ĐẶT VẤN ĐỀ Cây lúa là loại lương thực chính đóng một vai trò quan trọng trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần của người Việt Nam. Nước ta từ một nước đói nghèo giờ đã đứng thứ ba trên thế giới về nông nghiệp trồng lúa nước. Năm 2017, Việt Nam tiếp tục là nước xuất khẩu gạo đứng thứ ba trên thế giới sau Ấn Độ và Thái Lan. Chỉ tính riêng tháng 9 đầu năm 2018, Việt Nam đã xuất khẩu trên 4,89 triệu tấn gạo với giá trị khoảng 2,46 tỷ USD, lần lượt tăng 6,7% về khối lượng và 21,3% về giá trị so với cùng kì năm trước.
Theo Cục Chế biến và phát triển thị trường nông sản (Bộ NN & PTNT), khối lượng xuất khẩu gạo tháng 8/2018 ước đạt 441.000 tấn với giá trị đạt 209 triệu USD. Tính chung 8 tháng, xuất khẩu gạo ước đạt 4,4 triệu tấn và đạt kim ngạch 2,2 tỉ USD tăng 6,8% về khối lượng và tăng 22,1% về giá trị so với cùng kì năm 2017. Việc sản xuất lúa gạo phát triển nhưng sâu bệnh hại vẫn là mối lo ngại khó kiểm soát đối với nông dân, đặt biệt là bệnh đạo ôn do nấm Pyricuaria oryzae Cav. gây hại bất kỳ giai đoạn nào của cây.
Cây lúa khi bị đạo ôn lá bị lụi dần, cháy khô, trỗ kém, bông gãy hay bông bạc làm giảm năng suất có khi không cho thu hoạch. Để có cơ sở cho công tác phòng chống bệnh đạo ôn đạt kết quả tốt, ngoài việc điều tra nắm tình hình phát sinh, phát triển của bệnh trên đồng ruộng, thì việc xác định các chủng sinh lý (race) của nấm Pyricularia oryzae Cav, gây bệnh đạo ôn trên lúa và khảo sát hiệu lực phòng trừ bệnh bằng thuốc hoá học cũng là một việc hết sức quan trọng. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn nêu trên. Được sự phân công của bộ môn Bệnh cây, khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam và sự hướng dẫn của TS, Nguyễn Đức Huy, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm chính của một số mẫu phân lập nấm Pyricularia oryzae gây bệnh đạo ôn”.
MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU 1. Mục đích Nhằm nắm được tình hình bệnh bệnh đạo ôn lúa, đặc điểm chính của một số mẫu phân lập nấm Pyricularia oryzae gây bệnh đạo ôn hại lúa và phòng trừ bệnh. Yêu cầu - Thu thập thông tin và diều tra về tình hình bệnh đạo ôn hại lúa - Mô tả triệu chứng bệnh đạo ôn. - Điều tra tình hình bệnh đạo ôn trên lúa.
- Nghiên cứu một số đặc điểm nuôi cấy nấm P. oryzae, - Xác định mức đô ̣ kháng, nhiễm của mô ̣t số dòng, giố ng lúa đố i với nhữ ng chủng sinh lý nấ m P. oryzae đã phân lâ ̣p. - Khảo sát hiệu lực của thuốc hóa học đối với nấm P.
oryzae ở trong phòng thí nghiệm và đối với bệnh đạo ôn trên lúa trong nhà lưới. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC. Lịch sử phát hiện bệnh 2.
Mức độ phổ biến của bệnh trên thế giới 2. Những thiệt hại do bệnh đạo ôn lúa gây ra Bệnh đạo ôn được coi là một trong những bệnh chính gây hại nghiêm trọng trên cây lúa, bệnh phân bố hầu hết ở các nước trồng lúa và có thể gây thành dịch trong những điều kiện thuận lợi ở nhiều quốc gia. Mức độ thiệt hại năng suất lúa do bệnh đạo ôn gây ra đã có nhiều thống kê, ước tính Hàng năm người ta đều có những ghi nhận về thiệt hại đáng kể do đạo ôn gây ra ở nhiều địa phương, mặc dù đã sử dụng rộng rãi thuốc hóa học Tại Ấn Độ, năm 1950 sản lượng bị thiệt hai lên tới 75%. Ở Philippin đã có vài nghìn ca ha bị hại vì bệnh đạo ôn và sản lượng ước tính thất thu khoảng 50%.
Ở Nhật Bản từ 1953-1960, hàng năm thiệt hại bình quân 2,89% tổng sản lượng lúa, mặc dù đã có nỗ lực sử dụng thuốc hóa học phun phòng trị bệnh [58]. Năm 1988 dịch bệnh đạo ôn gây thiệt hại nặng ở vùng Duyên hải phía bắc Nhật Bản, tổng sản lượng bị thiệt hại của quận Fukushima là 24%, có những nơi thiệt hại lên tới 90% (Kato, 1974). Cho tới nay mức độ thiệt hại do bệnh đạo ôn gây ra vẫn chưa thống kê một cách chính xác. Đây là một vấn đề phức tạp phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau như giống lúa, biện pháp phòng trừ, điều kiện vùng sinh thái.
Triệu chứng bệnh Theo Pure Skin V. (1974), triệu chứng bệnh được chia làm ba dạng là đạo ôn lá, đạo ôn đốt thân và đạo ôn cổ bông. M, Vergel de Dios, TI,. (1986) căn cứ vào tính chất 3 và vị trí bộ phận bị nhiễm chia bệnh làm 4 dạng là đạo ôn lá, đạo ôn cổ lá, đạo ôn đốt thân và đạo ôn cổ bông.
Đạo ôn lá Vết bệnh trên mạ: Vết bệnh trên lá mạ lúc đầu hình bầu dục nhỏ sau tạo thành hình thoi hoặc dạng tương tự hình thoi, màu nâu hồng hoặc nâu vàng. Khi bệnh nặng từng đám vết bệnh kế tiếp nhau làm cây mạ có thể héo khô hoặc chết (Vũ Triệu Mân & Lê Lương Tề, 2001). Vết bệnh ban đầu trên phiến lá lúa là những chấm nhỏ màu hơi vàng, về sau phát triển thành dạng hình thoi điển hình, ở giữa màu xám tro, xung quanh viền nâu và quầng vàng. Trong điều kiện ẩm ướt, dinh dưỡng đạm quá nhiều, ở các giống nhiễm xuất hiện vết bệnh cấp tính hình tròn hay hình bầu dục, nâu xanh tái, dạng thấm nước, về sau cũng chuyển thành dạng mãn tính điển hình.
Kích thước vết bệnh 0,2 – 0,4 x 0,5 - 25 mm. Nhiều vết bệnh liên kết với nhau làm lá khô lụi ( OU, 1985) 2. Đạo ôn cổ lá Vết bệnh hình khum theo chiều cong giữa cổ lá và phiến lá. Từ cổ lá, bệnh lan ra bẹ lá và phiến lá làm lá lúa khô lụi gãy gục.
Đạo ôn đốt thân Lúc đầu là một đốm nhỏ màu nâu đen về sau lớn rộng ra thành một vành tròn bao quanh đốt thân làm cho thân thắt lại, màu nâu đen. Khi trời mưa ẩm đốt thân mềm nhũn dễ bị gãy gập khi gặp mưa giông, gió [45]. Trên đồng ruộng, bệnh trên đốt thân có xuất hiện nhưng không nhiều. Đạo ôn cổ bông Cổ gié và các vị trí khác nhau của bông lúa đều có thể bị bệnh.
Cổ bông bị bệnh với triệu chứng các vết mầu nâu xám hơi teo thắt lại. Vết bệnh trên cổ bông xuất hiện sớm thì bông lúa bị lép, bạc lá, nếu bệnh xuất hiện muộn khi hạt đã vào chắc thì gây hiện tượng gãy cổ bông. 4 Bệnh nặng bông lúa có thể khô trắng. Trong điều kiện ẩm ướt trên bề mặt vết bệnh có thể có lớp mốc màu xám xanh.
Vết bệnh trên hạt không đồng nhất về hình dạng như trên lá lúa mà có dạng đốm tròn hoặc không định hình, màu nâu đen hoặc xám. Nếu bị bệnh sớm, hạt lúa có thể bị lép hoàn toàn. Nấm ký sinh ở vỏ trấu và có thể ở bên trong hạt. Vì vậy hạt giống bị nhiễm bệnh chính là nguồn bệnh truyền từ vụ này qua vụ khác (Vũ Triệu Mân & Lê Lương Tề, 2001).
Nguyên nhân gây bệnh đạo ôn. Bệnh đạo ôn còn gọi là bệnh cháy lá lúa do nấm Pyricularia grisea Sacc (P.Oryzae cavara) gây ra. Theo viện nấm Commowealth (1981) bênh này có ở 87 nước trồng lúa trên thế giới. Bệnh đạo ôn do nấm Pyricularia oryzae Cav.
gây ra có lịch sử nghiên cứu lâu đời nhất trong các bệnh hại lúa. Từ nhiều thế kỷ trước bệnh đã được quan sát thấy ở các nước châu Á như Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc, các nước vùng Trung Á, Tây Á; ở Bắc Mỹ, Nam Mỹ, quần đảo Antin, ở châu Âu: Ý, Bungari, Rummani, Bồ Đào Nha, Liên Xô,. Đến những năm 1560 bệnh đã được phát hiện chính thức ở Ý (Lê Lương Tề, 1988). Sau đó bệnh được phát hiện ở Trung Quốc năm 1637, Nhật Bản năm 1760, Mỹ năm 1906, Ấn Độ năm 1913 (Vũ Triệu Mân & Lê Lương Tề, 2001).
Cho đến nay bệnh đạo ôn đã được ghi nhận có mặt và gây hại ở trên 85 quốc gia trên thế giới bao gồm Châu Á, Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Phi. Nấm đạo ôn được gọi bằng một số tên gọi khác nhau. Do nấm chỉ tồn tại dạng phát triển không hoàn toàn trong điều kiện tự nhiên nên được Saccardo đặt tên đầu tiên năm 1880 là Pyricularia grisea. Năm 1891 Cavara mô tả Pyricularia trên cây lúa và đặt tên khác là Pyricularia oryzae Cavara, cho rằng nấm P.
oryzae phân biệt với P. grisea mà Saccardo mô tả. Tuy nhiên về sau nhiều nhà khoa học nhận thấy hai loại nấm trên không khác biệt với nhau (OU, 1985). Theo Rossman, Howard & Valent, B (1990) thì Hebert năm 1971 phát hiện dạng phát triển hoàn toàn của nấm và Barr năm 1977 đã đặt tên nấm là Magnaporthe grisea (Rossman, 5 A.
Cho đến nay mặc dù tranh luận về tên gọi chính thức nấm đạo ôn chưa kết thúc nhưng P. grisea là tên đặt trước tiên nên Ban lãnh đạo quốc tế về định tên thực vật đã dùng nó (Leung, H. Hình thái nấm Theo Pidoplichko, N. Giai đoạn hữu tính Magnaportha thuộc lớp nấm túi.
Cành bào tử phân sinh hình trụ, đa bào không phân nhánh, đầu thon và hơi gấp khúc. Nấm thường sinh ra cụm 3-5 chiếc. Bào tử phân sinh hình quả lê hoặc hình nụ sen, thường có từ 2-3 vách ngang, bào tử không màu, kích thước của bào tử nấm biến động tùy thuộc loại isolate, điều kiện ngoại cảnh khác nhau cũng nh Cơ quan sinh trưởng của nấm là sợi nấm. Sợi nấm không màu đa bào, phân nhiều nhánh, sống ký sinh trong mô thực vật.
Nấm có thể hình thành “bào tử hậu” nhưng ít gặp trong điều kiện thông thường. Ở điều kiện khô (kho bảo quản) bào tử hậu có thể giữ sức nẩy mầm trong 2 năm. Trong quá trình sinh sản vô tính nấm hình thành các cành bào tử phân sinh và bào tử phân sinh. Đây chính là lớp mốc mịn màu xám trên bề mặt vết bệnh ở lá, cổ bông và đốt thân.
Cành bào tử phân sinh có hình trụ thon dài, cong có thể đa bào song phần lớn là đơn bào, không đâm nhánh, phía trên cành sinh ra bào tử phân sinh theo từng đợt. Một cành bào tử có thể sinh ra từ 3 đến 10 bào tử phân sinh, khi thành thục bào tử tách ra để lại vết hằn trên cành. Cành bào tử mọc ra đơn lẻ hoặc thành cụm nhỏ chui qua lỗ khí trên lá, lộ thiên ngoài, để bào tử dễ dàng phát tán đi xa (Ngô Chí Thành & cs, 2003).