực tiếp bởi hành vi phạm tội, mặt khác làm nảy sinh hàng loạt vấn đề khó giải quyết cả về góc lý luận và thực tiễn. Người bị hại là một trong những chủ thể tham gia tố tụng theo quy định của BLTTHS. Việc tham gia tố tụng của người bị hại không chỉ nhằm bảo vệ, khôi phục những quyền và lợi ích hợp pháp của họ đã bị hành vi phạm tội xâm hại mà còn góp phần quan trọng vào việc xác định sự thật khách quan của vụ án.