đặt vấn đề không phải từ nhãn quan ý thức hệ mà từ góc độ văn hóa nhân. Chiến tranh được cảm nhận không phải là tiếng bom chát chúa, không. phải là máu đỏ lênh láng mà được cảm nhận như một sự phi lí khủng khiếp gây ra bao đau khổ, bi kịch, với những số phận cá nhân cụ thể. Các vấn đề nhân cách tự do trong mối quan hệ cá nhân — cộng đồng cũng được quan tâm.
Trong giai doạn này, cảm hứng phê phán có quan hệ sâu xa với sự thay đổi mối quan hệ nhà văn — hiện thực. Xu hướng dân chủ hóa, “nhận thức lại” trong quan niệm về hiện thực đã đem lại cho văn học nhiều nội dung phong. phú, mới mẻ, nhiều hình thức biểu dat uyén chuyển, hiện đại, tránh được nguy cơ cạn kiệt đề tài và nghèo nàn về bút pháp. Mối quan hệ nhà văn với hiện thực gắn liền với mỗi quan hệ giữa nhà văn với công chúng.
Nghệ thuật chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó được tiếp nhận bởi công chúng. Người nghệ sĩ vừa tạo ra công chúng của mình vừa bị công chúng chỉ phối. Ở thời kì chống Mĩ cứu nước cũng giống như thời kì chống Pháp trước đó, cảm quan chính trị và tinh thần công dân trùm lên đời sống. Nhà văn hiện diện trước hết như một cán bộ tuyên huấn, người truyền bá chủ trương chính sách của Đảng qua phương tiện văn học, người diễn đạt chân lí công đồng nhằm tác động tích cực vào quá trình đảo tạo “con.
người mới”. Quan hệ giữa nhà văn và bạn dọc chủ yếu là quan hệ "độc thoại” một chiều. Cuộc sống thời bình và công cuộc đổi mới kinh tế, đổi mới cách nghĩ đã tạo điều kiện thúc đẩy ý thức cá nhân phát triển. Vai trò tích cực của cá nhân, giá trị của cá nhân được coi trọng thích đáng.
Người đọc tìm đến văn học không phải để được "giáo huấn” một cách thụ đông mà để được cùng bàn luận, đối thoại với nhà văn. Văn học muốn đáp ứng nhu cầu đa dạng của công. 2 chúng, không thể không tự điều chỉnh. Tính chất dân chủ trong mồi quan hệ nhà văn - bạn đọc ngày càng rõ.
So sánh trên một số phương diện thì văn. xuôi sau 1986 là sự đối thoại với văn xuôi trước năm 1975 và đối thoại với bạn đọc về nhiều vấn đẻ của cuộc sống: nhà văn nhìn hiện thực trong sự vận động không ngừng, không khép kín, nhìn con người ở nhiều tọa độ, nhiều. thang bậc giá trị, chống lại những quy phạm lỗi thời trong cách miêu tả, phản ánh, đòi quyền bình đẳng giữa kinh nghiệm cá nhân và kinh nghiệm cộng đồng. Nội dung đối thoại của văn xuôi sau năm 1986 hết sức phong phú.
tranh, Chiếc thuyên ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), Một thời gió bụi (Nguyễn. Khai), Cai dém hom ấy đêm gì (Phùng Gia Lộc), Thủ tục để làm người còn sống (Minh Chuyên). là sự đối thoại giữa các nguyên tắc cộng đồng và đời sống cá nhân muôn vẻ. #ước qwø lời ngư (Tạ Duy Anh), Kế sát nhân lương thiện (Lại Văn Long), Thân phận tình yêu (Bảo Ninh), Nàng Bua (Nguyễn Huy Thiệp).
là đối thoại giữa cái đúng và cái tốt, cái thiện. Kiếm sắc, Hàng lứa, Phẩm tiết (Nguyễn Huy Thiệp), Phiên chợ Giá, Có lau (Nguyễn Minh Châu), Sự tích những ngày đẹp trời, Nhân sứ (Hòa Vang), Đường Tăng (Trương Quốc Dũng). là đối thoại với cái nhìn lịch sử đã quen thuộc. Tính đối thoại thường đi liền với tỉnh thần hoài nghi và một cấu trúc.
trần thuật mở. Nhà văn trình bày hoàn cảnh “có vấn đÈ”, lí giải, gợi mở, dự đoán và trao cho bạn đọc câu hỏi của mình. Trong quan hệ với chính mình, ý thức về mình của nhà văn giữ vai trò quan trong góp phin làm nên diện mạo tư tưởng của anh ta. Khi đất nước có chiến tranh, bản lĩnh nhà văn thẻ hiện ở tỉnh thần công dân, ở vai trò “chiến sĩ”, ở việc lựa chọn sự hi sinh nghệ thuật cho những yêu cầu sống còn của công đồng.
Xu hướng chối từ bản ngã, tự nguyện hòa tan cá nhân trong cộng đồng phù hợp với yêu cầu của cuộc đấu tranh giữa hai con đường, giữa “cái riêng” với “cái chung” mà cuộc chiến đấu chống ngoại xâm lúc đó đòi hỏi. 1B Vấn đề “viết cái gì” được xem quan trọng hơn “viết thế nào”. Trong quá trình đổi mới văn xuôi từ sau năm 1986, bản lĩnh của người viết được xác định rõ. “rung thực với mình, chân thành bay tỏ những suy nghĩ riêng của mình, diễn đạt nhu cầu đổi mới như một đòi hỏi nội tại của văn học và sự nhận thức trước yêu cầu của xã hội, khẳng định lại ý nghĩa quan trọng của câu hỏi “Ta là ai?” là một nội dung nỗi bật trong mối quan hệ nhà văn với chính mình.
Đổi mới đối với một nhà văn không phải chỉ là vấn đẻ cách tân hình thức, thay đổi cảm xúc hay khu vực đề tài, thay đổi các thủ pháp biểu hiện. Quan trọng hơn, đó là tư tưởng. Từ thời iễm năm 1986 trở đi, cá tính sáng tạo gắn liền với những tư tưởng, những cách đánh giá của cá nhân nghệ sĩ mới thật sự nôi lên như một. giá trị của đổi mới văn xuôi, làm cho văn xuôi phong phú, hấp dẫn, thu hút dư.
luận rộng rãi của công chúng. Một nhà văn ý thức về tự do, về cá tính càng. cao thì ý thức về nhân cách càng phải sâu sắc. Nguyễn Minh Châu trong bài viết Hãy đọc lời ai điều cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ đã đề ra nhu cầu đổi mới nền văn học Việt Nam với chủ trương “khuyến khích cá tính, khuyến khích sáng tạo và chấp nhận đa dạng” [35].
Nguyên Ngọc trong bài phát biểu Cẩn phát huy đầy đủ chức năng xã hội của văn học nghệ thuật đã khẳng định sự kiêng ky những cái "la” sẽ làm khô cằn mọi sự sáng tạo mà trước hết là sáng tạo trong văn học nghệ thuật. Ông cho rằng văn nghệ luôn "la cả” trong đời sống *và bao giờ nó cũng là cụ thể, cá biệt, nó nói nỗi đau cụ thể, cá biệt, niềm vui cụ thể cá biệt, số phận cụ thể cá biệt. Nó sinh động như chính đời sống. Nó là tiếng nói của chính đời sống.
Cho nên nó có tính. nhân dân, tính dân chủ. Văn nghệ chính là sự khát khao mãi mãi vươn tới cái toàn thiện toàn mĩ của con người, nó là sự "không bằng lòng” mãi mãi của con người với thực tại” [34]. Còn Lê Ngọc Trà trong bài viết Vể vấn để văn học phản ảnh hiện thực cho rằng: *Văn học chủ yếu không phải là ghi chép, mô tả hiện thực mà là hành động tự nhận thức của nhà văn, nhờ đó tác phẩm.
nghệ thuật trở thành mảnh đất nuôi dường tình cảm con người, thành khu vườn nơi tâm hồn con người đến đơm hoa kết trái như hình thức tồn tại và phát triển độc đáo của đời sống tinh thần nhân loại. Văn học rất cẳn sự thật,, nhưng sự thật trong văn học không phải chỉ là sự thật của các tính cách và sự kiện được mô tả mà còn là sự thật của cách nhìn, của thái độ, cách đánh giá của nhà văn đối với những hiện tượng được phản ánh” [34]. Các sáng tác có xu hướng nghiêng về cảm hứng phân tích, triết lí trước những vấn để thể sự - đạo đức. Trong lịch sử văn học, không phái nhà văn nào cũng định hình được một gương mặt tư tưởng riêng, thỏa mãn người thưởng thức bằng một cách.
cách nghĩ độc lập và một bút pháp độc đáo. Dù vậy, nhu cầu được *là nh”, hay một ý thức cá tính cao cũng là biểu hiện quan trọng của quan niệm về nhà văn, giúp vào sự đổi mới văn xuôi thời kì sau 1986 như một sức mạnh. nội tại không thể thiếu được. Vấn đề còn lại là tài năng của người viết và tằm đón nhận của người đọc.2, Đỗi mới quan niệm nghệ thuật về con người Con người là đối tượng hàng đầu của văn chương, là trung tâm chú ý của.
Điều này đã thành nguyên lí có tính phổ quát, không cần phải bản. Quan niệm nghệ thuật về con người là thước đo trình độ chiếm lĩnh hiện thực đời sống của một tác phẩm, một tác giả, một trảo lưu hay một thời đại văn học. Quan niệm nghệ thuật về con người được hiểu là cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách cất nghĩa lí giải về con người của nhà văn. Đó là quan niệm mà nhà văn thể hiện trong từng tác phẩm.
Quan niệm ấy bao giờ cũng. gắn liền với cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo của chủ thể, ngay cả khi miêu tả con người giống hay không giống so với đối tượng. So với gi đoạn văn học trước, quan niệm con người trong văn xuôi sau năm 1986 có sự biến đổi rất rõ. Giai đoạn cách mạng và kháng chiến kéo đài suốt 30 năm (1945 - 1975) đã tạo nên một mẫu người phổ biến trong cuộc sống và trong văn chương phù hợp với yêu cầu cơ bản của lịch sử là chiến thắng, bằng bắt kỳ giá nào, kẻ thù.
của dân tộc và tiến bộ xã hội. Đề tổn tại và chiến thắng, một số mặt trong bản chất và quan hệ ấy, trên thực tế, đã nỗi trội hẳn lên. Đó chủ yếu là “con người hiện thực, con người hành động, con người xã hội, con người giai cấp, con người cộng dồng và con người phi thường” [50]. Các nhân vật văn học luôn được “tắm rửa sạch sẽ”, được “bao bọc trong bầu không khí vô trùng” (Tiến sĩ văn học người Nga Nieulin nhận xét nhân vật của Nguyễn Minh Châu).
Cái tưởng hóa lúc đó đáp ứng nhu cầu chính trị và chuẩn thẩm mĩ thời đại. Tir nam 1986, đất nước bước vào thị lôi mới. Giờ đây, với nhà văn, cuộc ng đã mở ra những triển vọng cao hơn cùng những đồi hỏi lớn hơn Để đáp ứng những nhu cầu thâm mĩ mới của công chúng, văn chương cần trở. về với đặc trưng vốn có của mình, cần tuân thủ những “quy luật muôn đời” của c kiệt tác trong lịch sử văn chương dân tộc và nhân loại.
Sự đơn giản, một chiều trong quan niệm nghệ thuật về con người được thay bằng sự “lưu. tâm đến tính toàn diện của bản chất người, tính đa dạng của quan hệ người”.