Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ nông nghiệp chuyên ngành Chăn nuôi với đề tài "Xác định mức năng lượng trao đổi, protein thô, lysine và methionine trong khẩu phần của gà Sao (Numida meleagris) nuôi lấy thịt ở Đồng bằng sông Cửu Long" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Đông Hải tại Trường Đại học Cần Thơ, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Kim Đông.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Gà Sao (Numida meleagris) có nguồn gốc từ châu Phi, là đối tượng gia cầm cho chất lượng thịt thơm ngon, hàm lượng protein cao, ít chất béo, khả năng thích nghi cao và ít mắc các bệnh phổ biến trên gia cầm. Tại Việt Nam, gà Sao được đưa vào nuôi từ thế kỷ XIX làm cảnh và đến năm 2009, Trường Đại học Cần Thơ tiếp nhận 500 con giống gà Sao dòng trung từ Viện Nghiên cứu tiểu gia súc Godollo (Hungary) nhằm nhân giống và chuyển giao kỹ thuật cho các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Mặc dù phong trào chăn nuôi gà Sao thịt phát triển nhanh tại các tỉnh Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Hậu Giang, các công trình khoa học trong nước chủ yếu tập trung vào khả năng thích nghi, sinh trưởng và sinh sản. Luận án chỉ ra ba khoảng trống nghiên cứu chính:

  1. Thiếu dữ liệu thực nghiệm về tỷ lệ tiêu hóa các dưỡng chất và acid amin trên các nguồn thức ăn giàu protein phổ biến tại địa phương (đậu nành hạt, khô dầu đậu nành ly trích, bột cá biển, bột cá tra).
  2. Các khuyến cáo quốc tế và trong nước về mức năng lượng trao đổi (ME) và protein thô (CP) tối ưu cho gà Sao giai đoạn tăng trưởng có sự chênh lệch lớn và chưa được kiểm chứng trong điều kiện khí hậu Đồng bằng sông Cửu Long.
  3. Xu hướng giảm mức protein thô trong khẩu phần và cân đối lại bằng acid amin tổng hợp (đặc biệt là lysine và methionine) nhằm hạ giá thành và giảm phát thải nitơ ra môi trường chưa từng được tiến hành khảo sát trên gà Sao. Đồng thời, các phương pháp xác định tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất và acid amin trên đối tượng này chưa được đánh giá so sánh một cách có hệ thống.

Mục tiêu nghiên cứu

Văn bản luận án xác định 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Đánh giá khả năng tiêu hoá dưỡng chất và acid amin của khẩu phần có sử dụng 4 nguồn thực liệu cung cấp protein khác nhau (đậu nành hạt, khô dầu đậu nành ly trích, bột cá biển, bột cá tra) nhằm tìm ra nguồn thực liệu cung cấp protein hiệu quả áp dụng vào chăn nuôi gà Sao giai đoạn tăng trưởng.
  2. Xác định mức năng lượng trao đổi, protein thô tối ưu trong khẩu phần nuôi gà Sao nuôi lấy thịt.
  3. Xác định được mức lysine và methionine tối ưu trong khẩu phần có mức protein thấp để nuôi gà Sao trong giai đoạn tăng trưởng.
  4. Xác định phương pháp đánh giá tỷ lệ tiêu hóa các dưỡng chất và acid amin của một loại thực liệu hay khẩu phần ở gà Sao thông qua 3 phương pháp xác định tỷ lệ tiêu hóa (phương pháp tiêu hóa toàn phần, phương pháp tiêu hóa cắt bỏ manh tràng và phương pháp tiêu hóa hồi tràng).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Gà Sao (Numida meleagris) dòng trung có nguồn gốc từ Hungary nuôi lấy thịt giai đoạn tăng trưởng từ 5 đến 14 tuần tuổi.
  • Phạm vi không gian: Trại chăn nuôi thực nghiệm và các phòng thí nghiệm phân tích thuộc Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài hoàn thành và bảo vệ giai đoạn 2016-2017 (cam kết kết quả ký ngày 10 tháng 01 năm 2017).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 2, tác giả hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đặc điểm sinh học, nhu cầu dinh dưỡng và phương pháp đo tỷ lệ tiêu hóa ở gia cầm.

Các hướng nghiên cứu trước được luận án tổng hợp

  • Đặc điểm sinh học và sinh trưởng của gà Sao: Nghiên cứu của Ayeni (1980), Microlivestock (1991), Moreki and Seabo (2012), Adjetey et al. (2014) chỉ ra đặc tính thịt nạc, ít mỡ và khả năng kháng bệnh. Các khảo sát về tốc độ sinh trưởng của Batty (2000), Shamsaei (1992 trích bởi Cooper and Adabi, 2012), Bernacki et al. (2013), Phùng Đức Tiến và ctv. (2009) ghi nhận khối lượng gà Sao lúc 12 tuần tuổi đạt từ 1,35 đến 1,89 kg/con, hệ số FCR dao động từ 2,34 đến 4,33 tùy thuộc vào dòng giống và chế độ nuôi.
  • Nhu cầu năng lượng trao đổi (ME): Tác giả tổng hợp các mức đề xuất có sự khác biệt lớn:
    • Tewe (1983): Đề xuất mức cố định 3.100 kcal/kg thức ăn từ 5 đến 12 tuần tuổi.
    • Agwunobi and Ekpenyong (1991): Khuyến cáo 3.000 kcal/kg (0-6 tuần) và giảm xuống 2.800 kcal/kg (7-12 tuần).
    • Mandal et al. (1999): Khuyến nghị 2.900 kcal/kg DM cho giai đoạn 5 tuần tuổi đến xuất chuồng.
    • Teye et al. (2003): Đề xuất mức 2.600 kcal/kg DM cho gà 8-15 tuần tuổi tại Ghana.
    • Nahashon et al. (2005): Đề xuất 3.100 kcal/kg (0-4 tuần) và 3.150-3.200 kcal/kg (5-8 tuần).
    • Leeson and Summers (2008): Khuyến cáo 2.950 kcal/kg thức ăn.
    • Phùng Đức Tiến và ctv. (2009): Khuyến cáo 3.100 kcal/kg (5-8 tuần) và 3.200 kcal/kg (9 tuần đến xuất chuồng).
    • Trương Nguyễn Như Huỳnh (2011): Xác định mức tối ưu là 3.100 kcal/kg DM (12,97 MJ/kg DM).
  • Nhu cầu protein thô (CP): Các đề xuất biến động từ 18% đến 24% ở giai đoạn 5-8 tuần và 16% đến 20% ở giai đoạn sau 9 tuần:
    • Tewe (1983): 20% CP (5-8 tuần) và 18% CP (9-12 tuần).
    • Agwunobi and Ekpenyong (1991): 22% CP (0-6 tuần) và 16% CP (7-12 tuần).
    • Mandal et al. (1999): 20% CP (5-8 tuần) và 16% CP (9-12 tuần).
    • Nahashon et al. (2005, 2006): 21-24% CP giai đoạn đầu và 17% CP giai đoạn sau.
    • Darre (2016): 18-20% CP (5-8 tuần) và 16% CP (từ 9 tuần).
    • Phùng Đức Tiến và ctv. (2009): 20% CP (5-8 tuần) và 18% CP (9 tuần đến xuất chuồng).
    • Đặng Hùng Cường (2010): Xác định mức 20% CP đạt tăng trọng tốt nhất trên gà Sao dòng trung.
  • Nhu cầu lysine và methionine: NRC (1994) áp dụng định mức của gà Lôi cho gà Sao với 1,50% Lys và 0,45% Met (4-8 tuần); 1,30% Lys và 0,40% Met (8-12 tuần). Nelson (2013) đề xuất 1,10% Lys cho gà 1-8 tuần tuổi. Phùng Đức Tiến và ctv. (2009) đề xuất 1,15% Lys, 0,40-0,45% Met (5-8 tuần) và 0,95% Lys, 0,40-0,43% Met (9 tuần đến xuất chuồng).
Tác giả Giai đoạn tuổi ME (kcal/kg) Protein thô (%) Lysine (%) Methionine (%)
Tewe (1983) 5-8 tuần
9-12 tuần
3.100
3.100
20,0
18,0
0,99
0,79
0,42
0,33
Agwunobi & Ekpenyong (1991) 5-6 tuần
7-12 tuần
3.000
2.800
22,0
16,0
-
-
-
-
Mandal et al. (1999) 5-8 tuần
9-12 tuần
2.900
2.900
20,0
16,0
-
-
-
-
NRC (1994) 4-8 tuần
8-12 tuần
-
-
-
-
1,50
1,30
0,45
0,40
Leeson & Summers (2008) 5 tuần - xuất chuồng 2.950 18,0 0,95 0,48
Phùng Đức Tiến và ctv. (2009) 5-8 tuần
9 tuần - xuất thịt
3.100
3.200
20,0
18,0
1,15
0,95
0,40-0,45
0,40-0,43
Nelson (2013) 5-8 tuần 3.150 21,0 1,10 -
  • Phương pháp nghiên cứu tỷ lệ tiêu hóa: Parsons (1985, 2002), Sibbald (1986), Angkanaporn et al. (1996), Ravindran et al. (1999), Kadim and Moughan (2008), Bryden et al. (2009) phân tích các kỹ thuật đo tiêu hóa toàn phần (THTP), phương pháp phẫu thuật cắt bỏ manh tràng (THCMT) và thu dịch tiêu hóa hồi tràng (THHT). Các tác giả này chỉ rõ hệ vi sinh vật manh tràng làm biến đổi cấu trúc dưỡng chất và acid amin bài tiết, dẫn đến sai lệch khi đánh giá giá trị dinh dưỡng thực của thức ăn.

Khoảng trống luận án giải quyết

Luận án giải quyết sự thiếu hụt dữ liệu tiêu hóa thực tế trên gà Sao đối với 4 loại nguyên liệu giàu đạm tại địa phương; xác định chuẩn xác mức ME và CP phù hợp điều kiện chăn nuôi miền Nam Việt Nam; chứng minh tính khả thi của giải pháp hạ protein thô bổ sung lysine và methionine tổng hợp; đồng thời cung cấp căn cứ thực nghiệm so sánh giá trị tiêu hóa dưỡng chất giữa ba kỹ thuật THTP, THCMT và THHT trên loài gia cầm này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến và tỷ lệ tiêu hóa thực: Dựa trên lý thuyết dinh dưỡng của McDonald et al. (2010) và Nguyễn Nhựt Xuân Dung và ctv. (2013), tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến được tính bằng hiệu số giữa lượng dưỡng chất ăn vào và lượng dưỡng chất thải ra qua phân - nước tiểu. Luận án phân biệt rõ tỷ lệ tiêu hóa thực sau khi hiệu chỉnh phần dưỡng chất nội sinh (tế bào biểu mô ruột bong tróc, dịch tiêu hóa, xác vi sinh vật).
  • Trắc diện acid amin lý tưởng: Ứng dụng mô hình cân bằng acid amin của Austic (1994), Baker (1996) và Rose (1997), trong đó lysine được chọn làm acid amin chuẩn (100%), các acid amin thiết yếu khác được tính toán cân đối theo tỷ lệ tương ứng. Luận án áp dụng mối quan hệ chuyển đổi giữa methionine và cystine, phenylalanine và tyrosine, glycine và serine để cân đối khẩu phần dinh dưỡng.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án triển khai 5 thí nghiệm in vivo theo thiết kế ngẫu nhiên hoàn toàn (Completely Randomized Design - CRD):

  • Chuồng trại và chế độ nuôi: Thí nghiệm sinh trưởng được tiến hành trong hệ thống chuồng lồng thông thoáng tự nhiên; thí nghiệm tiêu hóa sử dụng lồng trao đổi chất đơn có khay hứng chất thải riêng biệt. Quy trình gồm giai đoạn thích nghi (4-7 ngày) và giai đoạn thu mẫu phân/chất thải (3-5 ngày).
  • Phẫu thuật cắt manh tràng và thu dịch hồi tràng:
    • Kỹ thuật THCMT: Gà được gây mê, phẫu thuật mở xoang bụng cắt bỏ hoàn toàn hai manh tràng và nối thông lại đường ruột nhằm triệt tiêu tác động lên men của vi sinh vật ruột già.
    • Kỹ thuật THHT: Gà được mổ khảo sát sau bữa ăn tiêu chuẩn, thu gom dịch tiêu hóa tại đoạn cuối hồi tràng (cách van hồi - manh tràng 15-20 cm hoặc từ túi thừa Meckel đến điểm trước van hồi - manh tràng 4 cm).
  • Các chỉ tiêu theo dõi và phân tích:
    • Khối lượng cơ thể (KLCT), lượng thức ăn thu nhận, hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR), tỷ lệ sống.
    • Khảo sát thân thịt: tỷ lệ thân thịt, tỷ lệ thịt ức, thịt đùi, mỡ bụng, phân tích thành phần hóa học của thịt tươi.
    • Phân tích hóa học thức ăn và phân: Vật chất khô (DM), chất hữu cơ (OM), protein thô (CP), béo thô (EE), xơ thô (CF), xơ trung tính (NDF), xơ acid (ADF), khoáng tổng số (Ash) theo tiêu chuẩn AOAC. Năng lượng trao đổi (ME) xác định qua bom nhiệt lượng kế.
    • Phân tích 18 acid amin bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC).
    • Tính toán nitơ tiêu thụ, nitơ tích lũy và nitơ thải.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thu thập được xử lý bằng phân tích phương sai (ANOVA) qua mô hình tuyến tính tổng quát (GLM) trên phần mềm thống kê chuyên dụng; so sánh các giá trị trung bình nghiệm thức bằng phép thử Tukey hoặc Duncan ở các mức ý nghĩa P<0,05 và P<0,01.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Dữ liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp từ 5 thí nghiệm thực hiện trên đàn gà Sao dòng trung của Trường Đại học Cần Thơ. Thức ăn nguyên liệu sử dụng gồm: bắp hạt, tấm gạo, cám gạo, đậu nành hạt, khô dầu đậu nành ly trích, bột cá biển, bột cá tra, mỡ động vật, premix khoáng - vitamin và các acid amin tinh thể công nghiệp (L-lysine HCl, DL-methionine).


Nội dung chính theo từng chương

Cấu trúc luận án gồm 5 chương chính theo quy chuẩn đào tạo tiến sĩ:

Chương 1: Giới thiệu

Trình bày bối cảnh thực tiễn của nghề nuôi gà Sao tại Đồng bằng sông Cửu Long, chỉ rõ sự thiếu hụt các dữ liệu dinh dưỡng chuyên biệt, xác định 4 mục tiêu cụ thể, nêu ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn và liệt kê 4 đóng góp mới của luận án.

Chương 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa toàn diện các tài liệu khoa học gồm 3 mảng nội dung chính: (1) Phân loại học, nguồn gốc và các nghiên cứu về nhu cầu năng lượng, protein thô, lysine, methionine trên gà Sao; (2) Cơ sở lý thuyết về tỷ lệ tiêu hóa, các yếu tố ảnh hưởng và các phương pháp nghiên cứu tiêu hóa trên gia cầm (THTP, chất chỉ thị màu, THCMT, THHT); (3) Đặc điểm dinh dưỡng của các nguồn thức ăn protein phổ biến.

Chương 3: Phương tiện và phương pháp nghiên cứu

Mô tả chi tiết địa điểm, thời gian, cơ sở vật chất, chuồng lồng thí nghiệm, nguồn gốc đàn gà Sao, quy cách quản lý chăm sóc, phương pháp lấy mẫu phân và dịch hồi tràng, công thức tính toán dinh dưỡng, sơ đồ bố trí chi tiết của 5 thí nghiệm và các thuật toán phân tích thống kê.

Chương 4: Kết quả và thảo luận

Chương này tập trung toàn bộ dữ liệu thực nghiệm qua 5 thí nghiệm độc lập:

  • Thí nghiệm 1: Đánh giá khả năng tiêu hóa biểu kiến các dưỡng chất và acid amin của khẩu phần có sử dụng đậu nành hạt, khô dầu đậu nành ly trích ở gà Sao giai đoạn tăng trưởng.

    • Giai đoạn khảo sát: 8 tuần tuổi và 10 tuần tuổi.
    • Kết quả: Tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến hầu hết các dưỡng chất (DM, OM, EE, CF, NDF, ADF) và phần lớn acid amin ở khẩu phần sử dụng đậu nành hạt tương đương với khẩu phần dùng khô dầu đậu nành ly trích (P>0,05).
    • Nghiệm thức chứa 20% CP ở giai đoạn 8 tuần tuổi và 18% CP ở giai đoạn 10 tuần tuổi cho tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất và acid amin cao hơn có ý nghĩa thống kê so với các mức CP khác (P<0,05).
    • Tỷ lệ tiêu hóa các dưỡng chất, acid amin và lượng nitơ tích lũy ở tuần tuổi thứ 10 cao hơn rõ rệt so với tuần tuổi thứ 8 (P<0,05).
  • Thí nghiệm 2: Đánh giá khả năng tiêu hóa biểu kiến các dưỡng chất và acid amin của khẩu phần có sử dụng bột cá biển, bột cá tra ở gà Sao giai đoạn tăng trưởng.

    • Kết quả: Khẩu phần sử dụng bột cá biển cho tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến dưỡng chất, phần lớn acid amin và lượng nitơ tích lũy cao hơn so với khẩu phần dùng bột cá tra (P<0,05).
    • Mức 20% CP ở 8 tuần tuổi và 18% CP ở 10 tuần tuổi cho tỷ lệ tiêu hóa DM, OM, EE, CF, NDF, ADF, nitơ tích lũy và hầu hết acid amin cao nhất (P<0,05). Tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất tăng theo tuần tuổi (10 tuần cao hơn 8 tuần, P<0,05).
  • Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng các mức năng lượng trao đổi trong khẩu phần đến tăng trưởng, tiêu thụ dưỡng chất, chất lượng quầy thịt và tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất ở gà Sao tăng trưởng.

    • Khảo nghiệm các mức ME khác nhau trên gà từ 5-8 tuần tuổi và 9-14 tuần tuổi.
    • Kết quả: Mức năng lượng trao đổi 3.100 kcal/kg DM thức ăn ở giai đoạn 5-8 tuần tuổi và 3.200 kcal/kg DM thức ăn ở giai đoạn 9-14 tuần tuổi cho lượng dưỡng chất tiêu thụ, tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất, tăng khối lượng cơ thể hàng ngày, khối lượng thân thịt, khối lượng thịt ức và thịt đùi đạt giá trị cao nhất (P<0,05), mang lại hiệu quả kinh tế tốt nhất.
  • Thí nghiệm 4: Ảnh hưởng các mức lysine và methionine trong khẩu phần đến tăng trọng, chất lượng quầy thịt, tỷ lệ tiêu hóa các dưỡng chất và acid amin của gà Sao nuôi lấy thịt ở giai đoạn tăng trưởng.

    • Thí nghiệm giảm mức protein thô kết hợp bổ sung lysine và methionine tổng hợp.
    • Kết quả: Khẩu phần chứa 17% CP với 1,40% lysine và 0,55% methionine (giai đoạn 5-8 tuần tuổi) và khẩu phần chứa 15% CP với 1,20% lysine và 0,50% methionine (giai đoạn 9-14 tuần tuổi) giúp gà đạt tăng trọng hàng ngày, tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất, hầu hết acid amin, lượng nitơ tích lũy và các chỉ tiêu thân thịt cao hơn có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Đồng thời, nghiệm thức này giúp hạ thấp lượng nitơ đào thải ra chất thải và nâng cao hiệu quả kinh tế.
  • Thí nghiệm 5: Đánh giá các phương pháp xác định tỷ lệ tiêu hóa protein và dưỡng chất ở gà Sao giai đoạn tăng trưởng.

    • So sánh trực tiếp 3 phương pháp: tiêu hóa toàn phần (THTP), tiêu hóa cắt bỏ manh tràng (THCMT) và tiêu hóa hồi tràng (THHT).
    • Kết quả: Tỷ lệ tiêu hóa DM, OM, EE ở phương pháp THTP tương đương với THCMT (P>0,05). Tuy nhiên, tỷ lệ tiêu hóa CF, NDF và ADF ở THTP cao hơn có ý nghĩa so với THCMT (P<0,05) do vi sinh vật manh tràng phân giải chất xơ.
    • Về acid amin: Tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến hầu hết acid amin ở THTP cao hơn phương pháp THHT (P<0,05). THTP cao hơn THCMT trên 9 acid amin gồm isoleucine, lysine, methionine, histidine, threonine, valine, acid glutamic, tyrosine, proline (P<0,05). Tỷ lệ tiêu hóa hầu hết các acid amin của phương pháp THCMT tương đương với phương pháp THHT (P>0,05).
Thí nghiệm Đối tượng/Giai đoạn Yếu tố thí nghiệm chính Phát hiện và kết luận then chốt
TN 1 Gà Sao 8 & 10 tuần tuổi Đậu nành hạt vs Khô dầu đậu nành; các mức CP Tiêu hóa dưỡng chất và acid amin của đậu nành hạt tương đương khô dầu đậu nành (P>0,05). Mức CP tối ưu: 20% (8 tuần) và 18% (10 tuần).
TN 2 Gà Sao 8 & 10 tuần tuổi Bột cá biển vs Bột cá tra; các mức CP Bột cá biển cho tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất, acid amin và tích lũy nitơ cao hơn bột cá tra (P<0,05). CP tối ưu: 20% (8 tuần) và 18% (10 tuần).
TN 3 Gà Sao 5-8 & 9-14 tuần tuổi Các mức năng lượng trao đổi (ME) ME tối ưu là 3.100 kcal/kg DM (5-8 tuần) và 3.200 kcal/kg DM (9-14 tuần), tối ưu hóa tăng trọng, thân thịt và lợi nhuận (P<0,05).
TN 4 Gà Sao 5-8 & 9-14 tuần tuổi Mức Lysine, Methionine trên nền khẩu phần hạ thấp CP Hạ CP xuống 17% (bổ sung 1,40% Lys, 0,55% Met cho 5-8 tuần) và 15% CP (1,20% Lys, 0,50% Met cho 9-14 tuần) cho tăng trọng, thân thịt cao nhất và giảm nitơ phân (P<0,05).
TN 5 Gà Sao tăng trưởng So sánh 3 phương pháp tiêu hóa: THTP, THCMT, THHT THTP cho tiêu hóa xơ và 9 acid amin cao hơn THCMT (P<0,05). THCMT cho kết quả tiêu hóa hầu hết acid amin tương đương với THHT (P>0,05).

Chương 5: Kết luận và đề nghị

Đưa ra kết luận tổng hợp từ 5 thí nghiệm và kiến nghị áp dụng các định mức dinh dưỡng, lựa chọn nguyên liệu protein và kỹ thuật đo tiêu hóa vào thực tiễn chăn nuôi gà Sao thịt.


Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới của luận án

Theo công bố chính thức tại Mục 1.4 của luận án, công trình mang lại các đóng góp mới sau:

  1. Đã so sánh và xác định được các thực liệu cung cấp protein hiệu quả cũng như tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất của chúng trong khẩu phần nuôi gà Sao giai đoạn tăng trưởng (đậu nành hạt có thể thay thế khô dầu đậu nành; bột cá biển cho giá trị tiêu hóa cao hơn bột cá tra).
  2. Xác định được mức protein thô và năng lượng trao đổi thích hợp trong khẩu phần nuôi gà Sao nuôi lấy thịt: giai đoạn 5-8 tuần tuổi cần 3.100 kcal ME/kg DM và 20% CP; giai đoạn 9-14 tuần tuổi cần 3.200 kcal ME/kg DM và 18% CP.
  3. Xác định được mức lysine và methionine tối ưu trong khẩu phần có mức protein thấp: có thể giảm mức CP xuống 17% (kèm 1,40% lysine và 0,55% methionine) ở giai đoạn 5-8 tuần tuổi và giảm xuống 15% CP (kèm 1,20% lysine và 0,50% methionine) ở giai đoạn 9-14 tuần tuổi mà vẫn đảm bảo năng suất sinh trưởng, phẩm chất quầy thịt và giảm phát thải nitơ.
  4. Xác định và so sánh được hiệu quả của ba phương pháp đánh giá tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất và acid amin (tiêu hóa toàn phần, cắt bỏ manh tràng và tiêu hóa hồi tràng) trên gà Sao; chứng minh phương pháp cắt bỏ manh tràng có thể thay thế phương pháp mổ hồi tràng trong đánh giá tỷ lệ tiêu hóa acid amin nhằm bảo toàn động vật thí nghiệm.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Về sử dụng thức ăn nguyên liệu: Người chăn nuôi có thể sử dụng đậu nành hạt đã qua xử lý nhiệt thay thế hoàn toàn khô dầu đậu nành ly trích để giảm giá thành thức ăn. Ưu tiên sử dụng bột cá biển thay cho bột cá tra trong các giai đoạn đòi hỏi tiêu hóa đạm cao.
  • Về công thức khẩu phần: Khuyến cáo áp dụng công thức hạ thấp mức CP (17% cho giai đoạn 5-8 tuần và 15% cho giai đoạn 9-14 tuần) có bổ sung đầy đủ L-lysine và DL-methionine tổng hợp nhằm tiết kiệm chi phí protein đắt tiền và bảo vệ môi trường chăn nuôi.
  • Về phương pháp nghiên cứu: Đề xuất các viện, trường sử dụng phương pháp phẫu thuật cắt bỏ manh tràng (THCMT) thay cho phương pháp tiêu hóa hồi tràng (THHT) trong các nghiên cứu đánh giá acid amin trên gà Sao, vừa loại bỏ được sai số do vi sinh vật manh tràng vừa không phải giết mổ con vật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

Căn cứ theo nội dung và phạm vi nghiên cứu được trình bày trong luận án:

  • Thí nghiệm chỉ tập trung khảo sát trên gà Sao dòng trung trong giai đoạn tăng trưởng nuôi thịt từ 5 đến 14 tuần tuổi; chưa bao quát giai đoạn gà con từ 0 đến 4 tuần tuổi và giai đoạn gà hậu bị, sinh sản.
  • Phạm vi khảo sát nguồn đạm giới hạn ở 4 loại nguyên liệu phổ biến (đậu nành hạt, khô dầu đậu nành, bột cá biển, bột cá tra), chưa mở rộng sang các nguồn phụ phẩm nông nghiệp khác ở Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Về acid amin tổng hợp, đề tài mới chỉ tập trung nghiên cứu hai acid amin giới hạn hàng đầu là lysine và methionine, chưa khảo sát các acid amin thiết yếu tiếp theo như threonine hay tryptophan khi khẩu phần hạ protein xuống mức sâu hơn.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu nhu cầu năng lượng, protein và acid amin cho gà Sao ở giai đoạn khởi động (0-4 tuần tuổi) và đàn gà giống sinh sản.
  • Đánh giá tỷ lệ tiêu hóa acid amin tiêu hóa hồi tràng chuẩn hóa (standardized ileal digestibility - SID) và khảo sát tương quan bổ sung threonine, tryptophan trên nền khẩu phần protein rất thấp.
  • Nghiên cứu tỷ lệ tiêu hóa trên các nguồn phụ phẩm giàu đạm địa phương khác như bột ấu trùng ruồi lính đen, bột trùn quế hoặc bã hèm bia trên gà Sao.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo chuyên ngành Chăn nuôi gia cầm, có giá trị thực tiễn đối với các nhóm đối tượng sau:

  • Cán bộ nghiên cứu, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tham khảo bộ dữ liệu thực nghiệm về tỷ lệ tiêu hóa 18 acid amin của 4 loại nguyên liệu thức ăn; tham khảo quy trình phẫu thuật cắt bỏ manh tràng trên gà Sao phục vụ các nghiên cứu sinh lý tiêu hóa.
  • Chuyên viên dinh dưỡng tại các nhà máy thức ăn chăn nuôi: Sử dụng trực tiếp các số liệu về mức ME (3.100 - 3.200 kcal/kg DM), mức lysine (1,20 - 1,40%) và methionine (0,50 - 0,55%) trên nền protein thấp để thiết lập công thức cám chuyên biệt cho gà Sao thương phẩm, tối ưu hóa giá thành sản xuất.
  • Kỹ sư chăn nuôi và chủ trang trại: Vận dụng giải pháp phối trộn thức ăn tự phối tại chỗ sử dụng đậu nành hạt và bột cá biển, kiểm soát lượng đạm và bổ sung acid amin tổng hợp để nâng cao tỷ lệ thịt ức, thịt đùi và giảm thiểu mùi hôi chuồng trại.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định mức năng lượng trao đổi (ME) và protein thô (CP) tối ưu cho gà Sao thịt qua Thí nghiệm 3 là bao nhiêu?

Theo kết quả Thí nghiệm 3, mức năng lượng trao đổi tối ưu cho gà Sao giai đoạn 5-8 tuần tuổi là 3.100 kcal/kg DM thức ăn và giai đoạn 9-14 tuần tuổi là 3.200 kcal/kg DM thức ăn. Ở các mức năng lượng này, gà đạt lượng tiêu thụ dưỡng chất, tỷ lệ tiêu hóa, tăng khối lượng cơ thể, khối lượng thịt ức và thịt đùi cao nhất (P<0,05) cùng hiệu quả kinh tế tốt nhất. Mức protein thô tương ứng được xác nhận ở các thí nghiệm là 20% CP cho giai đoạn 5-8 tuần và 18% CP cho giai đoạn 9-14 tuần.

2. Có thể thay thế khô dầu đậu nành bằng đậu nành hạt trong khẩu phần gà Sao được không?

Có thể thay thế hoàn toàn. Kết quả Thí nghiệm 1 chứng minh tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến của hầu hết các dưỡng chất (DM, OM, EE, CF, NDF, ADF) và phần lớn acid amin ở khẩu phần sử dụng đậu nành hạt tương đương với khẩu phần sử dụng khô dầu đậu nành ly trích (P>0,05).

3. Hiệu quả sử dụng của bột cá biển so với bột cá tra trên gà Sao như thế nào?

Theo kết quả Thí nghiệm 2, bột cá biển cho tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến các dưỡng chất, phần lớn các acid amin và lượng nitơ tích lũy cao hơn có ý nghĩa thống kê (P<0,05) so với bột cá tra ở cả hai giai đoạn 8 và 10 tuần tuổi.

4. Mức lysine và methionine tối ưu khi hạ thấp protein thô trong khẩu phần là bao nhiêu?

Tại Thí nghiệm 4, khi hạ mức CP xuống 17% ở giai đoạn 5-8 tuần tuổi, mức bổ sung tối ưu là 1,40% lysine và 0,55% methionine; ở giai đoạn 9-14 tuần tuổi khi hạ CP xuống 15%, mức bổ sung tối ưu là 1,20% lysine và 0,50% methionine. Công thức này giúp gà đạt tăng trọng và phẩm chất thịt tương đương hoặc cao hơn khẩu phần đối chứng đạm cao, đồng thời giảm lượng nitơ thải và tăng lợi nhuận chăn nuôi.

5. Phương pháp cắt manh tràng (THCMT) có ưu điểm gì so với phương pháp tiêu hóa toàn phần (THTP) và hồi tràng (THHT)?

Kết quả Thí nghiệm 5 chỉ ra rằng vi sinh vật ở manh tràng đã lên men tiêu hóa chất xơ và phân giải acid amin, làm tỷ lệ tiêu hóa CF, NDF, ADF và 9 acid amin ở phương pháp THTP cao hơn thực tế so với THCMT (P<0,05). Trong khi đó, tỷ lệ tiêu hóa hầu hết các acid amin của phương pháp THCMT tương đương với phương pháp THHT (P>0,05). Do đó, phương pháp THCMT phản ánh chính xác khả năng tiêu hóa acid amin như phương pháp thu dịch hồi tràng nhưng cho phép thu mẫu nhiều lần mà không cần giết mổ động vật thí nghiệm.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Đông Hải đã xác định có hệ thống các chỉ tiêu dinh dưỡng và giá trị tiêu hóa thức ăn ở gà Sao giai đoạn 5-14 tuần tuổi tại Đồng bằng sông Cửu Long. Công trình khẳng định khả năng thay thế khô dầu đậu nành bằng đậu nành hạt, chứng minh ưu thế tiêu hóa của bột cá biển so với bột cá tra, và xác lập định mức tối ưu về năng lượng trao đổi (3.100 - 3.200 kcal ME/kg DM). Luận án cũng hoàn thiện giải pháp hạ thấp protein thô (17% và 15%) kết hợp cân đối lysine (1,40% và 1,20%) và methionine (0,55% và 0,50%), đồng thời chứng minh phương pháp cắt bỏ manh tràng có độ tin cậy tương đương phương pháp tiêu hóa hồi tràng trong đánh giá acid amin ở gà Sao.