ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay, đã phát hiện trên 2.000 loài nấm, trong đó có khoảng 80 loài có thể ăn được và nuôi trồng thành công như nấm Mỡ, nấm Bào ngư, nấm Rơm, nấm Mộc nhĩ, nấm Kim châm, nấm Đùi gà,. và nấm sử dụng trong lĩnh vực dược liệu như nấm Linh chi, nấm Phục linh, nấm Vân chi, nấm Đầu khỉ,. Có trên 100 quốc gia/ vùng lãnh thổ trồng nấm, sản lượng nấm thế giới đạt khoảng 25 triệu tấn/ năm, tốc độ tăng trưởng bình quân 7%- 10%/ năm. Trung Quốc chiếm 53,79% tổng sản lượng của thế giới, Hoa Kỳ chiếm 7,61%, Nhật Bản chiếm 7,34% (Công Phiên, 2012).
Nấm ăn là một loại thực phẩm quý có giá trị dinh dưỡng cao. Hàm lượng protein (đạm thực vật) chỉ sau thịt, cá, rất giàu chất khoáng và acid amin không thay thế, các vitamin A, B, C, D, E,… không có các độc tố. Có thể coi nấm ăn như một loại “Rau sạch” và “Thịt sạch”. Ngoài giá trị dinh dưỡng, nấm ăn còn có nhiều đặc tính của biệt dược, có khả năng phòng và chữa bệnh như: làm hạ huyết áp, chống bệnh béo phì, chữa bệnh đường ruột, tẩy máu xấu.
Nhiều công trình nghiên cứu về y học xem nấm như là một loại thuốc có khả năng phòng chống bệnh ung thư (Nguyễn Hữu Đống và cs, 2000). Hiện nay, số người mắc bệnh ung thư ngày càng tăng, số người chết vì ung thư không giảm. Ung thư đang gây ra nỗi lo sợ cho toàn xã hội. Trong khi đó, nấm Vân Chi Trametes sp.
được biết đến là một trong các loài nấm có giá trị dược liệu tốt, đã và đang được sử dụng rộng rãi ở các nước như: Trung Quốc, Nhật Bản, các nước châu Âu, châu Mỹ Trong nấm Vân chi Trametes sp. có chứ các hợp chất polysaccharid liên kết với protein, gồm hai loại chính: PSP (Polysaccharid peptide) và PSK (Polysaccharid krestin). PSP và PSK có tác dụng ức chế nhiều loại tế bào ung thư như các tế bào biểu mô (Carcinoma), các tế bào ung thư máu (Leukemia). Các loại hợp chất này được coi là có khả năng chữa trị ung thư, tăng miễn dịch cơ thể, chống các phản ứng phụ của xạ trị và hóa trị, ức chế sự nhân lên của HIV (Nguyễn Thị Bích Thùy, 2014).
Tuy nhiên nguồn nấm dược liệu quý còn nhiều nhưng chưa được nghiên cứu và nuôi trồng rộng rãi. An Giang là một tỉnh có điều kiện thuận lợi để trồng nấm, nấm Vân chi lại xuất hiện nhiều ở các vùng núi An Giang, nên việc nghiên cứu và nuôi trồng nấm Vân chi thành công sẽ có ứng dụng rất lớn. Ngoài ra trong nghiên cứu cho thấy nấm Vân chi có nhiều hợp chất kháng ung thư hiệu quả. 1 Xuất phát từ các lý do trên nên đề tài “Xác định môi trường thích hợp nuôi cấy nấm Vân chi đỏ hoang dại được thu thập tại An Giang” được thực hiện.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Xác định được môi trường thích hợp nuôi cấy nấm Vân chi đỏ trong điều kiện phòng thí nghiệm.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Khảo sát môi trường phân lập nấm Vân chi đỏ.
Khảo sát môi trường cấy truyền dạng hạt. Khảo sát môi trường phù hợp để nuôi trồng nấm.4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Nấm Vân chi đỏ hoang dại được thu thập ở An Giang. 2 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 KHÁI QUÁT NẤM DƯỢC LIỆU Trên thế giới có khoảng 250.000 loài nấm, trong đó gần 300 chủng nấm có giá trị dược liệu, nhưng hiện nay con người thực sự dùng làm thuốc chỉ 20- 30 chủng nấm. Nấm được sử dụng làm theo phong tục dân gian và các bài thuốc Đông y.
Trung Quốc là nước dùng nấm làm thuốc nhiều nhất và gồm nhiều loại nấm như: Linh chi, Phục linh, Trư linh, Lôi hoàn, Mã bột, Đông trùng Hạ thảo,. Ngoài ra với hướng nghiên cứu dinh dưỡng trị liệu để phòng và điều trị bệnh thì đa số các loài nấm ăn khác đều ít nhiều mang lại tác dụng dược liệu của nấm (Đinh Xuân Linh và cs, 2008). Ung thư là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn thế giới. Các loại thuốc chống ung thư hiện có trên thị trường không nhắm mục tiêu cụ thể và gây ra nhiều tác dụng phụ và biến chứng trong điều trị lâm sàng của các dạng ung thư khác nhau, do đó phương pháp điều trị mới hiệu quả và ít độc hại là vô cùng cấp thiết.
Hiện nay, một số nấm được đánh giá cao và rất được quan tâm do có đặc tính chống ung thư và có các hợp chất hoạt động. Nhiều thử nghiệm lâm sàng đã được tiến hành để đánh giá lợi ích của việc sử dụng các chế phẩm thương mại có chứa chiết xuất nấm dược liệu trong điều trị ung thư choc ho thấy tiềm năng của của nấm trong việc hỗ trợ điều trị ung thư. Nấm được dùng để hỗ trợ hóa trị và xạ trị do giảm các tác dụng phụ của bệnh ung thư, chẳng hạn như buồn nôn, ức chế tủy xương, thiếu máu và giảm sức đề kháng (Nguyễn Thị Liên Thương và cs, 2018).2 GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA NẤM Nấm ăn có chứa khá nhiều đại tố nguyên tố (K, Na, Ca, Fe, Al, Mg, Cu, Zn, S, Cl, P, Si,. Chất lượng trong nấm thường vào khoảng 7% tính theo nấm khô.
Người ta nhận thấy các nấm mọc trên đất thường có chất lượng cao hơn các nấm mọc trên gỗ. Một số nấm ăn có chất lượng không cao, chẳng hạn như nấm Coprinus atramentarius (16,8- 20,1%), nấm Termimomyces albuminosis (25- 27%). Trong chất lượng của nấm, tiền tố K thường cao nhất (khoảng 50% trọng lượng chất lượng), tiếp theo là P, rồi đến Mn, Fe, S, Si, Na, Ca,. Đặc biệt trong nấm có sự hiện diện gần như đủ các loại acid amin, trong đó có 8 acid amin cần thiết cho người.
Nấm giàu leucin và lysin là hai loại acid amin ít có trong ngũ cốc (Lê Duy Thắng, 2006). Tương tự như hầu hết các loại rau cải, nấm là nguồn sử dụng rất tốt. Nấm rơm được ghi nhận là giàu K, Na, Ca, P và Mg, chúng chiếm khoảng 56- 70% 3 lượng tro tổng cộng (Lê Duy Thắng, 2006). Nhiều loài nấm ăn có chức năng chữa bệnh như: nấm Mèo, nấm Đông cô, nấm Bào ngư,… Nấm Mèo được người Trung Hoa sử dụng như một vị thuốc có chức năng giải độc chữa táo bón và rong huyết.
Nấm Đông cô ngoài việc bồi bổ cơ thể, tăng cường sức lực, còn làm giảm cholesterol trong máu, nhất là chất leutinan, một chất có tác dụng chống ung thư. Nấm Bào ngư chứa nhiều acid folic hơn cả rau và thịt, nên có thể dùng để chữa trị bệnh thiếu máu. Riêng hàm lượng chất béo (lipid) và tinh bột thấp, phù hợp cho những người tiểu đường và cao huyết áp (Lê Duy Thắng, 2006). Bảng 1: Hàm lượng vitamin và chất khoáng Nấm Acid Ribof- Thia- Acid Iron Canxi Phos- nicotinic lavin min ascobic pho Trứng 0,1 0,31 0,4 0 2,5 50 210 Nấm mỡ 42,5 3,7 8,9 26,5 8,8 71 912 Nấm 54,9 4,9 7,8 0 4,5 12 171 hương Nấm sò 108,7 4,7 4,8 0 15,2 33 1348 Nấm rơm 91,9 3,3 1,2 20,2 17,2 71 677 Đơn vị tính: mg/100g chất khô.
(Nguyễn Hữu Đống và cs, 2000) 4 Bảng 2: Thành phần acid amin (amino acid) Nấm Lizin Hist- Argin- Theo- Valin Meth- Isoeu- Lơxin idin in min ionin lơxin Trứng 913 295 790 616 859 406 703 1.193 Nấm 527 179 446 366 420 126 366 580 mỡ Nấm 174 87 348 261 261 87 218 348 hương Nấm 321 87 306 264 391 90 2.666 390 sò Nấm 384 187 366 375 607 80 491 312 rơm Đơn vị tính: mg/ 100g chất khô.3 KHÁI QUÁT NẤM VÂN CHI (Nguyễn Hữu Đống và cs, 2000) 2.1 Nguồn gốc, phân loại Nấm Vân chi Trametes sp. là một loài nấm dược liệu được sử dụng ở nhiều nước châu Á và là loài sinh trưởng khắp nơi trên thế giới. Ở Việt Nam, nấm Vân chi sinh trưởng nhiều ở các tỉnh miền Bắc và miền Nam (Trịnh Tam Kiệt, 2011). Nấm Vân chi thuộc chi Trametes, trong y học Trung Quốc nó được gọi là Yunshi và tên tiếng Nhật là Kawaratake.
Tên dân gian còn gọi là nấm Đuôi gà tây (Turkey Tail mushroom) bởi vì hình thái của nấm này nhìn giống như đuôi của con gà tây (Trịnh Tam Kiệt, 2011). Phân loại (Trịnh Tam Kiệt, 2011): Giới: Fungi Ngành: Basidomyceta Lớp: Agaricomycetes Bộ: Polyporaceae Chi: Trametes 5 2.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo Hình 1: Nấm Vân chi đỏ ( Trần Ngọc Diệu Linh, 2021) Vân chi là là loại nấm hằng năm, không cuốn, phát triển một bên. Khi non, quả thể có dạng nhiều u lồi tròn, mọc thành dạng vành với mép tán màu trắng hay trắng kem. Nấm trưởng thành có dạng quả, chất da hóa gỗ.
Quả thể hình nan quạt có nhiều vấn đồng tâm, chồng chất xen kẽ nhau như lợp ngói, nhìn rất giống đuôi gà tây đang xòe. Mũ nấm mỏng, phẳng hoặc hơi quăn hình bán nguyệt, mọc thành cụm đường kính từ 1- 8 cm, dày khoảng 0,1- 0,3 cm. Mặt trên tại nấm có lớp lông mịn, mềm như nhung, có màu sắc rất khác nhau từ đen, nâu, xám, xanh đến đỏ, trắng hay vàng nhạt. Nấm có nhiều màu sắc như đuôi gà tây.
Quả thể có dạng hình quạt mọc phủ từng lớp trên thân cây mục. Mặt nấm trên cùng thường có những màu nâu, trắng, xám hay xanh lam, mặt dưới trắng có mang những bào tử nhỏ. Màu sắc của nấm Vân chi phụ thuộc vào môi trường và hệ số di truyền. Mặt dưới tai nấm màu trắng, màu kem hay hơi xám có hàng ngàn ống nhỏ.
Tất cả các chủng Vân chi đều có các ống nhỏ mặt dưới, đây là đặc điểm phân biệt nấm Vân chi với nấm Stereum hissutum. Các ống này rất nhỏ, khoảng 4- 5 ống/ mm, có vách ngăn ngang dày. Miệng ống tròn hoặc hơi tròn. Các ống này giúp gia tăng diện tích mang bào tử.
Thịt nấm màu trắng hoặc trắng kem, gồm nhiều sợi dày 0,6- 2,5 mm (Nguyễn Lân Dũng và cs, 2006).3 Đặc điểm phân bố Nấm Vân chi là một loại nấm hiếu khí thường được tìm thấy quanh năm trên các khúc gỗ, gốc cây, thân cây và cành cây (Gerhardt, 2000). Nấm xảy ra ở khắp các vùng ôn đới rừng Châu Âu, Châu Á và vùng Bắc Mỹ. Nó được cho là loại nấm sợi phổ biến nhất ở bán cầu Bắc (Gerhardt, 2000). 6 Ở Việt Nam, nấm Vân chi thường dễ tìm thấy nhất vào mùa mưa.
Chu trình sống nấm Vân chi Đảm bào tử nảy mầm cho sợi sơ cấp. Hai sợi sơ cấp khác nhau kết hợp cho sợi thứ cấp. Sợi thứ cấp phát triển thành mạng sợi. Trong điều kiện thuận lợi mạng sợi sẽ kết hạch tạo tiền quả thể (nụ nấm).